TIỂU LUẬN
Đề tài: Quan điểm của Hồ Chí Minh về cấu nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ
quá độ lên CNXH sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế
hiện nay
MỞ BÀI
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh người sáng lập lãnh đạo Đảng Cộng
sản Việt Nam, đồng thời người đặt nền móng cho hệ thống tưởng cách mạng Việt Nam
trong thế kỷ XX. Một trong những nội dung cốt lõi trong tưởng kinh tế của Người quan
điểm về cấu nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội. Đây
Lênin vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam, một đất nước thuộc địa nửa phong kiến, lạc
hậu, vừa giành được độc lập dân tộc sau hàng chục năm chiến tranh.
Việc nghiên cứu tưởng Hồ Chí Minh về cấu kinh tế nhiều thành phần ý nghĩa
luận thực tiễn sâu sắc. Về mặt luận, khẳng định sự đúng đắn của học thuyết Mác
Lênin khi cho rằng trong thời kỳ quá độ, tất yếu tồn tại nhiều hình thức sở hữu nhiều
thành phần kinh tế đan xen. Về mặt thực tiễn, cho thấy tính mềm dẻo, linh hoạt sáng
tạo của Hồ Chí Minh khi vận dụng vào điều kiện Việt Nam, góp phần quan trọng đưa nền
kinh tế vượt qua khủng hoảng, khắc phục hậu quả chiến tranh, từng bước đi lên con đường
hội chủ nghĩa.
Trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam tiếp tục xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
hội chủ nghĩa, việc nhìn lại phân tích quan điểm này càng ý nghĩa. không chỉ
giúp nhận diện sở luận, thực tiễn còn chỉ ra sự kế thừa, phát triển trong đường
lối kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội VI (1986) đến nay.
Chính vậy, bài tiểu luận này tập trung vào hai nội dung chính:
(1) Tìm hiểu phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về cấu nền kinh tế nhiều thành
phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
(2) Phân tích sự vận dụng quan điểm trên của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc
xây dựng nền kinh tế hiện nay.
2. SỞ HÌNH THÀNH ỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
CẤU KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN
2.1. sở luận
sở luận của tưởng Hồ Chí Minh về cấu kinh tế nhiều thành phần trước hết bắt
nguồn từ học thuyết Mác Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội. Trên lập trường
duy vật lịch sử, thời kỳ quá độ được hiểu một giai đoạn lịch sử tính trung gian, trong đó
quan hệ sản xuất mới chưa thể thiết lập trọn vẹn ngay lập tức, còn quan hệ sản xuất
chưa bị thủ tiêu hoàn toàn; thế các hình thức sở hữu loại hình kinh tế khác nhau cùng
tồn tại vận động trong một chỉnh thể thống nhất chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân
nhà nước của nhân dân lao động. duy đó được Lênin hiện thực hóa trong Chính sách
kinh tế mới, với việc thừa nhận các nấc thang phát triển những hình thái kinh tế xen cài,
coi việc sử dụng những hình thức trung gian như bản nhà nước cầu nối để phát triển
lực lượng sản xuất tạo dựng nền tảng vật chất kỹ thuật cho chế độ mới. Các tổng thuật
luận trong giáo trình tài liệu học thuật bằng tiếng Việt đều nhấn mạnh tính quy luật của
trạng thái nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, cũng như sự cần thiết phải tổ chức chúng
theo định hướng hội chủ nghĩa thay xóa bỏ bằng mệnh lệnh duy ý chí.
Hồ Chí Minh tiếp thu tinh thần đó diễn đạt thành một khung tưởng gần gũi với thực
tiễn Việt Nam. Trong tác phẩm Thường thức chính trị, Người xác định các thành phần
kinh tế đang đồng thời tồn tại nước ta, nêu lên thuộc tính vai trò của từng thành phần
trong một nền kinh tế còn trình độ sản xuất nhỏ, đồng thời chỉ ra cách thức nhà nước dân
chủ nhân dân quản lý, định hướng cải tạo chúng. Việc xác định cấu trúc nhiều thành
phần không nhằm đối lập cứng nhắc giữa mới, nhằm thiết kế chính sách phù hợp
với động khả năng của từng thành phần, từ đó huy động toàn bộ nguồn lực hội
phục vụ mục tiêu phát triển. Những hệ thống hóa hiện nay về tưởng kinh tế của Hồ Chí
Minh đều ghi nhận điểm xuất phát luận này như nội dung nền tảng để nhận diện hình
quá độ Việt Nam.
Một nội dung mang tính nguyên Hồ Chí Minh phát triển cách nhìn biện chứng đối
với sở hữu thành phần kinh tế. Từ thực tiễn Việt Nam, Người khái quát các hình thức sở
hữu bản gồm sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện; sở hữu tập thể dưới dạng hợp tác
xã; sở hữu của người lao động riêng lẻ; sở hữu liệu sản xuất của nhà bản. Từ kết
cấu sở hữu đó tất yếu sinh ra các thành phần kinh tế tương ứng, cho nên nền kinh tế nhiều
thành phần trong thời kỳ quá độ khách quan, chứ không phải sự sắp đặt tình thế. Tài liệu
học thuật trong nước đã dẫn lại phân tích chuỗi lập luận này, làm logic từ cấu trúc sở
thành phần đó.
Tính chất nhiều thành phần được Hồ Chí Minh tả cụ thể bằng một bản đồ thành phần
với sáu bộ phận chủ yếu vùng tự do thời kháng chiến chống Pháp: kinh tế địa chủ phong
kiến bóc lột địa tô; kinh tế quốc doanh với tính chất hội chủ nghĩa; các hợp tác tiêu thụ
cung cấp mang tính nửa hội chủ nghĩa; kinh tế thể của nông dân thợ thủ công;
kinh tế bản nhân; kinh tế bản nhà nước khi nhà nước cùng hùn vốn lãnh đạo.
Bản đồ này vừa tả thực trạng, vừa sở để xác lập chính sách khác biệt theo bản
chất, xu hướng ích lợi của từng thành phần đối với nền kinh tế quốc dân. Những liệu
chính thống hiện nay đã trích dẫn nguyên văn phân loại sáu thành phần nói trên, qua đó cho
thấy độ chính xác tính hệ thống của tưởng về cấu trúc nhiều thành phần trong thời kỳ
quá độ.
Từ nhận diện cấu trúc, Hồ Chí Minh đề xuất một hệ các nguyên tắc điều tiết nhằm bảo đảm
các thành phần vận hành trong một quỹ đạo chung. Bốn nguyên tắc được Người khẳng định
gồm công đều lợi, chủ thợ đều lợi, công nông giúp nhau lưu thông trong ngoài.
Công đều lợi nhấn mạnh vị trí nền tảng của khu vực quốc doanh đồng thời khẳng định
không gian phát triển hợp pháp của kinh tế nhân trong khuôn khổ phục tùng lợi ích đại đa
số. Chủ thợ đều lợi đặt yêu cầu kết hợp giữa bảo vệ quyền lợi của người lao động với
bảo đảm tỷ suất lợi nhuận hợp cho nhà bản dân tộc để duy trì động lực đầu tư. Công
nông giúp nhau xác lập liên minh giữa công nghiệp nông nghiệp về cả kinh tế lẫn hội.
Lưu thông trong ngoài khẳng định vai trò tất yếu của giao thương đối ngoại đối với kiến
thiết, miễn đặt dưới kế hoạch lợi ích quốc gia. Các văn bản chính thống bài tổng
thuật đều ghi nhận bốn nguyên tắc như mấu chốt chính sách để phát triển một nền kinh tế
nhiều thành phần theo định hướng hội chủ nghĩa.
Từ góc nhìn phương pháp, tưởng Hồ Chí Minh nhấn mạnh cách tiếp cận tuần tự, linh
hoạt dựa trên thực nghiệm. Mỗi bước đi cần gắn với điều kiện cụ thể của lực lượng sản
xuất, phải thí điểm, tổng kết, điều chỉnh, tránh khuynh hướng nóng vội duy ý chí
cũng như khuynh hướng thỏa hiệp với những lợi ích đi ngược mục tiêu của số đông. Cách
tiếp cận phương pháp luận này trực tiếp liên hệ với kinh nghiệm của chủ nghĩa Mác Lênin
khi xử mối quan hệ giữa mục tiêu hội chủ nghĩa phương thức thị trường. Nhờ đó,
hình nhiều thành phần không bị xem sự nhượng bộ tạm thời được nhìn nhận như
công cụ tổ chức hiệu quả nguồn lực trong giai đoạn tích lũy chuẩn bị điều kiện vật chất
kỹ thuật cho những bước cải biến sâu hơn về quan hệ sản xuất. Các bài viết nghiên cứu
chính thống cũng đặt nhấn mạnh điểm này khi diễn giải ý nghĩa hiện thời của tưởng Hồ
Chí Minh đối với quản trị phát triển.
Một điểm gắn kết giữa luận chính sách mối quan hệ giữa thị trường định hướng
hội chủ nghĩa. Trong khung tưởng của Hồ Chí Minh, thị trường không bị đồng nhất với
một chế độ hội nhất định được nhìn như chế phân bổ nguồn lực thể cần
phải được sử dụng, miễn mục tiêu phương thức điều tiết bảo đảm lợi ích của đại đa số
nhân dân. Từ sau Đổi mới, nhận thức này được Đảng Cộng sản Việt Nam khái quát thành
hình kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa, vừa tôn trọng các quy luật thị
trường, vừa khẳng định vai trò định hướng của nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa,
chế phân phối gắn với công bằng tiến bộ, cùng với việc phát triển đồng bộ các loại thị
trường hoàn thiện khung pháp luật. Các tổng kết luận gần đây đã coi đây sự phát
triển sáng tạo từ nền tảng tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp quy luật thời kỳ quá độ trong điều
kiện hội nhập quốc tế sâu rộng.
luận của Hồ Chí Minh về kinh tế nhiều thành phần còn đề cao vai trò của lưu thông
phân phối trong chỉnh thể nền kinh tế quốc dân. Người chỉ nông nghiệp, công nghiệp
thương nghiệp liên hệ mật thiết, trong đó thương nghiệp khâu trung gian gắn kết nông
nghiệp với công nghiệp. Quan điểm này dẫn tới hệ quả chính sách rằng phải tổ chức lại lưu
thông phân phối để giảm chi phí giao dịch, mở rộng thị trường nâng hiệu quả chung,
đồng thời bảo đảm công bằng hội trong tiếp cận hàng hóa, dịch vụ. Những khảo cứu gần
đây của Tạp chí Cộng sản đã hệ thống hóa chứng minh tính thời sự của kết luận đó, nhất
khi nền kinh tế vận hành theo chế thị trường hội nhập trình độ cao.
Từ nền tảng luận ấy, Hồ Chí Minh xác lập một trật tự ưu tiên về công cụ chính sách.
Với khu vực quốc doanh, trọng tâm quản trị theo chuẩn mực hiện đại, kỷ luật tài chính
trách nhiệm giải trình đi đôi với việc lựa chọn lĩnh vực then chốt liên quan lợi ích công cộng.
Với hợp tác xã, trọng tâm nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng hiệu quả dịch vụ
cho thành viên, xem đó hình thức trung gian thích hợp để nâng hiệu quả của sản xuất
nhỏ, nhất trong nông nghiệp. Với khu vực thể, trọng tâm bảo hộ quyền sở hữu,
hướng dẫn cải tiến kỹ thuật, hỗ trợ tham gia hợp tác khi đủ điều kiện. Với khu vực bản
nhân, trọng tâm khuyến khích hoạt động quốc kế dân sinh trong khuôn khổ kế hoạch
pháp luật, đồng thời đặt các ràng buộc về lao động môi trường để bảo vệ lợi ích số
đông. Với bản nhà nước, trọng tâm chuẩn hóa hợp đồng công tư, phân bổ rủi ro hợp
giữ quyền lãnh đạo của nhà nước trong các lĩnh vực chiến lược. Các đoạn trích tổng
thuật chính thống về Thường thức chính trị đã ghi nhận hệ thống định hướng như vậy một
cách nhất quán.
Cùng với cấu trúc nguyên tắc, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến chuẩn mực tổ chức thực
hiện. Trong nhiều chỉ dẫn, Người yêu cầu kết hợp cải tạo với xây dựng, trong đó xây dựng
chủ yếu lâu dài; tạo điều kiện phát triển cho mọi thành phần kinh tế trong khuôn khổ lợi
ích chung; phát huy sức dân tài dân; nâng kỷ luật lao động liêm chính công vụ; ổn
định thị trường tiền tệ; coi trọng giáo dục, khoa học công nghệ như động lực phát triển
lực lượng sản xuất. Các nghiên cứu trong nước đã hệ thống hóa các chỉ dẫn này coi đó
phương pháp luận của thời kỳ quá độ, giúp chuyển hóa những nguyên về nhiều thành
phần thành các thiết kế chính sách thể kiểm chứng bằng hiệu quả thực tế.
sở luận còn thể hiện sự phân biệt rành mạch giữa thành quả dân chủ mục tiêu
hội chủ nghĩa. Những cải cách như người cày ruộng được nhìn nhận điều kiện lịch
sử tất yếu để giải phóng sức sản xuất tạo nền tảng hội cho bước đi tiếp theo, nhưng
không đồng nhất với chủ nghĩa hội về thực chất. Chủ nghĩa hội theo duy của Hồ
Chí Minh đòi hỏi sự thay đổi về quan hệ sở hữu tầm đi liền với quá trình phát triển
lực lượng sản xuất hiện đại nâng cao đời sống nhân dân. duy phân bậc này giúp
tránh được cả cực đoan phủ định thị trường lẫn cực đoan tôn thờ thị trường, bởi đặt
mọi phương thức tổ chức vào quỹ đạo mục tiêu lấy lợi ích của đa số nhân dân làm chuẩn
mực. Các chuyên luận tổng kết chính thống về nhận thức của Đảng sau gần bốn mươi
năm Đổi mới cũng duy trì cách phân định ấy khi khẳng định hình kinh tế thị trường định
hướng hội chủ nghĩa kết quả phát triển từ nền tảng tưởng của Người.
Tổng hợp lại, sở luận của tưởng Hồ Chí Minh về cấu kinh tế nhiều thành phần
một chỉnh thể cấu trúc gồm ba trụ cột. Thứ nhất, khung nhận thức về thời kỳ quá độ của
học thuyết Mác Lênin, nhấn mạnh tính khách quan của trạng thái nhiều hình thức sở hữu
nhiều thành phần kinh tế, cùng yêu cầu sử dụng những hình thức trung gian để phát triển
lực lượng sản xuất. Thứ hai, sự nội địa hóa sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam thông qua
nhận diện cụ thể sáu thành phần bốn nguyên tắc điều tiết, biến những nguyên trừu
tượng thành bản đồ chính sách thích ứng. Thứ ba, phương pháp tổ chức thực hiện theo
hướng tuần tự, linh hoạt, dựa trên tổng kết thực tiễn, lấy lợi ích của nhân dân làm chuẩn
kiểm nghiệm. Ba trụ cột này không chỉ giải thích sao nền kinh tế nhiều thành phần tất
yếu trong thời kỳ quá độ, còn cho biết phải vận hành như thế nào để không rơi khỏi
định hướng hội chủ nghĩa, đồng thời bảo đảm hiệu quả công bằng trong toàn bộ quá
trình phát triển.
2.2. sở thực tiễn
sở thực tiễn của tưởng Hồ Chí Minh về cấu kinh tế nhiều thành phần trước hết
xuất phát từ tình trạng lịch sử hội cụ thể của Việt Nam khi giành được độc lập. Đất
nước bước ra từ chế độ thuộc địa nửa phong kiến với một nền sản xuất lạc hậu, kết cấu hạ
tầng nghèo nàn đời sống nhân dân cùng khó khăn. Nền công nghiệp hiện đại hầu như
chưa hình thành theo đúng nghĩa; khu vực nông nghiệp dựa trên sản xuất nhỏ, công cụ thủ
công, ruộng đất phân tán; thương nghiệp chủ yếu do nhân nắm giữ dưới dạng buôn bán
nhỏ đại lý. Đời sống văn hóa giáo dục chịu hệ lụy của thời kỳ đô hộ kéo dài, tỷ lệ
chữ cao, sức khỏe cộng đồng suy kiệt. Ngay trong năm đầu của nền độc lập, nạn đói tình
trạng tài chính quốc gia trống rỗng đã đặt chính quyền cách mạng vào thử thách sinh tử.
Trong hoàn cảnh như vậy, bất kỳ chủ trương nào về xây dựng quan hệ sở hữu hình
kinh tế đều buộc phải dựa trên nguyên tắc “vừa xây, vừa chống”, vừa giữ vững chính quyền
nhân dân, vừa đảm bảo phục hồi sản xuất, ổn định hội nuôi dưỡng lực lượng cách
mạng.
Từ thực tiễn ấy, yêu cầu cấp bách đặt ra phải huy động tối đa mọi nguồn lực thể huy
động được cho sản xuất đời sống. bình diện tổ chức kinh tế, điều đó nghĩa thừa
nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu nhiều thành phần kinh tế trong một thời gian
lịch sử nhất định. Việc thừa nhận này không phải sự “nhượng bộ” về nguyên tắc,
kết quả của việc nhận diện đúng trình độ lực lượng sản xuất: trong một nền kinh tế sản xuất
nhỏ, nếu vội vàng áp đặt các hình tổ chức của hội tương lai sẽ chỉ dẫn đến đình trệ
khủng hoảng. Trái lại, cần tạo ra những “điểm tựa” trung gian để kích hoạt năng suất
ngay trong lòng hội cũ, từ hộ nông dân, thợ thủ công, thương nhân nhỏ, cho tới nhà
sản dân tộc; đồng thời mở rộng dần khu vực quốc doanh những vị trí then chốt. duy ấy
sở thực tiễn ràng Việt Nam, nơi cấu trúc hội rất đa dạng, với những lợi ích
tập quán kinh tế hội khác nhau cùng tồn tại sau khi ách thuộc địa bị lật đổ.
Yêu cầu “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” trong giai đoạn 1945–1954 càng củng cố tính tất
yếu của cấu nhiều thành phần. Nhiệm vụ quân sự hậu cần đòi hỏi phải duy trì một
nền sản xuất đủ sức tự cấp những nhu cầu thiết yếu, đồng thời xây dựng được các sở
công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp phục vụ kháng chiến đời sống dân sinh.
Nếu chỉ dựa vào khu vực quốc doanh còn non trẻ, nền kinh tế khó lòng đáp ứng được các
nhu cầu tức thời; nếu buông lỏng quản lý, để tự phát thị trường lấn át, lợi ích của số
đông sẽ bị tổn hại. Cách tiếp cận thực tiễn Hồ Chí Minh chủ trương huy động toàn bộ
lực lượng sản xuất sẵn có, gắn chúng vào những mục tiêu thống nhất, đồng thời thiết lập kỷ
luật quản để tránh rối loạn. Chính vậy, những nguyên tắc như công đều lợi, chủ
thợ đều lợi, công nông giúp nhau, lưu thông trong ngoài không chỉ khẩu hiệu chính trị
kết tinh của trải nghiệm quản trị trong một nền kinh tế chiến tranh.
Cấu trúc kinh tế nhiều thành phần trong thực tế kháng chiến được thể hiện trước hết nông
thôn. Nông nghiệp mặt trận hàng đầu của kinh tế kháng chiến, nơi hộ gia đình nông dân
đơn vị lao động bản. Để bảo đảm lương thực nguyên liệu, chính quyền cách mạng
phải thừa nhận bảo hộ sản xuất của kinh tế hộ, đồng thời thúc đẩy các hình thức hợp tác
giản đơn phù hợp với tập quán địa phương. Việc phát triển hợp tác tiêu thụ, cung cấp
tín dụng mức độ thích hợp đã giúp nông dân tiếp cận vật tư, bình ổn giá cả tiêu thụ sản
phẩm, hạn chế tình trạng bị ép giá bởi thương lái đầu mối. Thực tiễn ấy cho thấy không thể
bỏ qua sức mạnh của sản xuất nhỏ nếu muốn bảo đảm hậu cần cho kháng chiến đời
sống nhân dân, đồng thời hợp tác trở thành “nấc thang” tổ chức phù hợp để nâng cao
hiệu quả của sản xuất nhỏ trong thời kỳ quá độ.
khu vực đô thị những vùng giải phóng, thương nghiệp thủ công nghiệp nhân
vai trò điều hòa cung cầu, nối kết sản xuất với tiêu dùng. Trong điều kiện chiến tranh, nếu
không tận dụng mạng lưới thương nhân, các kênh phân phối sẽ bị tắc nghẽn, giá cả rối loạn
lãng phí nguồn lực. Thừa nhận hoạt động của kinh tế nhân, song đặt dưới sự
hướng dẫn kiểm soát bằng thuế khóa, giấy phép quy chế lưu thông, cách vừa giữ
được sức sống của lưu thông, vừa bảo đảm kỷ luật thị trường phù hợp với mục tiêu chung.
Mặt khác, nhà nước từng bước xây dựng các sở quốc doanh những khâu then chốt
như tài chính, ngân khố, ngoại thương, một số sở công nghiệp nền tảng; qua đó hình
thành năng lực vật chất kỹ thuật quản trị cần thiết cho vai trò lãnh đạo của kinh tế nhà
nước về sau.
Một sở thực tiễn dễ thấy khác sự đa dạng về vùng miền mức độ phát triển ngay
trong cùng một thời điểm lịch sử. Giữa miền núi đồng bằng, giữa thành thị nông thôn,
giữa vùng tự do vùng tạm chiếm tồn tại những khác biệt lớn về khả năng tiếp cận nguồn
lực, trình độ tổ chức sản xuất hội thị trường. Một chính sách đồng nhất, áp dụng cứng
nhắc sẽ khó phát huy tác dụng thể tạo ra phản ứng ngược. vậy, phương pháp “đi
từng bước, chắc từng bước” với thí điểm tổng kết nhân rộng lựa chọn hợp lý: nơi nào
đủ điều kiện thì phát triển các hình thức hợp tác quốc doanh, nơi nào lực lượng sản xuất
còn rất thấp thì tôn trọng kinh tế hộ tiểu thủ công, chú trọng giáo dục, y tế, kết cấu hạ
tầng phổ biến kỹ thuật. Sự nhạy cảm đối với tính đa dạng không chỉ kỹ thuật chính
sách, một yêu cầu phương pháp luận chi phối toàn bộ duy về thời kỳ quá độ.
Sau năm 1954, bối cảnh thực tiễn tiếp tục củng cố duy nhiều thành phần. Miền Bắc bước
vào thời kỳ quá độ xây dựng sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa hội, đồng thời phải
chi viện cho miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhiệm vụ kép này đặt ra bài toán
cân đối hết sức phức tạp giữa công nghiệp hóa, nông nghiệp tiêu dùng dân sinh. Nhà
nước phải vừa mở rộng khu vực quốc doanh hợp tác xã, vừa duy trì khu vực thể trong
những lĩnh vực công chưa thể thay thế ngay, đồng thời khuyến khích các hình
liên doanh, liên kết phù hợp với điều kiện nguồn lực khan hiếm. một số ngành, hình thức
“tư bản nhà nước” được sử dụng như công cụ tổ chức lại sản xuất phân phối, kết hợp kỷ
luật quản của khu vực công với sự linh hoạt, kinh nghiệm thị trường của khu vực tư.
Những kinh nghiệm ấy, thăng trầm, đã rèn luyện năng lực thể chế cho nền kinh tế về
sau, khi cả nước thống nhất bước vào giai đoạn xây dựng trong hòa bình.
Thực tiễn miền Nam trước năm 1975 lại gợi mở một khía cạnh khác: chịu ảnh hưởng
sâu của chế kinh tế bản chủ nghĩa, khu vực doanh thương dân tộc vẫn bộc lộ tiềm
năng tổ chức sản xuất, lưu thông tích lũy vốn. Sau thống nhất, bài toán đặt ra làm thế
nào để chuyển hóa các năng lực đó vào quỹ đạo phát triển chung, vừa tránh gây đứt gãy
sinh kế, vừa ngăn ngừa xu hướng đầu cơ, thao túng bất bình đẳng. Câu trả lời thực tiễn
sử dụng kết hợp các công cụ pháp luật, thuế, tín dụng, quy hoạch; đồng thời hình thành
các “cửa ngõ” hợp tác giữa khu vực công với nhân trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ,
thương mại, dịch vụ, xây dựng bản. Nhìn từ góc độ phương pháp, đó vẫn tinh thần “sử
dụng, cải tạo phát triển” các thành phần trong quỹ đạo định hướng hội chủ nghĩa, thay
áp đặt các mệnh lệnh hành chính thiếu sở thực tiễn.
Một thực tế căn bản khác trình độ khoa học công nghệ nguồn nhân lực của nền kinh
tế. giai đoạn đầu, cấu lao động của Việt Nam thiên về nông nghiệp, tỷ lệ lao động kỹ
thuật thấp, giáo dục phổ thông dạy nghề còn thiếu. Với nền tảng như vậy, việc kỳ vọng
ngay vào các hình thức sản xuất cường độ công nghệ cao không thực tế. Cần một lộ
trình tích lũy dần về kỹ năng, kỷ luật lao động năng lực quản trị, trong đó mỗi thành phần
kinh tế đảm đương một phần việc phù hợp với lợi thế của mình. Kinh tế hộ doanh nghiệp
nhỏ “trường học” của kỷ luật thị trường tinh thần doanh nghiệp; hợp tác nơi rèn
luyện năng lực hợp tác, chuẩn hóa quy trình; doanh nghiệp nhà nước nơi tích lũy
chuyển giao công nghệ bản; khu vực đầu nước ngoài kênh tiếp cận nhanh mạng
lưới thị trường chuẩn mực quản trị. Khi nguồn nhân lực được nâng cấp, cấu trúc thành
phần sẽ chuyển dịch một cách tự nhiên theo hướng gia tăng vai trò của các hình thức
mức độ hội hóa cao hơn.
Kinh nghiệm quản kinh tế trong thời chiến thời bình cho thấy vai trò quyết định của lưu
thông phân phối. một nền kinh tế còn thiếu thốn, việc tổ chức thị trường, bình ổn giá
cả, bảo đảm cung ứng vật thiết yếu lương thực ý nghĩa sống còn. Nếu để lưu thông
đứt gãy, sản xuất sẽ đình trệ; nếu để lưu thông phóng túng, đầu chèn ép sẽ phá vỡ
mặt bằng đời sống. Sự cân bằng giữa hai cực ấy đòi hỏi một hệ công cụ linh hoạt: mạng
lưới thương nghiệp nhà nước giữ vai trò “mỏ neo” những mặt hàng thiết yếu; khu vực
nhân tham gia rộng rãi nhưng tuân thủ luật chơi ràng; hệ thống hợp tác tiêu thụ tín
dụng hỗ trợ các tác nhân yếu thế trong tiếp cận thị trường. Những bài học thực tiễn từ tổ
chức lưu thông chính “chứng minh sống” cho nguyên tắc lưu thông trong ngoài công
nông giúp nhau trong tưởng Hồ Chí Minh.
Một sở thực tiễn nữa quan hệ đối ngoại yêu cầu hội nhập theo từng thời đoạn.
Ngay trong thời chiến, Việt Nam đã hình thành năng lực giao lưu kinh tế với bên ngoài
mức độ phù hợp với điều kiện quốc tế, để bổ sung vật tư, máy móc, thiết bị kinh nghiệm
quản lý. Khi hòa bình lập lại, bối cảnh khu vực thế giới thay đổi nhanh chóng tạo ra cả
hội lẫn thách thức: hội tiếp cận vốn, công nghệ, thị trường; thách thức cạnh tranh, phụ
thuộc những ràng buộc tiêu chuẩn. Thực tiễn ấy đặt ra bài toán “mở điều kiện”, vừa
khuyến khích tác nhân nhân đầu nước ngoài tham gia, vừa củng cố năng lực điều
tiết của Nhà nước năng lực tự cường của doanh nghiệp trong nước. Nhìn từ góc độ
phương pháp, đó chính sự kéo dài logic của nguyên tắc lưu thông trong ngoài trong một
bối cảnh mới độ phức tạp cao hơn.
Sau khi đất nước thống nhất, những năm đầu xây dựng lại đặt nền kinh tế trước một loạt
ràng buộc đồng thời: sở vật chất kiệt quệ, nguồn lực tài chính hạn chế, chế quản
còn nặng tính bao cấp kế hoạch hóa mệnh lệnh, trong khi nhu cầu nâng cao đời sống
nhân dân lại cấp thiết. Thực tiễn này cho thấy hình tổ chức kinh tế cần tạo không gian
cho các chủ thể ngoài nhà nước phát huy vai trò trong sản xuất lưu thông, đồng thời tiếp
tục củng cố vai trò của khu vực nhà nước những lĩnh vực nền tảng. Đó môi trường thực
tế khiến tưởng “nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu” càng trở nên nghĩa
sức thuyết phục như một bước đi phù hợp quy luật, giúp giải phóng lực lượng sản xuất
tạo đà cho quá trình cải cách thể chế sau này.
Tổng kết thực tiễn nhiều thập niên, thể thấy một điểm xuyên suốt: tính đa dạng thành
phần không phải sự thỏa hiệp nhất thời, bối cảnh khách quan của một nền kinh tế
đi lên từ sản xuất nhỏ, lại phải trải qua chiến tranh bao vây cấm vận, rồi mới bước vào
thời kỳ hòa bình xây dựng. Mỗi giai đoạn, tuỳ theo mục tiêu điều kiện, Nhà nước điều
chỉnh vai trò tương đối giữa các thành phần công cụ quản đi kèm, song nguyên tắc
chung không thay đổi: sử dụng các thành phần theo lợi thế, đặt chúng trong kỷ luật pháp
luật định hướng chính sách, từng bước nâng cấp trình độ tổ chức, công nghệ nguồn
nhân lực để tiến tới những hình thức sở hữu tổ chức mức độ hội hóa cao hơn.
sở thực tiễn cuối cùng cần nhấn mạnh phương thức “học bằng làm” của cả bộ máy
hội. Trong điều kiện nguồn lực hạn hẹp, sự thử nghiệm chính sách tất yếu: nhiều
hình được thí điểm quy nhỏ, đánh giá hiệu quả, rồi điều chỉnh nhân rộng. Chính
nhờ phương thức này, những nguyên tắc tưởng được chuyển hóa thành các thiết kế cụ
thể, không ngừng được kiểm chứng hoàn thiện qua va chạm với đời sống. Các động lực
mới như chuyển đổi số, kinh tế tri thức, tiêu chuẩn xanh, cùng những biến động như đứt
gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, chỉ càng làm giá trị của phương thức “thực học thực làm”
ấy: hình nhiều thành phần đủ linh hoạt để thích ứng, miễn kỷ luật thị trường, pháp luật
minh bạch mục tiêu hội chủ nghĩa được giữ vững.
Tất cả những sở thực tiễn kể trên hợp lại thành “đất sống” làm nảy nở trưởng thành
tưởng của Hồ Chí Minh về cấu kinh tế nhiều thành phần. Chính từ thực tiễn khắc
nghiệt của một đất nước vừa giành độc lập, vừa phải chiến đấu bảo vệ nền tự do non trẻ,
vừa phải kiến thiết trong thiếu thốn trăm bề, mới thể hình thành một tưởng kinh tế
không giáo điều, đề cao hiệu quả lợi ích của đại đa số, đồng thời đặt ra những nguyên
tắc đủ để dẫn dắt mọi thành phần vận động trong cùng một quỹ đạo phát triển. Nhờ vậy,
khi bước vào thời kỳ đổi mới, đường lối của Đảng sẵn một điểm tựa vững chắc cả về
luận về trải nghiệm quản trị, để tổ chức lại nền kinh tế theo hình thị trường định
hướng hội chủ nghĩa không đánh mất mục tiêu lâu dài của con đường hội chủ
nghĩa.
3. QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CẤU KINH TẾ
NHIỀU THÀNH PHẦN
Quan điểm của Hồ Chí Minh về cấu nền kinh tế nhiều thành phần hình thành trên nền
tảng duy vật lịch sử thấm đẫm trải nghiệm quản trị một đất nước đi lên từ sản xuất nhỏ,
vừa chiến đấu vừa kiến thiết. Hạt nhân của quan điểm ấy sự khẳng định tính khách quan
của trạng thái nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội, đồng thời nhấn
mạnh trách nhiệm của Nhà nước dân chủ mới trong việc tổ chức, điều tiết dẫn dắt các
thành phần ấy vận động theo quỹ đạo hội chủ nghĩa. Cách đặt vấn đề không xem sự đa
dạng thành phần như một sự nhượng bộ tạm thời, như một cấu trúc phát triển quy
luật, trong đó mỗi thành phần chỗ đứng, chức năng lộ trình chuyển hóa phù hợp với
trình độ lực lượng sản xuất mục tiêu phát triển chung.
Trước hết, Hồ Chí Minh xuất phát từ sự thật lịch sử rằng sau khi giành độc lập, nền kinh tế
Việt Nam tồn tại đồng thời nhiều hình thức sở hữu nhiều loại hình tổ chức sản xuất.
Người tả một “bản đồ thành phần” gồm kinh tế quốc doanh mang tính chất hội chủ
nghĩa; kinh tế hợp tác các hình thức liên kết trung gian; kinh tế thể của nông dân,
thợ thủ công người buôn bán nhỏ; kinh tế bản nhân; hình thức bản nhà nước
khi Nhà nước hùn vốn, quản trị giữ quyền lãnh đạo. giai đoạn đầu của kháng chiến,
tàn tích của kinh tế địa chủ phong kiến còn tồn tại phải bị xóa bỏ bằng các biện pháp
cách mạng dân chủ. Sự phân loại đó không nhằm đóng khung cứng nhắc, để chỉ ra rằng
trong một nền kinh tế quá độ, các thành phần bản chất khác nhau sẽ cùng tồn tại trong
một thời gian lịch sử cần được “dùng đúng chỗ”, “quản đúng mức” “cải tạo đúng
cách”.
Đi đôi với nhận diện cấu trúc một hệ nguyên tắc điều tiết, được Hồ Chí Minh khái quát
vắn gọn nhưng sức gợi mở lớn. Nguyên tắc công đều lợi khẳng định vai trò nền
tảng dẫn dắt của khu vực quốc doanh, song đồng thời mở không gian phát triển hợp
pháp cho khu vực nhân trong khuôn khổ phục vụ lợi ích đông đảo nhân dân. Quan hệ
giữa Nhà nước nhân được thiết kế trên sở lợi ích cùng chia sẻ: Nhà nước tạo môi
trường pháp minh bạch, đầu kết cấu hạ tầng, định hướng bằng kế hoạch chính
sách; nhân mang vốn, sáng kiến năng lực thị trường vào sản xuất, lưu thông, dịch vụ.
Nguyên tắc chủ thợ đều lợi nhấn mạnh mục tiêu kết hợp hài hòa giữa bảo vệ quyền lợi
của người lao động với duy trì động lực đầu của người sử dụng lao động. Theo đó, pháp
luật về lao động, tiền lương, an sinh hội an toàn nghề nghiệp phải được tổ chức song
song với chế khuyến khích sáng tạo, tiết kiệm nâng cao năng suất. Nguyên tắc công
nông giúp nhau xác lập liên minh kinh tế hội nòng cốt, trong đó công nghiệp cung cấp
liệu sản xuất dịch vụ cho nông nghiệp, còn nông nghiệp bảo đảm lương thực, nguyên
liệu, thị trường lao động cho công nghiệp. Nguyên tắc lưu thông trong ngoài coi trọng
vai trò của thương nghiệp, của tiền tệ của giao lưu đối ngoại, nhấn mạnh rằng muốn kiến
thiết phải thông qua trao đổi, học hỏi, tiếp thu kỹ thuật mở rộng thị trường, nhưng tất cả
đặt dưới yêu cầu giữ vững độc lập, tự chủ lợi ích quốc gia.
Từ hệ nguyên tắc ấy, Hồ Chí Minh đề ra một phương pháp tổ chức thực hiện nhất quán: sử
dụng, cải tạo phát triển. “Sử dụng” nghĩa khai thác mọi năng lực còn hữu ích của các
thành phần phi hội chủ nghĩa để phục vụ sản xuất đời sống, thay thủ tiêu chúng một
cách nóng vội. “Cải tạo” nghĩa đặt các thành phần đó dưới khuôn khổ pháp luật, định
hướng giáo dục, từng bước thay đổi quan hệ lợi ích cách thức tổ chức để làm giảm
dần những yếu tố trái với mục tiêu hội chủ nghĩa. “Phát triển” nghĩa tích lũy, mở rộng
nâng cao các hình thức sở hữu hội chủ nghĩa thông qua kinh tế quốc doanh, hợp tác
những hình liên kết công phù hợp. Phương pháp này dựa trên lôgic của thời
kỳ quá độ: cái không thể bị xóa bỏ trong một sớm một chiều, cái mới không thể trưởng
thành nếu thiếu nền tảng vật chất kỹ thuật văn hóa kỷ luật; do đó, chuyển hóa phải
lộ trình, thí điểm, tổng kết điều chỉnh.
Một nội dung quan trọng trong quan điểm của Hồ Chí Minh cách nhìn biện chứng đối với
sở hữu. Người phân biệt sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện; sở hữu tập thể của những
người lao động liên kết tự nguyện; sở hữu nhỏ của người lao động thể; sở hữu
bản. Từ kết cấu sở hữu đó tất yếu sinh ra các thành phần kinh tế tương ứng. Nhiệm vụ của
Nhà nước mở rộng dần tầm phủ của sở hữu toàn dân tập thể những lĩnh vực then
chốt, nơi tính trụ cột đối với an ninh kinh tế phúc lợi công, đồng thời bảo hộ hướng
dẫn sở hữu nhỏ, quản điều tiết sở hữu bản dân tộc để cả hệ thống vận hành theo
lợi ích chung. Cách tiếp cận này không tuyệt đối hóa hình thức sở hữu nào trong ngắn hạn,
đặt chúng vào một trật tự chuyển hóa theo thời gian, dựa vào hiệu quả kinh tế tiêu
chuẩn công bằng hội.
Trên bình diện vận hành, Hồ Chí Minh nhìn thị trường kế hoạch như hai công cụ không
loại trừ nhau. Thị trường, thông qua giá cả cạnh tranh, chế hữu hiệu để phát hiện
nhu cầu, phân bổ nguồn lực tạo động lực tiết kiệm chi phí. Kế hoạch, thông qua mục tiêu
ưu tiên, chính sách tài khóa tiền tệ đầu công, công cụ để định hướng lớn, điều
phối rủi ro mô, khắc phục những thất bại thị trường bảo đảm mục tiêu hội. vậy,
Người đề cao vai trò của thương nghiệp tiền tệ, coi ổn định giá cả lưu thông thông
suốt điều kiện sống còn của sản xuất; đồng thời nhấn mạnh kỷ luật kế hoạch, tiết kiệm
công, liêm chính, chống tham ô, lãng phí. Tinh thần ấy biểu hiện thành quan điểm “coi trọng
cả sản xuất lẫn phân phối lưu thông”, bởi nếu khâu lưu thông bị tắc nghẽn, mọi thành quả
khâu sản xuất sẽ mất tác dụng.
Về phân phối, quan điểm của Hồ Chí Minh gắn với nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng
theo lao động” trong khuôn khổ pháp luật đạo lý. Trong thời kỳ quá độ, việc thừa nhận lợi
nhuận nhân thu nhập chênh lệch thực tế cần quản chứ không phủ định, miễn
chúng được tạo ra từ hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp, chịu trách nhiệm thuế
nghĩa vụ hội, không làm tổn hại lợi ích của số đông. Song song, Nhà nước phải tổ chức
hệ thống phúc lợi, trợ giúp dịch vụ công để bảo đảm hội tiếp cận bản cho các
nhóm yếu thế, qua đó giữ vững tính công bằng gắn kết hội. đây, công bằng không
bị hiểu theo nghĩa cào bằng, theo nghĩa bảo đảm hội mức hưởng phù hợp với
đóng góp, cùng với mạng lưới an sinh chống lại các rủi ro mang tính hệ thống hoặc bất khả
kháng.
Một nét đặc sắc khác cách Hồ Chí Minh xử quan hệ giữa quốc doanh, hợp tác xã,
nhân bản nhà nước như một hệ sinh thái chức năng. Kinh tế quốc doanh gánh vác
những lĩnh vực trụ cột như tài chính tín dụng chủ chốt, năng lượng, kết cấu hạ tầng, một
số ngành công nghiệp nền tảng dịch vụ công thiết yếu. Hợp tác hình thức tổ chức
trung gian nhằm nâng cao hiệu quả của sản xuất nhỏ, giảm chi phí giao dịch, tăng khả năng
tiếp cận kỹ thuật, vốn thị trường cho nông dân người lao động. Kinh tế nhân được
khuyến khích phát triển trong khuôn khổ luật pháp, bởi nguồn năng lượng linh hoạt,
sáng tạo khả năng mở rộng nhanh. bản nhà nước chế liên kết vốn, quản trị
rủi ro giữa Nhà nước nhân, dùng cho những lĩnh vực cần huy động nguồn lực
hội lớn nhưng vẫn phải bảo đảm định hướng an ninh kinh tế. Bốn cấu phần này không
hiệu quả.
Trong quan điểm của Hồ Chí Minh, xây dựng kinh tế nhiều thành phần luôn gắn với xây
dựng con người đạo đức công vụ. Người đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải chí công tư,
liêm chính, gần dân, trọng dân, ghét tham nhũng lãng phí; doanh nhân phải yêu nước,
trách nhiệm hội, tôn trọng pháp luật, giữ chữ tín; người lao động phải kỷ luật, ham học
hỏi, nâng cao tay nghề. Đó không phải những lời răn chung chung, các điều kiện cần
cho một nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa vận hành thông suốt: nhà nước
muốn kiến tạo phải liêm chính; thị trường muốn hiệu quả phải dựa trên niềm tin pháp
luật; hội muốn ổn định phải dựa trên công bằng nhân ái. Khi các chuẩn mực đạo đức
pháp trị được củng cố, sự đa dạng thành phần sẽ không biến thành hỗn loạn, trở
thành cạnh tranh lành mạnh hợp tác cùng thắng.
Hồ Chí Minh cũng đặt các thành phần kinh tế vào bối cảnh mở của quan hệ đối ngoại. “Lưu
thông trong ngoài” được Người nhìn như một yêu cầu khách quan của phát triển: phải
giao lưu để học kỹ thuật, để bán cái mình mua cái mình cần, để mở rộng chân trời của
nền sản xuất trong nước. Tuy nhiên, mở cửa không nghĩa buông lỏng; đường lối đối
ngoại kinh tế phải đặt trên nguyên tắc độc lập, tự chủ, bình đẳng, cùng lợi, tránh lệ thuộc,
giữ vững chủ quyền kinh tế. Khi các nguyên tắc ấy được vận dụng linh hoạt, ngoại lực sẽ bổ
sung cho nội lực, còn nội lực được tổ chức tốt sẽ quyết định khả năng hấp thụ ngoại lực.
Đây chính logic làm cho hình thức bản nhà nước các thức hợp tác với vốn, công
nghệ nước ngoài trở nên hữu ích, miễn Nhà nước nắm được vai trò kiến trúc thể chế
người cầm lái chiến lược.
Một điểm nhấn xuyên suốt trong quan điểm của Hồ Chí Minh nghệ thuật “trọng thực tiễn,
tránh cực đoan”. Người thường cảnh báo hai khuynh hướng sai lầm: “tả khuynh” nóng vội,
muốn xóa bỏ tức thời mọi yếu tố phi hội chủ nghĩa, dẫn đến rối loạn sản xuất đời
sống; “hữu khuynh” thỏa hiệp, buông lỏng quản lý, để lợi ích nhân hạn lấn át lợi ích số
đông. Để tránh cả hai, phải nắm vững quy luật, tôn trọng bước đi, dựa vào dân, làm thí
điểm, tổng kết nhân rộng. Người coi việc giải phóng lực lượng sản xuất then chốt, bởi
chỉ khi của cải hội tăng lên, các mục tiêu công bằng phúc lợi mới sở vật chất
vững chắc. Cũng vậy, Người đề cao học tập khoa học kỹ thuật, quản trị hiện đại, xây
dựng văn hóa tiết kiệm, xem giáo dục, y tế, phúc lợi đầu cho tương lai chứ không
phải chi phí.
Cuối cùng, quan điểm của Hồ Chí Minh về cấu kinh tế nhiều thành phần kết tinh thành
một “thiết kế tổng quát” của thời kỳ quá độ. Thiết kế ấy gồm mục tiêu xây dựng một nền
kinh tế của dân, do dân, dân; gồm phương thức kết hợp thị trường với định hướng
hội chủ nghĩa; gồm tổ chức đa sở hữu, đa thành phần, trong đó quốc doanh giữ vai trò
chủ đạo trụ cột, hợp tác nấc thang tổ chức của sản xuất nhỏ, nhân động lực
linh hoạt, bản nhà nước cầu nối huy động nguồn lực hội; gồm phân phối gắn lao
động với hưởng thụ, kết hợp hiệu quả với công bằng; gồm quản nhà nước pháp quyền
hội chủ nghĩa liêm chính, kiến tạo phục vụ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân. Với thiết kế ấy, sự đa dạng thành phần không làm lệch
hướng, trở thành sức mạnh tổng hợp, cho phép nền kinh tế đi nhanh đi vững trên
con đường xây dựng chủ nghĩa hội.
4. Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt
Nam
4.1. Trước Đổi mới (1975–1985)
Sau thống nhất đất nước, Việt Nam bước vào giai đoạn khôi phục phát triển trong điều
kiện xuất phát điểm rất thấp, sở vật chất kiệt quệ, nguồn lực tài chính hạn hẹp, lại chịu
tác động của cấm vận những bất lợi của bối cảnh quốc tế. hình quản được triển
khai chủ yếu theo chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp. Trong khuôn khổ đó, nhà
nước nắm giữ phần lớn phương tiện sản xuất chủ yếu; doanh nghiệp nhà nước vận hành
theo chỉ tiêu kế hoạch; giá cả, tiền lương phân phối vật phần lớn do mệnh lệnh hành
chính điều tiết; lưu thông hàng hóa bị ràng buộc bởi nhiều quy định hạn chế. Nỗ lực cải tạo
quan hệ sở hữu miền Nam sau giải phóng diễn ra nhanh rộng, hướng tới thiết lập
thống nhất một hình sở hữu công cộng tập thể làm nền tảng. Những biện pháp ấy
phản ánh quyết tâm sớm định hình cấu trúc hội chủ nghĩa, đồng thời xuất phát từ yêu
cầu an ninh kinh tế, ổn định hội phân bổ nguồn lực cho những nhiệm vụ lớn của quốc
gia.
Tuy nhiên, thực tiễn bộc lộ dần các hạn chế của chế vận hành thuần túy mệnh lệnh
bao cấp. Khi tín hiệu thị trường bị triệt tiêu, doanh nghiệp ít động lực nâng cao năng suất
tiết giảm chi phí; hệ thống phân bổ theo chỉ tiêu khó theo kịp biến động nhu cầu thực;
chế hai giá tem phiếu kéo dài tạo ra méo chi phí giao dịch ngầm; liên kết giữa sản
xuất lưu thông phân phối thiếu trơn tru khiến nhiều nguồn lực bị đọng khâu này
hoặc khâu khác. Trong nông nghiệp, việc tổ chức lại sản xuất hướng nhiều vào tập thể hóa,
song nhiều nơi chưa phù hợp với tập quán canh tác trình độ tổ chức, dẫn tới hiệu quả
không đồng đều. Trong công nghiệp, đầu dàn trải, công nghệ lạc hậu, phụ thuộc nhập
khẩu thiết bị vật bản khiến nhiều sở hoạt động dưới công suất. Thương nghiệp
nhà nước giữ vai trò “mỏ neo” nhưng không đủ năng lực bao phủ toàn bộ lưu thông, trong
khi mạng lưới nhân bị thu hẹp làm giảm độ linh hoạt của thị trường.
Trong bối cảnh ấy, tưởng của Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ với nhiều thành phần kinh
tế, cùng các nguyên tắc công đều lợi, chủ thợ đều lợi, công nông giúp nhau, lưu
thông trong ngoài, bắt đầu được nhìn nhận lại như một lối tiếp cận mềm dẻo phù hợp
hơn với quy luật phát triển. Thực tiễn sở cho thấy, khi trao thêm quyền chủ động sản
xuất kinh doanh khoán sản phẩm gắn với trách nhiệm, hiệu quả được cải thiện rệt;
khi cho phép mở rộng một số hình thức kinh doanh nhân nhỏ lẻ trong lưu thông, tính sẵn
của hàng hóa tăng lên, giảm bớt căng thẳng cung cầu. Những kinh nghiệm “mở khóa”
cục bộ đó trở thành căn cứ thực tiễn để Đảng xem xét đổi mới duy, chuyển từ hình
quản nặng tính mệnh lệnh sang hình coi trọng động lực thị trường nhưng vẫn giữ
vững định hướng hội chủ nghĩa. Nói cách khác, thập niên 1975–1985 giai đoạn chuyển
tiếp đầy thử thách, nơi các tín hiệu thực tiễn tích tụ đủ mạnh để thúc đẩy một quyết định
mang tính bước ngoặt tầm đường lối.
4.2. Thời kỳ Đổi mới từ 1986 đến nay
Đại hội VI đánh dấu bước ngoặt chiến lược khi xác lập đường lối phát triển nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần vận hành theo chế thị trường, sự quản của Nhà nước, định
hướng hội chủ nghĩa. Đây không chỉ một điều chỉnh kỹ thuật, một chuyển đổi
phương pháp luận: thị trường được thừa nhận như chế phân bổ nguồn lực hiệu quả; nhà
nước chuyển từ can thiệp vi bằng mệnh lệnh sang kiến tạo khuôn khổ thể chế, điều tiết
định hướng chiến lược; các thành phần kinh tế được thừa nhận bình đẳng trước
pháp luật, cùng phát triển, cùng đóng góp cùng chịu trách nhiệm với hội.
Trong nông nghiệp, các chính sách khoán sản phẩm gắn trách nhiệm quyền lợi về đến
hộ gia đình đã giải phóng đáng kể lực lượng sản xuất, nâng cao tính chủ động trong tổ chức
canh tác, thúc đẩy đầu lao động liệu vào đồng ruộng. Hợp tác chuyển từ
hình hành chính bao cấp sang hình dịch vụ cho thành viên, chú trọng khâu đầu vào,
thủy lợi, bảo quản, chế biến tiêu thụ, từ đó giảm chi phí giao dịch tăng khả năng kết
nối thị trường. công nghiệp dịch vụ, doanh nghiệp nhà nước từng bước được giao
quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, thực hiện hạch toán kinh tế, chịu trách nhiệm về lỗ lãi;
khu vực nhân được khuyến khích thành lập mở rộng hoạt động trong khuôn khổ pháp
luật; đầu trực tiếp nước ngoài được mở cửa như một kênh bổ sung vốn, công nghệ, quản
trị thị trường. Cùng với đó, các cải cách về giá lương tiền, tự do hóa nhiều mặt hàng,
cải cách thuế ngân sách, đã tạo nền tảng cho lưu thông hàng hóa, ổn định khôi
phục niềm tin thị trường.
Kể từ sau Đổi mới, tiến trình hội nhập quốc tế được triển khai nhất quán ngày càng sâu
rộng. Việc tham gia các hiệp định thương mại, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, thu hút
đầu tư, đồng thời nâng cấp chuẩn mực pháp quản trị, đã đưa cấu trúc nhiều thành
phần vào một môi trường cạnh tranh tương tác đa chiều, buộc các chủ thể phải nâng
năng lực công nghệ, quản trị tuân thủ. Trong bối cảnh ấy, vai trò của Nhà nước càng
nghiêng về kiến tạo: xây dựng thể chế minh bạch, bảo vệ quyền tài sản hợp đồng, phát
triển hạ tầng cứng hạ tầng số, bảo đảm ổn định mô, điều phối rủi ro hệ thống thực
thi chính sách công bằng, bao trùm.
Một trụ cột quan trọng của giai đoạn này cải cách doanh nghiệp nhà nước. Mục tiêu
không phải duy trì số lượng doanh nghiệp nhà nước lớn, củng cố vai trò dẫn dắt
những lĩnh vực then chốt liên quan an ninh năng lượng, kết cấu hạ tầng chiến lược, tài
chính ngân hàng trụ cột dịch vụ công thiết yếu; đồng thời sắp xếp, cổ phần hóa, minh
bạch hóa quản trị để nâng hiệu quả kỷ luật thị trường. Song hành phát triển mạnh khu
vực nhân trong nước, xem đây một động lực quan trọng của nền kinh tế, khuyến khích
tinh thần doanh nhân, đổi mới sáng tạo liên kết chuỗi. Khu vực đầu nước ngoài tiếp
tục đóng vai trò bổ sung vốn công nghệ; chính sách nhấn mạnh yêu cầu liên kết giữa
doanh nghiệp FDI doanh nghiệp nội địa nhằm gia tăng giá trị gia tăng trong nước hình
thành hệ sinh thái nhà cung ứng.
Xu hướng mới của giai đoạn gần đây lồng ghép chuyển đổi số chuyển đổi xanh vào
chiến lược phát triển. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, kinh tế số, thương mại điện
tử, dịch vụ số phát triển nhanh, tạo không gian hoạt động mới cho mọi thành phần. Yêu cầu
tuân thủ tiêu chuẩn môi trường, lao động quản trị trong chuỗi giá trị toàn cầu ngày càng
cao, thúc đẩy cải cách thể chế theo hướng minh bạch, dữ liệu hóa thể dự báo. Đặc
biệt, các công cụ chính sách như đối tác công tư, mua sắm công theo tiêu chí đổi mới, tín
dụng xanh, khung công bố thông tin bền vững, dần được đưa vào vận dụng, phản ánh đúng
tinh thần “công đều lợi” trong điều kiện hiện đại. Nhìn tổng thể, thời kỳ Đổi mới đã hiện
thực hóa tưởng nhiều thành phần bằng một quá trình cải cách thể chế sâu rộng, đặt nền
kinh tế trong quỹ đạo thị trường hội nhập nhưng vẫn kiên định các mục tiêu hội chủ
nghĩa về công bằng, bao trùm phát triển con người.
4.3. Các kỳ Đại hội sự phát triển duy về kinh tế
nhiều thành phần
Sự phát triển duy của Đảng về kinh tế nhiều thành phần diễn ra liên tục qua các kỳ Đại
hội, theo logic vừa kế thừa vừa bổ sung, làm hình kinh tế thị trường định hướng
hội chủ nghĩa cả cấp độ khái niệm cấp độ chính sách.
Đại hội VI xác lập nền tảng duy mới: thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,
vận hành theo chế thị trường sự quản của Nhà nước. Đây bước “phá băng” nhận
thức quan trọng, chuyển trọng tâm từ mệnh lệnh hành chính sang chế thị trường, từ bao
cấp sang hạch toán, từ cấm đoán sang khuyến khích động lực.
Đại hội VII cụ thể hóa trong Cương lĩnh xây dựng đất nước, khẳng định kinh tế nhiều thành
phần cấu phần lâu dài của thời kỳ quá độ; đề cao vai trò của kinh tế nhà nước kinh tế
tập thể, đồng thời coi trọng phát triển kinh tế nhân. Vấn đề sở hữu, doanh nghiệp, đầu tư,
lưu thông phân phối được đặt trong một khung khái niệm thống nhất.
Đại hội VIII nhấn mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện mở cửa hội nhập,
xem phát triển đồng bộ các loại thị trường điều kiện để phát huy hiệu quả của kinh tế
nhiều thành phần. Những điều chỉnh về chính sách doanh nghiệp, đất đai, tài chính tiền tệ,
thương mại, tạo tiền đề cho sự bùng nổ của khu vực nhân dòng vốn đầu nước
ngoài trong các giai đoạn tiếp theo.
Đại hội IX X tiếp tục làm hơn vai trò của kinh tế nhân như một bộ phận quan trọng
của nền kinh tế, khuyến khích đa dạng hóa loại hình doanh nghiệp thúc đẩy cạnh tranh
bình đẳng. duy về hội nhập được nâng lên tầm chiến lược, coi việc tham gia sâu vào các
tổ chức hiệp định quốc tế vừa hội, vừa động lực cải cách thể chế trong nước.
Đại hội XI XII nhấn mạnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại, đồng bộ hội
nhập, cải cách doanh nghiệp nhà nước, phát triển mạnh khu vực nhân, tái cấu nền
kinh tế gắn với đổi mới hình tăng trưởng. Trong giai đoạn này, quan điểm coi kinh tế
nhân một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế được khẳng định rõ; các
chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp nhỏ vừa, nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực kết cấu hạ tầng, được thúc đẩy đồng bộ.
Đại hội XIII tổng kết 35 năm Đổi mới, khẳng định hình kinh tế thị trường định hướng
hội chủ nghĩa lựa chọn nhất quán; đề ra mục tiêu phát triển nhanh bền vững dựa trên
tế xanh, tuần hoàn, nâng cao năng lực tự chủ, khả năng chống chịu thích ứng. Về cấu
trúc thành phần, tiếp tục khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo lĩnh vực then
chốt; kinh tế tập thể đổi mới theo hình hợp tác kiểu mới; kinh tế nhân một động
lực quan trọng; kinh tế vốn đầu nước ngoài bộ phận không tách rời của nền kinh tế,
được khuyến khích liên kết với khu vực trong nước. Trên phương diện quản trị, Đảng yêu
cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa liêm chính, kiến tạo phục vụ, lấy
người dân doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, coi kỷ luật thị trường minh bạch
thông tin nền tảng để các thành phần vận hành lành mạnh.
Nhìn dọc theo các kỳ Đại hội, thể thấy một đường cong nhận thức đi từ “phá băng”
duy sang “kiến tạo” thể chế, rồi “nâng cấp” quản trị theo chuẩn mực hiện đại. tưởng về
nhiều thành phần không thay đổi bản chất, nhưng được diễn giải ngày càng sâu cụ thể
hơn: từ chỗ thừa nhận sự cùng tồn tại, đến việc phân vai thiết kế chế phối hợp; từ
nhấn mạnh giải phóng lực lượng sản xuất, đến đặt trọng tâm đổi mới sáng tạo, chuyển đổi
số chuyển đổi xanh; từ bảo đảm quyền tự do kinh doanh, đến xây dựng hệ thống pháp
tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, trách nhiệm giải trình khả năng dự báo.
4.4. Hệ thống pháp lý, chính sách (Luật Doanh nghiệp,
Hiến pháp 1992, 2013…)
Việc hiện thực hóa tưởng kinh tế nhiều thành phần đòi hỏi một kiến trúc thể chế tương
thích. Trong hơn ba thập niên qua, Việt Nam từng bước xây dựng hoàn thiện hệ thống
pháp luật nhằm bảo vệ quyền sở hữu quyền tự do kinh doanh, bảo đảm cạnh tranh công
bằng, minh bạch, đồng thời tạo điều kiện để Nhà nước thực hiện vai trò kiến tạo, điều tiết
cung ứng dịch vụ công.
Trước hết bình diện hiến định. Hiến pháp 1992 đánh dấu bước chuyển lớn khi ghi nhận
nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận sự tồn tại phát triển lâu dài của các hình thức
sở hữu, khẳng định quyền tự do kinh doanh của công dân theo quy định của pháp luật. Hiến
pháp 2013 kế thừa phát triển mạnh hơn các nguyên tắc này: khẳng định kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đồng thời bảo đảm quyền bình đẳng, an toàn
pháp hội phát triển của mọi thành phần; xác lập nguyên tắc Nhà nước pháp
quyền hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, vai trò của thị trường trong phân
bổ nguồn lực gắn với trách nhiệm của Nhà nước trong điều tiết, ổn định thực hiện
tiến bộ, công bằng hội. Trên nền hiến định đó, các đạo luật chuyên ngành được thiết kế
theo triết “tự do kinh doanh trong những ngành nghề pháp luật không cấm”, chuyển từ
tiền kiểm sang hậu kiểm, dựa trên minh bạch thông tin trách nhiệm giải trình.
Luật Doanh nghiệp trụ cột pháp thể hiện nhất sự đổi mới về duy. Phiên bản ban
đầu thống nhất khung khổ cho nhiều loại hình, đơn giản hóa thủ tục thành lập, trao quyền tự
chủ quản trị nghĩa vụ công bố thông tin. Qua các lần sửa đổi, luật ngày càng rút gọn điều
kiện gia nhập thị trường, giảm giấy phép con, mở rộng phạm vi tự do thỏa thuận trong quản
trị nội bộ, tăng cường bảo vệ cổ đông nhà đầu tư, đồng thời siết chặt chuẩn mực minh
bạch trách nhiệm của người quản lý. Luật Đầu vận hành song hành, xác lập danh mục
ngành nghề cấm điều kiện, cải cách thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, tạo tính
thông suốt giữa các cấp chính quyền, lồng ghép kiểm soát cạnh tranh, môi trường an
ninh. Hệ thống này giúp hiện thực hóa nguyên tắc bình đẳng giữa các thành phần, coi khu
vực nhân động lực quan trọng, tạo môi trường thuận lợi cho khởi sự kinh doanh mở
rộng quy mô.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, khung pháp về sắp xếp, cổ phần hóa, quản trị giám
sát tài chính được từng bước hoàn thiện. Mục tiêu tách bạch chức năng chủ sở hữu
nhà nước chức năng quản nhà nước; áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, công khai,
minh bạch; tập trung phạm vi hoạt động vào lĩnh vực then chốt, tránh dàn trải; nâng cao
trách nhiệm của người đại diện vốn quan chủ sở hữu; tăng cường kỷ luật thị trường
thông qua niêm yết, kiểm toán giám sát độc lập. chiều ngược lại, Luật Hợp tác theo
hình kiểu mới định vị lại hợp tác như tổ chức kinh tế do thành viên tự nguyện thành
lập, quản trị dân chủ, cùng lợi, cung cấp dịch vụ cho thành viên, hướng đến hiệu quả chứ
không còn “cánh tay nối dài” hành chính. Những đổi mới này giúp khối kinh tế tập thể trở
thành nấc thang tổ chức phù hợp để gia tăng năng suất của sản xuất nhỏ, đặc biệt trong
nông nghiệp dịch vụ nông thôn.
Trong lĩnh vực cạnh tranh thị trường, pháp luật về cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng, tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật, sở hữu trí tuệ, chứng khoán, ngân hàng, bảo
hiểm, an toàn lao động môi trường được hoàn thiện theo hướng tiệm cận thông lệ tốt.
Mục tiêu thiết lập “sân chơi phẳng” để mọi thành phần kinh tế cạnh tranh bằng năng lực,
hạn chế hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, thông đồng ấn định giá, chuyển giá các hình
thức cạnh tranh không lành mạnh. Đi kèm chế giải quyết tranh chấp hiệu quả thông
qua trọng tài, tòa án hòa giải, tăng mức độ an tâm pháp cho đầu dài hạn.
Cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong quản nhà nước minh bạch dữ liệu
mảng thể chế then chốt khác. Việc áp dụng đăng kinh doanh trực tuyến, cắt giảm điều
kiện kinh doanh, số hóa quy trình cấp phép, liên thông dữ liệu thuế hải quan bảo hiểm
hội, công khai quy hoạch, đất đai mua sắm công, làm giảm đáng kể chi phí thời gian
chi phí không chính thức cho doanh nghiệp. Cùng với đó, khung pháp cho đối tác công
được luật hóa, tạo chế huy động vốn nhân vào hạ tầng dịch vụ công theo
nguyên tắc phân bổ rủi ro hợp lý, minh bạch, trách nhiệm giải trình, thể hiện đúng tinh
thần “công đều lợi” trong bối cảnh hiện đại.
bình diện phân phối an sinh, hệ thống pháp luật về tiền lương, bảo hiểm hội, bảo
hiểm y tế, trợ giúp hội, giáo dục y tế bản, nhà hội, phản ánh định hướng
hội chủ nghĩa trong hình thị trường. Mục tiêu kết hợp giữa nguyên tắc hưởng theo
đóng góp với mạng lưới bảo vệ trước rủi ro bất bình đẳng, bảo đảm hội tiếp cận
bản cho người dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, củng cố gắn kết hội. Điều này
làm bật nguyên tắc “chủ thợ đều lợi” dưới dạng các chuẩn mực pháp cụ thể, giúp
thị trường vận hành hiệu quả không phá vỡ nền tảng công bằng.
Về đất đai các yếu tố sản xuất, pháp luật được điều chỉnh qua nhiều lần sửa đổi nhằm
bảo đảm quyền sử dụng ổn định, mở rộng khả năng chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn, tạo
điều kiện tích tụ, tập trung đất đai mức phù hợp, đồng thời tăng cường minh bạch, bồi
thường thỏa đáng, tái định giám sát quy hoạch. Thị trường vốn được phát triển với
khung khổ pháp luật về chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, cùng các chuẩn
mực kế toán kiểm toán, quản trị công ty, công bố thông tin. Thị trường lao động được
hoàn thiện với Bộ luật Lao động, chính sách đào tạo nghề, tiêu chuẩn kỹ năng an toàn
lao động. Thị trường khoa học công nghệ được thúc đẩy bằng chế đặt hàng R&D, ưu
đãi thuế, bảo hộ sở hữu trí tuệ, ươm tạo, chuyển giao công nghệ. Tất cả hợp lại thành
những “mảnh ghép” thể chế để các thành phần kinh tế vận hành thông suốt, đúng vai, đúng
lợi thế, liên kết theo chuỗi giá trị.
Một hướng hoàn thiện thể chế quan trọng của giai đoạn gần đây lồng ghép các tiêu chuẩn
chuyển đổi số chuyển đổi xanh vào khung pháp lý. Các quy định về bảo vệ dữ liệu
nhân, giao dịch điện tử, thương mại điện tử, thanh toán số, an ninh mạng, cùng với tiêu
chuẩn môi trường, kinh tế tuần hoàn, công bố thông tin bền vững, tín dụng xanh, đang dần
hình thành một “làn đường” pháp mới cho các hình kinh doanh hiện đại. Điều này
không chỉ giúp doanh nghiệp thuộc mọi thành phần tiếp cận chuỗi cung ứng toàn cầu nấc
thang cao hơn, còn khiến nhà nước phải đổi mới cách quản trị dựa trên dữ liệu, giảm
can thiệp hành chính sự vụ, tăng cường giám sát thông minh trách nhiệm giải trình.
Tổng thể nhìn lại, sự vận dụng tưởng kinh tế nhiều thành phần của Đảng không dừng
khẳng định hình trong văn kiện, đã thẩm thấu vào kiến trúc thể chế, đi vào cách tổ
chức vận hành nền kinh tế thể hiện qua kết quả phát triển. Nhà nước kiến tạo pháp
quyền giữ vai trò dẫn dắt trụ cột điều phối rủi ro; thị trường vận hành như chế phân
bổ nguồn lực chủ yếu; các thành phần kinh tế cùng phát triển bình đẳng, phối hợp cạnh
tranh trong khuôn khổ luật pháp; mục tiêu hội chủ nghĩa được thể hiện trong phân phối,
an sinh, hội tiếp cận chuẩn mực môi trường lao động quản trị. Nhờ vậy, hình
kinh tế nhiều thành phần không chỉ phù hợp với quy luật của thời kỳ quá độ còn tạo ra
năng lực thích ứng trong một thế giới đổi thay nhanh chóng, giúp nền kinh tế Việt Nam bước
vào giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn dài hạn bản lĩnh tự cường.
5. Thành tựu, hạn chế phương hướng
5.1. Thành tựu
Thành tựu nổi bật đầu tiên của quá trình vận dụng tưởng kinh tế nhiều thành phần việc
khơi thông duy trì một động lực tăng trưởng tương đối ổn định trong thời gian dài. Khi
chế thị trường được thừa nhận như một phương thức phân bổ nguồn lực chủ yếu khi
không gian phát triển được mở ra cho mọi thành phần kinh tế, sức sản xuất trong hội
được giải phóng, khả năng huy động vốn, lao động, công nghệ sáng kiến được mở rộng.
Sự chuyển biến này trước hết được ghi nhận nông nghiệp, nơi hộ gia đình trở thành đơn
vị sản xuất tự chủ, hợp tác chuyển sang hình dịch vụ thành viên, chuỗi cung ứng
từ giống, vật tư, thủy lợi đến bảo quản, chế biến tiêu thụ được tổ chức lại theo hướng
giảm chi phí giao dịch. Trên nền tảng ấy, an ninh lương thực được bảo đảm, năng lực xuất
khẩu nông sản tăng dần, vị thế của kinh tế nông thôn thay đổi theo hướng gắn kết chặt chẽ
hơn với công nghiệp chế biến dịch vụ.
Trong công nghiệp dịch vụ, việc trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp nhà nước đi cùng
với cải cách quản trị, hạch toán kinh tế kỷ luật tài chính đã làm trách nhiệm hiệu quả.
Song hành với đó sự bùng nổ của khu vực doanh nghiệp nhân về số lượng loại
hình, từ doanh nghiệp nhỏ vừa đến những tập đoàn nhân khả năng cạnh tranh
quy khu vực. Kênh đầu trực tiếp nước ngoài bổ sung vốn, công nghệ, quản trị
mạng lưới thị trường, hình thành các cụm sản xuất xuất khẩu quy lớn, từ đó gia
tăng tính đa dạng của cấu công nghiệp dịch vụ hiện đại. Hệ quả chung cấu trúc
kinh tế dịch chuyển theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, năng lực sản xuất hàng
hóa dịch vụ chất lượng cao được nâng lên, đóng góp ngày càng vào tăng trưởng
ngân sách.
Một thành tựu ý nghĩa nền tảng khác kiến trúc thể chế từng bước được hoàn thiện
theo hướng kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa. Hệ thống pháp luật về quyền sở
hữu, quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh, doanh nghiệp, đầu tư, đất đai, tài chính ngân
hàng, chứng khoán, lao động, an sinh hội, môi trường tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật
được bổ sung, sửa đổi theo hướng minh bạch, dễ dự báo tiệm cận với thông lệ tốt.
Nguyên tắc “tự do kinh doanh trong những ngành nghề pháp luật không cấm” được
khẳng định; chế tiền kiểm thu hẹp dần nhường chỗ cho hậu kiểm dựa trên công bố thông
tin trách nhiệm giải trình. Cùng với đó những cải cách hành chính quy lớn, chuyển
đổi số trong quản nhà nước, liên thông dữ liệu trong đăng kinh doanh, thuế, hải quan,
thương mại chế hợp tác khu vực, song phương đa phương đã mở rộng không
gian thị trường cho mọi thành phần kinh tế, tạo động lực cải cách thể chế trong nước, nâng
cao tiêu chuẩn quản trị, lao động, môi trường quyền sở hữu trí tuệ. Trên nền hội nhập,
nhiều doanh nghiệp trong nước học được phương thức quản trị hiện đại, bước đầu tham
gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu, phát triển mạng lưới nhà cung ứng, hình thành hệ sinh
thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Sự giao thoa giữa ngoại lực nội lực theo nguyên
tắc bình đẳng, cùng lợi góp phần củng cố vị thế của nền kinh tế nhiều thành phần trong
bối cảnh cạnh tranh quốc tế.
trình giảm nghèo, an sinh hội, phổ cập giáo dục, y tế bản, phát triển hạ tầng nông thôn
đô thị, nhà hội, đã được triển khai song hành với tăng trưởng. Mạng lưới phúc lợi
dần mở rộng độ phủ, qua đó giảm thiểu rủi ro đứt gãy hội khi nền kinh tế vận hành theo
chế thị trường. Trên bình diện chuẩn mực, việc đề cao quyền con người, quyền công
dân, quyền tự do kinh doanh, cùng với yêu cầu minh bạch trách nhiệm giải trình, đã tạo
ra một nền tảng pháp trị hỗ trợ cho phát triển bền vững. Nhìn từ góc độ tưởng, những
thành tựu này cho thấy sự hiện thực hóa nhất quán các nguyên tắc công đều lợi, chủ
thợ đều lợi, công nông giúp nhau lưu thông trong ngoài trong điều kiện lịch sử mới.
Cuối cùng, hình nhiều thành phần chứng tỏ năng lực thích ứng đáng kể trước các
sốc bên ngoài. Khả năng điều hành chính sách linh hoạt hơn, dựa trên phối hợp tài
khóa tiền tệ, quản tỷ giá, thương mại, đầu tư, thị trường lao động an sinh hội, giúp
nền kinh tế duy trì ổn định tương đối, hạn chế tác động lan truyền của biến động quốc tế.
Cùng với đó, quá trình chuyển đổi số được đẩy mạnh trong cả khu vực công tư, tạo ra
các kênh cung ứng, phân phối, thanh toán dịch vụ mới, góp phần tăng tính chống chịu
của hệ thống trước những gián đoạn chuỗi cung ứng.
5.2. Hạn chế
Bên cạnh những thành tựu, hình kinh tế nhiều thành phần vẫn bộc lộ các hạn chế cần
được nhìn nhận thẳng thắn. Vấn đề nổi bật nhất năng suất lao động năng suất nhân tố
tổng hợp trong một số ngành khu vực còn thấp so với tiềm năng. Cấu trúc doanh nghiệp
thiên về quy nhỏ siêu nhỏ, năng lực quản trị công nghệ còn hạn chế, liên kết giữa
khối doanh nghiệp trong nước với khu vực đầu nước ngoài chưa sâu, tỷ lệ nội địa hóa
trong nhiều chuỗi giá trị còn khiêm tốn. Tình trạng phụ thuộc vào gia công, lắp ráp một số
ngành công nghiệp khiến giá trị gia tăng trong nước chưa cao, khả năng bứt phá về công
nghệ thương hiệu chưa rệt.
Hiệu quả của một bộ phận doanh nghiệp nhà nước vẫn điểm nghẽn. Việc sắp xếp, cổ
phần hóa nơi còn chậm, một số lĩnh vực chưa thực sự tách bạch chức năng quản nhà
nước với chức năng chủ sở hữu, kỷ luật thị trường kỷ luật tài chính chưa được thực thi
giữ những nơi hiệu quả thấp, chi phí hội của nền kinh tế tăng lên, ảnh hưởng đến tốc
độ chất lượng tăng trưởng. chiều ngược lại, khu vực hợp tác chưa phát huy hết vai
trò nấc thang tổ chức của sản xuất nhỏ; năng lực dịch vụ cho thành viên về tài chính, kỹ
thuật, thị trường còn hạn chế; hình quản trị chưa theo kịp yêu cầu của thị trường hiện
đại.
Chất lượng thể chế thực thi pháp luật một số lĩnh vực vẫn chưa ngang tầm với yêu cầu
phát triển. Hệ thống pháp luật đã cải thiện đáng kể nhưng vẫn còn tình trạng chồng chéo,
mâu thuẫn, thiếu thống nhất; quy trình ban hành sửa đổi một số văn bản chưa theo kịp
thực tiễn vận động; năng lực dự báo đánh giá tác động chính sách còn hạn chế. Trong
thực thi, tình trạng sợ sai, đùn đẩy trách nhiệm, thủ tục hành chính kéo dài, chi phí tuân thủ
cao, tạo ra rào cản hình đối với doanh nghiệp nhà đầu tư. một số nơi, công khai,
minh bạch thông tin còn chưa đầy đủ; chế giám sát hội trách nhiệm giải trình chưa
thật hiệu quả.
Thị trường các yếu tố sản xuất phát triển chưa đồng bộ. Thị trường đất đai còn vướng mắc
về quyền nghĩa vụ của các chủ thể, về quy hoạch, định giá, bồi thường tái định cư;
tích tụ, tập trung đất đai trong nông nghiệp diễn ra chậm, ảnh hưởng đến năng suất quy mô.
Thị trường vốn phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng; thị trường chứng khoán trái
phiếu doanh nghiệp chưa trở thành kênh huy động vốn trung dài hạn đủ an toàn, minh
bạch, hiệu quả; thị trường lao động thiếu các thể chế kết nối cung cầu kỹ năng bền vững;
thị trường khoa học công nghệ còn mỏng, liên kết giữa viện, trường doanh nghiệp
chưa chặt chẽ.
Vấn đề phát triển bền vững bao trùm đặt ra thách thức ngày càng lớn. Chênh lệch phát
triển giữa các vùng, giữa đô thị nông thôn, giữa các nhóm dân vẫn đáng kể; môi
trường một số khu vực bị sức ép; yêu cầu chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm phát
thải khí nhà kính đòi hỏi nguồn lực năng lực thể chế đáng kể; an sinh hội cần tiếp tục
mở rộng độ bao phủ nâng cao chất lượng dịch vụ, nhất đối với nhóm lao động phi
chính thức đối tượng dễ tổn thương. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược biến động
địa chính trị, rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng yêu cầu tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế cao hơn
cũng tạo áp lực cho khả năng thích ứng của doanh nghiệp trong nước.
5.3. Phương hướng phát triển tiếp tục
Phương hướng trước hết tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng hội
chủ nghĩa theo hướng hiện đại, đồng bộ hội nhập sâu. Cần kiên trì nguyên tắc nhà nước
pháp quyền hội chủ nghĩa liêm chính, kiến tạo phục vụ, coi quyền con người, quyền
nhiệm giải trình, minh bạch dữ liệu năng lực dự báo chính sách. Trên nền ấy, việc
soát, hệ thống hóa đơn giản hóa pháp luật cần được tiến hành thường xuyên, loại bỏ
chồng chéo, mâu thuẫn, tạo khung khổ ổn định thể dự báo cho nhà đầu doanh
nghiệp.
Một trọng tâm chiến lược phát triển đồng bộ các thị trường yếu tố sản xuất. Đối với đất
đai, cần hoàn thiện chế quy hoạch, định giá, bồi thường, tái định đấu giá công
khai, bảo đảm quyền, nghĩa vụ lợi ích hài hòa của Nhà nước, người dân nhà đầu tư,
tạo điều kiện tích tụ, tập trung đất nông nghiệp mức phù hợp, đi đôi với bảo vệ sinh kế
môi trường. Đối với vốn, cần thúc đẩy thị trường chứng khoán trái phiếu doanh nghiệp
trở thành kênh huy động trung dài hạn an toàn, minh bạch; phát triển thị trường cho vay
dựa trên dữ liệu tài sản trí tuệ; đa dạng hóa các định chế tài chính, tăng tính cạnh tranh
kỷ luật. Đối với lao động, cần hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường kỹ năng, gắn đào
tạo với nhu cầu của doanh nghiệp, đẩy mạnh đào tạo lại nâng kỹ năng trong bối cảnh tự
động hóa số hóa. Đối với khoa học công nghệ, cần hoàn thiện chế đặt hàng nghiên
cứu, chia sẻ rủi ro đổi mới sáng tạo, khuyến khích liên kết viện trường doanh nghiệp,
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Cải cách doanh nghiệp nhà nước phải đi vào chiều sâu, tập trung vào vai trò trụ cột trong
những lĩnh vực thiết yếu đối với an ninh kinh tế phúc lợi công. Cần tách bạch dứt khoát
chức năng chủ sở hữu chức năng quản nhà nước; áp dụng triệt để chuẩn mực quản trị
công ty hiện đại; niêm yết, công bố thông tin kiểm toán độc lập; chế người đại diện
vốn gắn với kết quả; xử dứt điểm những dự án kém hiệu quả. Song song phát triển
mạnh mẽ khu vực nhân trong nước như một động lực quan trọng của nền kinh tế. Điều
này đòi hỏi cải thiện tiếp cận đất đai vốn, giảm chi phí tuân thủ, tăng chất lượng dịch vụ
công, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ vừa tham gia chuỗi cung ứng qua các chương trình nâng
cấp năng lực, vấn, tiêu chuẩn xúc tiến.
Liên kết giữa khu vực đầu nước ngoài doanh nghiệp trong nước khâu đột phá để
nâng giá trị gia tăng nội địa. Cần xây dựng chương trình nhà cung ứng quốc gia theo ngành,
đặt chỉ tiêu nội địa hóa khả thi gắn với hỗ trợ kỹ thuật, tài chính tiêu chuẩn; phát triển các
trung tâm đổi mới, phòng thí nghiệm dùng chung, khu công nghiệp chuyên sâu; thiết kế
chế khuyến khích chuyển giao công nghệ đào tạo nhân lực giữa doanh nghiệp FDI với
đối tác nội địa. Mặt khác, cần chiến lược thu hút thế hệ FDI mới trong các ngành công
nghệ cao, trung hòa carbon dịch vụ số, đi đôi với yêu cầu tuân thủ tiêu chuẩn môi trường,
lao động quản trị.
Chuyển đổi số chuyển đổi xanh phải trở thành trục phát triển mới của hình nhiều
thành phần. chuyển đổi số, Nhà nước cần đầu hạ tầng dữ liệu điện toán đám mây
dùng chung, chuẩn hóa giao diện lập trình danh mục dữ liệu mở, bảo vệ dữ liệu nhân,
hoàn thiện khung pháp cho giao dịch điện tử các hình kinh doanh số; doanh nghiệp
cần tái cấu trúc quy trình, đầu vào phân tích dữ liệu, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo,
thương mại điện tử, thanh toán số. chuyển đổi xanh, cần triển khai các công cụ định giá
carbon phù hợp, tiêu chuẩn công bố thông tin bền vững, tín dụng xanh, thị trường điện cạnh
tranh, khuyến khích tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo kinh tế tuần hoàn. Khi hai
quá trình này được lồng ghép vào chiến lược ngành vùng, năng suất tổng hợp sẽ được
nâng lên, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn chuỗi cung ứng toàn cầu được củng cố.
Phát triển vùng đô thị hóa cần được định hướng bằng quy hoạch tích hợp dựa trên lợi
thế so sánh động, kết nối hạ tầng liên vùng logistics hiện đại. Chính sách vùng phải khắc
phục duy cục bộ, coi trọng chế điều phối chia sẻ lợi ích, phân cấp đi đôi với kiểm
soát quyền lực trách nhiệm giải trình. Đô thị hóa theo hướng xanh, thông minh, bao trùm,
gắn giao thông công cộng với phát triển đô thị, thúc đẩy nhà hội dịch vụ công
bản, để các cực tăng trưởng lan tỏa ra vùng nông thôn miền núi. nông thôn, tiếp tục tái
cấu trúc kinh tế theo hướng nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp số, du lịch nông thôn, làng
nghề sáng tạo; củng cố hợp tác kiểu mới như nền tảng tổ chức của sản xuất nhỏ.
Một yêu cầu xuyên suốt nâng chuẩn quản trị công phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Cần củng cố văn hóa liêm chính trong khu vực công, siết chặt kỷ luật công vụ, đẩy mạnh số
hóa quy trình, công khai dữ liệu, tăng cường giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, báo
chí nhân dân; phát triển chế phản hồi chính sách theo thời gian thực, qua đó giảm rủi
ro chính sách nâng niềm tin thị trường. Trong khu vực tư, khuyến khích áp dụng chuẩn
mực quản trị công ty, tuân thủ thuế, lao động môi trường; thúc đẩy trách nhiệm hội
doanh nghiệp như lợi thế cạnh tranh dài hạn.
Về hội, tiếp tục mở rộng nâng cao chất lượng mạng lưới an sinh, hướng đến bao phủ
bền vững công bằng. Cần chú trọng nhóm lao động phi chính thức, người yếu thế, khu
vực nông thôn, vùng sâu vùng xa; đầu cho giáo dục, y tế bản, văn hóa, nhà hội;
xây dựng chế bảo hiểm linh hoạt đáp ứng sự dịch chuyển của thị trường lao động. Khi
hội tiếp cận dịch vụ bản được bảo đảm, tính chấp nhận rủi ro tinh thần khởi nghiệp
trong hội sẽ gia tăng, qua đó bổ sung động lực cho hình nhiều thành phần.
Kết luận
tưởng của Hồ Chí Minh về cấu nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa hội sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nguyên của chủ nghĩa Mác Lênin
thực tiễn Việt Nam. Nền tảng của tưởng ấy sự thừa nhận tính khách quan của trạng
thái đa sở hữu, đa thành phần trong một giai đoạn lịch sử, cùng với hệ nguyên tắc công
đều lợi, chủ thợ đều lợi, công nông giúp nhau, lưu thông trong ngoài, phương
pháp sử dụng cải tạo phát triển theo lộ trình. Quá trình đổi mới hội nhập đã hiện thực
hóa những nguyên tắc đó thành hình kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa,
trong đó Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa giữ vai trò kiến tạo điều tiết, thị trường
chế phân bổ nguồn lực, các thành phần kinh tế cùng phát triển bình đẳng trong khuôn
khổ pháp luật, mục tiêu hội chủ nghĩa được cụ thể hóa trong phân phối, an sinh chuẩn
mực phát triển bền vững.
Thành tựu đạt được rệt: động lực tăng trưởng được khơi thông, cấu kinh tế chuyển
dịch theo hướng hiện đại, không gian thị trường trong ngoài nước mở rộng, thể chế pháp
ngày càng hoàn thiện, thành quả phát triển mang tính bao trùm hơn, năng lực thích ứng
trước thách thức bên ngoài được tăng cường. Song song, những hạn chế về năng suất, liên
kết chuỗi, chất lượng thể chế, hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, phát triển thị trường yếu tố,
bất bình đẳng vùng miền yêu cầu chuyển đổi xanh, số vẫn bài toán đặt ra.
trong điều kiện mới con đường bảo đảm cho hình nhiều thành phần tiếp tục phát huy
hiệu lực. Trọng tâm hoàn thiện thể chế theo hướng hiện đại thể dự báo, phát triển
đồng bộ các thị trường, cải cách sâu doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy mạnh mẽ khu vực
nhân, tăng cường liên kết FDI nội địa, lồng ghép chuyển đổi số chuyển đổi xanh vào
mọi chính sách, phát triển vùng đô thị hóa bền vững, nâng chuẩn quản trị công an
sinh hội. Khi những phương hướng ấy được thực hiện nhất quán dựa trên kiểm
chứng thực tiễn, nền kinh tế nhiều thành phần sẽ tiếp tục cấu trúc hợp của thời kỳ quá
độ, vừa giải phóng tổ chức nguồn lực quốc gia, vừa bảo đảm mục tiêu phát triển con
người, hướng tới một hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Tài liệu tham khảo
Ban Kinh tế Trung ương. (2020, 19 tháng 5). tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát
triển kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội. Kinh tế Trung
ương. https://kinhtetrunguong.vn/web/guest/tu-lieu-van-kien/tu-tuong-cua-chu-tich-ho-chi-
minh-ve-phat-trien-kinh-te-nhie.html
Cổng thông tin điện tử tỉnh Bạc Liêu. (2020, 7 tháng 8). Quan điểm của Hồ Chí Minh về
thành phần kinh tế sự vận dụng của Đảng ta. https://tct.baclieu.gov.vn/-/quan-%C4%91i
%E1%BB%83m-c%E1%BB%A7a-h%E1%BB%93-ch%C3%AD-minh-v%E1%BB%81-th
%C3%A0nh-ph%E1%BA%A7n-kinh-t%E1%BA%BF-v%C3%A0-s%E1%BB%B1-v%E1%BA
%ADn-d%E1%BB%A5ng-c%E1%BB%A7a-%C4%90%E1%BA%A3ng-ta
Đảng Cộng sản Việt Nam. (1986–2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII,
VIII, IX, X, XI, XII, XIII. Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hiến pháp nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam. (1992). Nội: Nxb Chính trị quốc
gia Sự thật.
Hiến pháp nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam. (2013). Nội: Nxb Chính trị quốc
gia Sự thật.
Hồ Chí Minh. (2011). . In (Tập 12). Nội: Nxb Thường thức chính trị Hồ Chí Minh Toàn tập
Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Quang Thuấn. (2025, 23 tháng 5). Sự phát triển nhận thức của Đảng Cộng sản Việt
Nam về nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa qua gần 40 năm tiến hành công
cuộc đổi mới. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-
dung-dang/-/2018/1086902/su-phat-trien-nhan-thuc-cua-dang-cong-san-viet-nam-ve-nen-
kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-qua-gan-40-nam-tien-hanh-cong-cuoc-doi-
moi.aspx
Nguyễn Thị Liên. (2022, 13 tháng 1). Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nền
kinh tế nhiều thành phần sự vận dụng của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới. Tạp chí Tổ chức
Nhà nước. https://tcnn.vn/news/detail/53275/Quan-diemcua-Chu-tich-Ho-Chi-Minh-ve-
xaydung-nen-kinh-te-nhieu-thanh-phan-va-su-vandung-cua-Dang-ta-trong-thoi-ky-
doimoi.html
Quốc hội nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam. (1999, 2005, 2014, 2020). Luật Doanh
nghiệp. Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam. (2005, 2014, 2020). . Luật Đầu
Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam. (2012). . Nội: Nxb Luật Hợp tác
Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam. (2018). . Nội: Nxb Luật Cạnh tranh
Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam. (2019). . Nội: NxbBộ luật Lao động
Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam. (2019). . Nội: Luật Chứng khoán
Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. (2021). . Nội: Nxb Giáo trình tưởng Hồ Chí Minh
Chính trị quốc gia Sự thật.

Preview text:

TIỂU LUẬN
Đề tài: Quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ
quá độ lên CNXH và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế hiện nay MỞ BÀI
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh là người sáng lập và lãnh đạo Đảng Cộng
sản Việt Nam, đồng thời là người đặt nền móng cho hệ thống tư tưởng cách mạng Việt Nam
trong thế kỷ XX. Một trong những nội dung cốt lõi trong tư tưởng kinh tế của Người là quan
điểm về cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây
không phải là sự ngẫu nhiên mà là kết quả của quá trình vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác
– Lênin vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam, một đất nước thuộc địa nửa phong kiến, lạc
hậu, vừa giành được độc lập dân tộc sau hàng chục năm chiến tranh.
Việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn sâu sắc. Về mặt lý luận, nó khẳng định sự đúng đắn của học thuyết Mác –
Lênin khi cho rằng trong thời kỳ quá độ, tất yếu tồn tại nhiều hình thức sở hữu và nhiều
thành phần kinh tế đan xen. Về mặt thực tiễn, nó cho thấy tính mềm dẻo, linh hoạt và sáng
tạo của Hồ Chí Minh khi vận dụng vào điều kiện Việt Nam, góp phần quan trọng đưa nền
kinh tế vượt qua khủng hoảng, khắc phục hậu quả chiến tranh, từng bước đi lên con đường xã hội chủ nghĩa.
Trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam tiếp tục xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, việc nhìn lại và phân tích quan điểm này càng có ý nghĩa. Nó không chỉ
giúp nhận diện rõ cơ sở lý luận, thực tiễn mà còn chỉ ra sự kế thừa, phát triển trong đường
lối kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội VI (1986) đến nay.
Chính vì vậy, bài tiểu luận này tập trung vào hai nội dung chính:
(1) Tìm hiểu và phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu nền kinh tế nhiều thành
phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
(2) Phân tích sự vận dụng quan điểm trên của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc
xây dựng nền kinh tế hiện nay.
2. SỞ HÌNH THÀNH TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
CẤU KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN
2.1. sở luận
Cơ sở lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trước hết bắt
nguồn từ học thuyết Mác – Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trên lập trường
duy vật lịch sử, thời kỳ quá độ được hiểu là một giai đoạn lịch sử có tính trung gian, trong đó
quan hệ sản xuất mới chưa thể thiết lập trọn vẹn ngay lập tức, còn quan hệ sản xuất cũ
chưa bị thủ tiêu hoàn toàn; vì thế các hình thức sở hữu và loại hình kinh tế khác nhau cùng
tồn tại và vận động trong một chỉnh thể thống nhất chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân
và nhà nước của nhân dân lao động. Tư duy đó được Lênin hiện thực hóa trong Chính sách
kinh tế mới, với việc thừa nhận các nấc thang phát triển và những hình thái kinh tế xen cài,
coi việc sử dụng những hình thức trung gian như tư bản nhà nước là cầu nối để phát triển
lực lượng sản xuất và tạo dựng nền tảng vật chất – kỹ thuật cho chế độ mới. Các tổng thuật
lý luận trong giáo trình và tài liệu học thuật bằng tiếng Việt đều nhấn mạnh tính quy luật của
trạng thái nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, cũng như sự cần thiết phải tổ chức chúng
theo định hướng xã hội chủ nghĩa thay vì xóa bỏ bằng mệnh lệnh duy ý chí.
Hồ Chí Minh tiếp thu tinh thần đó và diễn đạt thành một khung tư tưởng gần gũi với thực
tiễn Việt Nam. Trong tác phẩm Thường thức chính trị, Người xác định rõ các thành phần
kinh tế đang đồng thời tồn tại ở nước ta, nêu lên thuộc tính và vai trò của từng thành phần
trong một nền kinh tế còn ở trình độ sản xuất nhỏ, đồng thời chỉ ra cách thức nhà nước dân
chủ nhân dân quản lý, định hướng và cải tạo chúng. Việc xác định rõ cấu trúc nhiều thành
phần không nhằm đối lập cứng nhắc giữa cũ và mới, mà nhằm thiết kế chính sách phù hợp
với động cơ và khả năng của từng thành phần, từ đó huy động toàn bộ nguồn lực xã hội
phục vụ mục tiêu phát triển. Những hệ thống hóa hiện nay về tư tưởng kinh tế của Hồ Chí
Minh đều ghi nhận điểm xuất phát lý luận này như nội dung nền tảng để nhận diện mô hình quá độ ở Việt Nam.
Một nội dung mang tính nguyên lý mà Hồ Chí Minh phát triển là cách nhìn biện chứng đối
với sở hữu và thành phần kinh tế. Từ thực tiễn Việt Nam, Người khái quát các hình thức sở
hữu cơ bản gồm sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện; sở hữu tập thể dưới dạng hợp tác
xã; sở hữu của người lao động riêng lẻ; và sở hữu tư liệu sản xuất của nhà tư bản. Từ kết
cấu sở hữu đó tất yếu sinh ra các thành phần kinh tế tương ứng, cho nên nền kinh tế nhiều
thành phần trong thời kỳ quá độ là khách quan, chứ không phải sự sắp đặt tình thế. Tài liệu
học thuật trong nước đã dẫn lại và phân tích chuỗi lập luận này, làm rõ logic từ cấu trúc sở
hữu tới mô hình thành phần và tới yêu cầu định hướng xã hội chủ nghĩa trong sử dụng các thành phần đó.
Tính chất nhiều thành phần được Hồ Chí Minh mô tả cụ thể bằng một bản đồ thành phần
với sáu bộ phận chủ yếu ở vùng tự do thời kháng chiến chống Pháp: kinh tế địa chủ phong
kiến bóc lột địa tô; kinh tế quốc doanh với tính chất xã hội chủ nghĩa; các hợp tác xã tiêu thụ
và cung cấp mang tính nửa xã hội chủ nghĩa; kinh tế cá thể của nông dân và thợ thủ công;
kinh tế tư bản tư nhân; và kinh tế tư bản nhà nước khi nhà nước cùng hùn vốn và lãnh đạo.
Bản đồ này vừa là mô tả thực trạng, vừa là cơ sở để xác lập chính sách khác biệt theo bản
chất, xu hướng và ích lợi của từng thành phần đối với nền kinh tế quốc dân. Những tư liệu
chính thống hiện nay đã trích dẫn nguyên văn phân loại sáu thành phần nói trên, qua đó cho
thấy độ chính xác và tính hệ thống của tư tưởng về cấu trúc nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ.
Từ nhận diện cấu trúc, Hồ Chí Minh đề xuất một hệ các nguyên tắc điều tiết nhằm bảo đảm
các thành phần vận hành trong một quỹ đạo chung. Bốn nguyên tắc được Người khẳng định
gồm công tư đều có lợi, chủ thợ đều có lợi, công nông giúp nhau và lưu thông trong ngoài.
Công tư đều có lợi nhấn mạnh vị trí nền tảng của khu vực quốc doanh đồng thời khẳng định
không gian phát triển hợp pháp của kinh tế tư nhân trong khuôn khổ phục tùng lợi ích đại đa
số. Chủ thợ đều có lợi đặt yêu cầu kết hợp giữa bảo vệ quyền lợi của người lao động với
bảo đảm tỷ suất lợi nhuận hợp lý cho nhà tư bản dân tộc để duy trì động lực đầu tư. Công
nông giúp nhau xác lập liên minh giữa công nghiệp và nông nghiệp về cả kinh tế lẫn xã hội.
Lưu thông trong ngoài khẳng định vai trò tất yếu của giao thương đối ngoại đối với kiến
thiết, miễn là đặt dưới kế hoạch và lợi ích quốc gia. Các văn bản chính thống và bài tổng
thuật đều ghi nhận bốn nguyên tắc như mấu chốt chính sách để phát triển một nền kinh tế
nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ góc nhìn phương pháp, tư tưởng Hồ Chí Minh nhấn mạnh cách tiếp cận tuần tự, linh
hoạt và dựa trên thực nghiệm. Mỗi bước đi cần gắn với điều kiện cụ thể của lực lượng sản
xuất, phải có thí điểm, có tổng kết, có điều chỉnh, tránh khuynh hướng nóng vội duy ý chí
cũng như khuynh hướng thỏa hiệp với những lợi ích đi ngược mục tiêu của số đông. Cách
tiếp cận phương pháp luận này trực tiếp liên hệ với kinh nghiệm của chủ nghĩa Mác – Lênin
khi xử lý mối quan hệ giữa mục tiêu xã hội chủ nghĩa và phương thức thị trường. Nhờ đó,
mô hình nhiều thành phần không bị xem là sự nhượng bộ tạm thời mà được nhìn nhận như
công cụ tổ chức hiệu quả nguồn lực trong giai đoạn tích lũy và chuẩn bị điều kiện vật chất –
kỹ thuật cho những bước cải biến sâu hơn về quan hệ sản xuất. Các bài viết nghiên cứu
chính thống cũng đặt nhấn mạnh ở điểm này khi diễn giải ý nghĩa hiện thời của tư tưởng Hồ
Chí Minh đối với quản trị phát triển.
Một điểm gắn kết giữa lý luận và chính sách là mối quan hệ giữa thị trường và định hướng
xã hội chủ nghĩa. Trong khung tư tưởng của Hồ Chí Minh, thị trường không bị đồng nhất với
một chế độ xã hội nhất định mà được nhìn như cơ chế phân bổ nguồn lực có thể và cần
phải được sử dụng, miễn là mục tiêu và phương thức điều tiết bảo đảm lợi ích của đại đa số
nhân dân. Từ sau Đổi mới, nhận thức này được Đảng Cộng sản Việt Nam khái quát thành
mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa tôn trọng các quy luật thị
trường, vừa khẳng định vai trò định hướng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cơ
chế phân phối gắn với công bằng và tiến bộ, cùng với việc phát triển đồng bộ các loại thị
trường và hoàn thiện khung pháp luật. Các tổng kết lý luận gần đây đã coi đây là sự phát
triển sáng tạo từ nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp quy luật thời kỳ quá độ trong điều
kiện hội nhập quốc tế sâu rộng.
Lý luận của Hồ Chí Minh về kinh tế nhiều thành phần còn đề cao vai trò của lưu thông và
phân phối trong chỉnh thể nền kinh tế quốc dân. Người chỉ rõ nông nghiệp, công nghiệp và
thương nghiệp liên hệ mật thiết, trong đó thương nghiệp là khâu trung gian gắn kết nông
nghiệp với công nghiệp. Quan điểm này dẫn tới hệ quả chính sách rằng phải tổ chức lại lưu
thông và phân phối để giảm chi phí giao dịch, mở rộng thị trường và nâng hiệu quả chung,
đồng thời bảo đảm công bằng xã hội trong tiếp cận hàng hóa, dịch vụ. Những khảo cứu gần
đây của Tạp chí Cộng sản đã hệ thống hóa và chứng minh tính thời sự của kết luận đó, nhất
là khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường và hội nhập ở trình độ cao.
Từ nền tảng lý luận ấy, Hồ Chí Minh xác lập một trật tự ưu tiên về công cụ và chính sách.
Với khu vực quốc doanh, trọng tâm là quản trị theo chuẩn mực hiện đại, kỷ luật tài chính và
trách nhiệm giải trình đi đôi với việc lựa chọn lĩnh vực then chốt liên quan lợi ích công cộng.
Với hợp tác xã, trọng tâm là nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng và hiệu quả dịch vụ
cho thành viên, xem đó là hình thức trung gian thích hợp để nâng hiệu quả của sản xuất
nhỏ, nhất là trong nông nghiệp. Với khu vực cá thể, trọng tâm là bảo hộ quyền sở hữu,
hướng dẫn cải tiến kỹ thuật, hỗ trợ tham gia hợp tác xã khi đủ điều kiện. Với khu vực tư bản
tư nhân, trọng tâm là khuyến khích hoạt động vì quốc kế dân sinh trong khuôn khổ kế hoạch
và pháp luật, đồng thời đặt các ràng buộc về lao động và môi trường để bảo vệ lợi ích số
đông. Với tư bản nhà nước, trọng tâm là chuẩn hóa hợp đồng công tư, phân bổ rủi ro hợp lý
và giữ quyền lãnh đạo của nhà nước trong các lĩnh vực chiến lược. Các đoạn trích và tổng
thuật chính thống về Thường thức chính trị đã ghi nhận hệ thống định hướng như vậy một cách nhất quán.
Cùng với cấu trúc và nguyên tắc, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến chuẩn mực tổ chức thực
hiện. Trong nhiều chỉ dẫn, Người yêu cầu kết hợp cải tạo với xây dựng, trong đó xây dựng
là chủ yếu và lâu dài; tạo điều kiện phát triển cho mọi thành phần kinh tế trong khuôn khổ lợi
ích chung; phát huy sức dân và tài dân; nâng kỷ luật lao động và liêm chính công vụ; ổn
định thị trường và tiền tệ; coi trọng giáo dục, khoa học và công nghệ như động lực phát triển
lực lượng sản xuất. Các nghiên cứu trong nước đã hệ thống hóa các chỉ dẫn này và coi đó
là phương pháp luận của thời kỳ quá độ, giúp chuyển hóa những nguyên lý về nhiều thành
phần thành các thiết kế chính sách có thể kiểm chứng bằng hiệu quả thực tế.
Cơ sở lý luận còn thể hiện ở sự phân biệt rành mạch giữa thành quả dân chủ và mục tiêu
xã hội chủ nghĩa. Những cải cách như người cày có ruộng được nhìn nhận là điều kiện lịch
sử tất yếu để giải phóng sức sản xuất và tạo nền tảng xã hội cho bước đi tiếp theo, nhưng
không đồng nhất với chủ nghĩa xã hội về thực chất. Chủ nghĩa xã hội theo tư duy của Hồ
Chí Minh đòi hỏi sự thay đổi về quan hệ sở hữu ở tầm vĩ mô đi liền với quá trình phát triển
lực lượng sản xuất hiện đại và nâng cao đời sống nhân dân. Tư duy phân bậc này giúp
tránh được cả cực đoan phủ định thị trường lẫn cực đoan tôn thờ thị trường, bởi vì nó đặt
mọi phương thức tổ chức vào quỹ đạo mục tiêu lấy lợi ích của đa số nhân dân làm chuẩn
mực. Các chuyên luận và tổng kết chính thống về nhận thức của Đảng sau gần bốn mươi
năm Đổi mới cũng duy trì cách phân định ấy khi khẳng định mô hình kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa là kết quả phát triển từ nền tảng tư tưởng của Người.
Tổng hợp lại, cơ sở lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là
một chỉnh thể có cấu trúc gồm ba trụ cột. Thứ nhất, khung nhận thức về thời kỳ quá độ của
học thuyết Mác – Lênin, nhấn mạnh tính khách quan của trạng thái nhiều hình thức sở hữu
và nhiều thành phần kinh tế, cùng yêu cầu sử dụng những hình thức trung gian để phát triển
lực lượng sản xuất. Thứ hai, sự nội địa hóa sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam thông qua
nhận diện cụ thể sáu thành phần và bốn nguyên tắc điều tiết, biến những nguyên lý trừu
tượng thành bản đồ chính sách thích ứng. Thứ ba, phương pháp tổ chức thực hiện theo
hướng tuần tự, linh hoạt, dựa trên tổng kết thực tiễn, lấy lợi ích của nhân dân làm chuẩn
kiểm nghiệm. Ba trụ cột này không chỉ giải thích vì sao nền kinh tế nhiều thành phần là tất
yếu trong thời kỳ quá độ, mà còn cho biết phải vận hành nó như thế nào để không rơi khỏi
định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời bảo đảm hiệu quả và công bằng trong toàn bộ quá trình phát triển.
2.2. sở thực tiễn
Cơ sở thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trước hết
xuất phát từ tình trạng lịch sử – xã hội cụ thể của Việt Nam khi giành được độc lập. Đất
nước bước ra từ chế độ thuộc địa nửa phong kiến với một nền sản xuất lạc hậu, kết cấu hạ
tầng nghèo nàn và đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Nền công nghiệp hiện đại hầu như
chưa hình thành theo đúng nghĩa; khu vực nông nghiệp dựa trên sản xuất nhỏ, công cụ thủ
công, ruộng đất phân tán; thương nghiệp chủ yếu do tư nhân nắm giữ dưới dạng buôn bán
nhỏ và đại lý. Đời sống văn hóa – giáo dục chịu hệ lụy của thời kỳ đô hộ kéo dài, tỷ lệ mù
chữ cao, sức khỏe cộng đồng suy kiệt. Ngay trong năm đầu của nền độc lập, nạn đói và tình
trạng tài chính quốc gia trống rỗng đã đặt chính quyền cách mạng vào thử thách sinh tử.
Trong hoàn cảnh như vậy, bất kỳ chủ trương nào về xây dựng quan hệ sở hữu và mô hình
kinh tế đều buộc phải dựa trên nguyên tắc “vừa xây, vừa chống”, vừa giữ vững chính quyền
nhân dân, vừa đảm bảo phục hồi sản xuất, ổn định xã hội và nuôi dưỡng lực lượng cách mạng.
Từ thực tiễn ấy, yêu cầu cấp bách đặt ra là phải huy động tối đa mọi nguồn lực có thể huy
động được cho sản xuất và đời sống. Ở bình diện tổ chức kinh tế, điều đó có nghĩa là thừa
nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế trong một thời gian
lịch sử nhất định. Việc thừa nhận này không phải là sự “nhượng bộ” về nguyên tắc, mà là
kết quả của việc nhận diện đúng trình độ lực lượng sản xuất: trong một nền kinh tế sản xuất
nhỏ, nếu vội vàng áp đặt các mô hình tổ chức của xã hội tương lai sẽ chỉ dẫn đến đình trệ
và khủng hoảng. Trái lại, cần tạo ra những “điểm tựa” trung gian để kích hoạt năng suất
ngay trong lòng xã hội cũ, từ hộ nông dân, thợ thủ công, thương nhân nhỏ, cho tới nhà tư
sản dân tộc; đồng thời mở rộng dần khu vực quốc doanh ở những vị trí then chốt. Tư duy ấy
có cơ sở thực tiễn rõ ràng ở Việt Nam, nơi cấu trúc xã hội rất đa dạng, với những lợi ích và
tập quán kinh tế – xã hội khác nhau cùng tồn tại sau khi ách thuộc địa bị lật đổ.
Yêu cầu “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” trong giai đoạn 1945–1954 càng củng cố tính tất
yếu của cơ cấu nhiều thành phần. Nhiệm vụ quân sự và hậu cần đòi hỏi phải duy trì một
nền sản xuất đủ sức tự cấp những nhu cầu thiết yếu, đồng thời xây dựng được các cơ sở
công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp phục vụ kháng chiến và đời sống dân sinh.
Nếu chỉ dựa vào khu vực quốc doanh còn non trẻ, nền kinh tế khó lòng đáp ứng được các
nhu cầu tức thời; và nếu buông lỏng quản lý, để tự phát thị trường lấn át, lợi ích của số
đông sẽ bị tổn hại. Cách tiếp cận thực tiễn mà Hồ Chí Minh chủ trương là huy động toàn bộ
lực lượng sản xuất sẵn có, gắn chúng vào những mục tiêu thống nhất, đồng thời thiết lập kỷ
luật quản lý để tránh rối loạn. Chính vì vậy, những nguyên tắc như công tư đều có lợi, chủ
thợ đều có lợi, công nông giúp nhau, lưu thông trong – ngoài không chỉ là khẩu hiệu chính trị
mà là kết tinh của trải nghiệm quản trị trong một nền kinh tế chiến tranh.
Cấu trúc kinh tế nhiều thành phần trong thực tế kháng chiến được thể hiện trước hết ở nông
thôn. Nông nghiệp là mặt trận hàng đầu của kinh tế kháng chiến, nơi hộ gia đình nông dân
là đơn vị lao động cơ bản. Để bảo đảm lương thực và nguyên liệu, chính quyền cách mạng
phải thừa nhận và bảo hộ sản xuất của kinh tế hộ, đồng thời thúc đẩy các hình thức hợp tác
giản đơn phù hợp với tập quán địa phương. Việc phát triển hợp tác xã tiêu thụ, cung cấp và
tín dụng ở mức độ thích hợp đã giúp nông dân tiếp cận vật tư, bình ổn giá cả và tiêu thụ sản
phẩm, hạn chế tình trạng bị ép giá bởi thương lái đầu mối. Thực tiễn ấy cho thấy không thể
bỏ qua sức mạnh của sản xuất nhỏ nếu muốn bảo đảm hậu cần cho kháng chiến và đời
sống nhân dân, đồng thời hợp tác xã trở thành “nấc thang” tổ chức phù hợp để nâng cao
hiệu quả của sản xuất nhỏ trong thời kỳ quá độ.
Ở khu vực đô thị và những vùng giải phóng, thương nghiệp và thủ công nghiệp tư nhân có
vai trò điều hòa cung – cầu, nối kết sản xuất với tiêu dùng. Trong điều kiện chiến tranh, nếu
không tận dụng mạng lưới thương nhân, các kênh phân phối sẽ bị tắc nghẽn, giá cả rối loạn
và lãng phí nguồn lực. Thừa nhận hoạt động của kinh tế tư nhân, song đặt nó dưới sự
hướng dẫn và kiểm soát bằng thuế khóa, giấy phép và quy chế lưu thông, là cách vừa giữ
được sức sống của lưu thông, vừa bảo đảm kỷ luật thị trường phù hợp với mục tiêu chung.
Mặt khác, nhà nước từng bước xây dựng các cơ sở quốc doanh ở những khâu then chốt
như tài chính, ngân khố, ngoại thương, một số cơ sở công nghiệp nền tảng; qua đó hình
thành năng lực vật chất – kỹ thuật và quản trị cần thiết cho vai trò lãnh đạo của kinh tế nhà nước về sau.
Một cơ sở thực tiễn dễ thấy khác là sự đa dạng về vùng miền và mức độ phát triển ngay
trong cùng một thời điểm lịch sử. Giữa miền núi và đồng bằng, giữa thành thị và nông thôn,
giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm tồn tại những khác biệt lớn về khả năng tiếp cận nguồn
lực, trình độ tổ chức sản xuất và cơ hội thị trường. Một chính sách đồng nhất, áp dụng cứng
nhắc sẽ khó phát huy tác dụng và có thể tạo ra phản ứng ngược. Vì vậy, phương pháp “đi
từng bước, chắc từng bước” với thí điểm – tổng kết – nhân rộng là lựa chọn hợp lý: nơi nào
đủ điều kiện thì phát triển các hình thức hợp tác và quốc doanh, nơi nào lực lượng sản xuất
còn rất thấp thì tôn trọng kinh tế hộ và tiểu thủ công, chú trọng giáo dục, y tế, kết cấu hạ
tầng và phổ biến kỹ thuật. Sự nhạy cảm đối với tính đa dạng không chỉ là kỹ thuật chính
sách, mà là một yêu cầu phương pháp luận chi phối toàn bộ tư duy về thời kỳ quá độ.
Sau năm 1954, bối cảnh thực tiễn tiếp tục củng cố tư duy nhiều thành phần. Miền Bắc bước
vào thời kỳ quá độ xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đồng thời phải
chi viện cho miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhiệm vụ kép này đặt ra bài toán
cân đối hết sức phức tạp giữa công nghiệp hóa, nông nghiệp và tiêu dùng dân sinh. Nhà
nước phải vừa mở rộng khu vực quốc doanh và hợp tác xã, vừa duy trì khu vực cá thể trong
những lĩnh vực mà công – tư chưa thể thay thế ngay, đồng thời khuyến khích các mô hình
liên doanh, liên kết phù hợp với điều kiện nguồn lực khan hiếm. Ở một số ngành, hình thức
“tư bản nhà nước” được sử dụng như công cụ tổ chức lại sản xuất và phân phối, kết hợp kỷ
luật quản lý của khu vực công với sự linh hoạt, kinh nghiệm thị trường của khu vực tư.
Những kinh nghiệm ấy, dù có thăng trầm, đã rèn luyện năng lực thể chế cho nền kinh tế về
sau, khi cả nước thống nhất và bước vào giai đoạn xây dựng trong hòa bình.
Thực tiễn miền Nam trước năm 1975 lại gợi mở một khía cạnh khác: dù chịu ảnh hưởng
sâu của cơ chế kinh tế tư bản chủ nghĩa, khu vực doanh thương dân tộc vẫn bộc lộ tiềm
năng tổ chức sản xuất, lưu thông và tích lũy vốn. Sau thống nhất, bài toán đặt ra là làm thế
nào để chuyển hóa các năng lực đó vào quỹ đạo phát triển chung, vừa tránh gây đứt gãy
sinh kế, vừa ngăn ngừa xu hướng đầu cơ, thao túng và bất bình đẳng. Câu trả lời thực tiễn
là sử dụng kết hợp các công cụ pháp luật, thuế, tín dụng, quy hoạch; đồng thời hình thành
các “cửa ngõ” hợp tác giữa khu vực công với tư nhân trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ,
thương mại, dịch vụ, xây dựng cơ bản. Nhìn từ góc độ phương pháp, đó vẫn là tinh thần “sử
dụng, cải tạo và phát triển” các thành phần trong quỹ đạo định hướng xã hội chủ nghĩa, thay
vì áp đặt các mệnh lệnh hành chính thiếu cơ sở thực tiễn.
Một thực tế căn bản khác là trình độ khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực của nền kinh
tế. Ở giai đoạn đầu, cơ cấu lao động của Việt Nam thiên về nông nghiệp, tỷ lệ lao động kỹ
thuật thấp, giáo dục phổ thông và dạy nghề còn thiếu. Với nền tảng như vậy, việc kỳ vọng
ngay vào các hình thức sản xuất có cường độ công nghệ cao là không thực tế. Cần một lộ
trình tích lũy dần về kỹ năng, kỷ luật lao động và năng lực quản trị, trong đó mỗi thành phần
kinh tế đảm đương một phần việc phù hợp với lợi thế của mình. Kinh tế hộ và doanh nghiệp
nhỏ là “trường học” của kỷ luật thị trường và tinh thần doanh nghiệp; hợp tác xã là nơi rèn
luyện năng lực hợp tác, chuẩn hóa quy trình; doanh nghiệp nhà nước là nơi tích lũy và
chuyển giao công nghệ cơ bản; khu vực đầu tư nước ngoài là kênh tiếp cận nhanh mạng
lưới thị trường và chuẩn mực quản trị. Khi nguồn nhân lực được nâng cấp, cấu trúc thành
phần sẽ chuyển dịch một cách tự nhiên theo hướng gia tăng vai trò của các hình thức có
mức độ xã hội hóa cao hơn.
Kinh nghiệm quản lý kinh tế trong thời chiến và thời bình cho thấy vai trò quyết định của lưu
thông và phân phối. Ở một nền kinh tế còn thiếu thốn, việc tổ chức thị trường, bình ổn giá
cả, bảo đảm cung ứng vật tư thiết yếu và lương thực có ý nghĩa sống còn. Nếu để lưu thông
đứt gãy, sản xuất sẽ đình trệ; nếu để lưu thông phóng túng, đầu cơ và chèn ép sẽ phá vỡ
mặt bằng đời sống. Sự cân bằng giữa hai cực ấy đòi hỏi một hệ công cụ linh hoạt: mạng
lưới thương nghiệp nhà nước giữ vai trò “mỏ neo” ở những mặt hàng thiết yếu; khu vực tư
nhân tham gia rộng rãi nhưng tuân thủ luật chơi rõ ràng; hệ thống hợp tác xã tiêu thụ và tín
dụng hỗ trợ các tác nhân yếu thế trong tiếp cận thị trường. Những bài học thực tiễn từ tổ
chức lưu thông chính là “chứng minh sống” cho nguyên tắc lưu thông trong – ngoài và công
nông giúp nhau trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Một cơ sở thực tiễn nữa là quan hệ đối ngoại và yêu cầu hội nhập theo từng thời đoạn.
Ngay trong thời chiến, Việt Nam đã hình thành năng lực giao lưu kinh tế với bên ngoài ở
mức độ phù hợp với điều kiện quốc tế, để bổ sung vật tư, máy móc, thiết bị và kinh nghiệm
quản lý. Khi hòa bình lập lại, bối cảnh khu vực và thế giới thay đổi nhanh chóng tạo ra cả cơ
hội lẫn thách thức: cơ hội tiếp cận vốn, công nghệ, thị trường; thách thức cạnh tranh, phụ
thuộc và những ràng buộc tiêu chuẩn. Thực tiễn ấy đặt ra bài toán “mở có điều kiện”, vừa
khuyến khích tác nhân tư nhân và đầu tư nước ngoài tham gia, vừa củng cố năng lực điều
tiết của Nhà nước và năng lực tự cường của doanh nghiệp trong nước. Nhìn từ góc độ
phương pháp, đó chính là sự kéo dài logic của nguyên tắc lưu thông trong – ngoài trong một
bối cảnh mới có độ phức tạp cao hơn.
Sau khi đất nước thống nhất, những năm đầu xây dựng lại đặt nền kinh tế trước một loạt
ràng buộc đồng thời: cơ sở vật chất kiệt quệ, nguồn lực tài chính hạn chế, cơ chế quản lý
còn nặng tính bao cấp và kế hoạch hóa mệnh lệnh, trong khi nhu cầu nâng cao đời sống
nhân dân lại cấp thiết. Thực tiễn này cho thấy mô hình tổ chức kinh tế cần tạo không gian
cho các chủ thể ngoài nhà nước phát huy vai trò trong sản xuất và lưu thông, đồng thời tiếp
tục củng cố vai trò của khu vực nhà nước ở những lĩnh vực nền tảng. Đó là môi trường thực
tế khiến tư tưởng “nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu” càng trở nên rõ nghĩa và có
sức thuyết phục như một bước đi phù hợp quy luật, giúp giải phóng lực lượng sản xuất và
tạo đà cho quá trình cải cách thể chế sau này.
Tổng kết thực tiễn nhiều thập niên, có thể thấy một điểm xuyên suốt: tính đa dạng thành
phần không phải là sự thỏa hiệp nhất thời, mà là bối cảnh khách quan của một nền kinh tế
đi lên từ sản xuất nhỏ, lại phải trải qua chiến tranh và bao vây cấm vận, rồi mới bước vào
thời kỳ hòa bình xây dựng. Mỗi giai đoạn, tuỳ theo mục tiêu và điều kiện, Nhà nước điều
chỉnh vai trò tương đối giữa các thành phần và công cụ quản lý đi kèm, song nguyên tắc
chung không thay đổi: sử dụng các thành phần theo lợi thế, đặt chúng trong kỷ luật pháp
luật và định hướng chính sách, từng bước nâng cấp trình độ tổ chức, công nghệ và nguồn
nhân lực để tiến tới những hình thức sở hữu và tổ chức có mức độ xã hội hóa cao hơn.
Cơ sở thực tiễn cuối cùng cần nhấn mạnh là phương thức “học bằng làm” của cả bộ máy và
xã hội. Trong điều kiện nguồn lực hạn hẹp, sự thử nghiệm chính sách là tất yếu: nhiều mô
hình được thí điểm ở quy mô nhỏ, đánh giá hiệu quả, rồi điều chỉnh và nhân rộng. Chính
nhờ phương thức này, những nguyên tắc tư tưởng được chuyển hóa thành các thiết kế cụ
thể, không ngừng được kiểm chứng và hoàn thiện qua va chạm với đời sống. Các động lực
mới như chuyển đổi số, kinh tế tri thức, tiêu chuẩn xanh, cùng những biến động như đứt
gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, chỉ càng làm rõ giá trị của phương thức “thực học – thực làm”
ấy: mô hình nhiều thành phần đủ linh hoạt để thích ứng, miễn là kỷ luật thị trường, pháp luật
minh bạch và mục tiêu xã hội chủ nghĩa được giữ vững.
Tất cả những cơ sở thực tiễn kể trên hợp lại thành “đất sống” làm nảy nở và trưởng thành
tư tưởng của Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Chính từ thực tiễn khắc
nghiệt của một đất nước vừa giành độc lập, vừa phải chiến đấu bảo vệ nền tự do non trẻ,
vừa phải kiến thiết trong thiếu thốn trăm bề, mới có thể hình thành một tư tưởng kinh tế
không giáo điều, đề cao hiệu quả và lợi ích của đại đa số, đồng thời đặt ra những nguyên
tắc đủ rõ để dẫn dắt mọi thành phần vận động trong cùng một quỹ đạo phát triển. Nhờ vậy,
khi bước vào thời kỳ đổi mới, đường lối của Đảng có sẵn một điểm tựa vững chắc cả về lý
luận và về trải nghiệm quản trị, để tổ chức lại nền kinh tế theo mô hình thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa mà không đánh mất mục tiêu lâu dài của con đường xã hội chủ nghĩa.
3. QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CẤU KINH TẾ
NHIỀU THÀNH PHẦN
Quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần hình thành trên nền
tảng duy vật lịch sử và thấm đẫm trải nghiệm quản trị một đất nước đi lên từ sản xuất nhỏ,
vừa chiến đấu vừa kiến thiết. Hạt nhân của quan điểm ấy là sự khẳng định tính khách quan
của trạng thái nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời nhấn
mạnh trách nhiệm của Nhà nước dân chủ mới trong việc tổ chức, điều tiết và dẫn dắt các
thành phần ấy vận động theo quỹ đạo xã hội chủ nghĩa. Cách đặt vấn đề không xem sự đa
dạng thành phần như một sự nhượng bộ tạm thời, mà như một cấu trúc phát triển có quy
luật, trong đó mỗi thành phần có chỗ đứng, chức năng và lộ trình chuyển hóa phù hợp với
trình độ lực lượng sản xuất và mục tiêu phát triển chung.
Trước hết, Hồ Chí Minh xuất phát từ sự thật lịch sử rằng sau khi giành độc lập, nền kinh tế
Việt Nam tồn tại đồng thời nhiều hình thức sở hữu và nhiều loại hình tổ chức sản xuất.
Người mô tả một “bản đồ thành phần” gồm kinh tế quốc doanh mang tính chất xã hội chủ
nghĩa; kinh tế hợp tác xã và các hình thức liên kết trung gian; kinh tế cá thể của nông dân,
thợ thủ công và người buôn bán nhỏ; kinh tế tư bản tư nhân; và hình thức tư bản nhà nước
khi Nhà nước hùn vốn, quản trị và giữ quyền lãnh đạo. Ở giai đoạn đầu của kháng chiến,
tàn tích của kinh tế địa chủ phong kiến còn tồn tại và phải bị xóa bỏ bằng các biện pháp
cách mạng dân chủ. Sự phân loại đó không nhằm đóng khung cứng nhắc, mà để chỉ ra rằng
trong một nền kinh tế quá độ, các thành phần có bản chất khác nhau sẽ cùng tồn tại trong
một thời gian lịch sử và cần được “dùng đúng chỗ”, “quản lý đúng mức” và “cải tạo đúng cách”.
Đi đôi với nhận diện cấu trúc là một hệ nguyên tắc điều tiết, được Hồ Chí Minh khái quát
vắn gọn nhưng có sức gợi mở lớn. Nguyên tắc công tư đều có lợi khẳng định vai trò nền
tảng và dẫn dắt của khu vực quốc doanh, song đồng thời mở không gian phát triển hợp
pháp cho khu vực tư nhân trong khuôn khổ phục vụ lợi ích đông đảo nhân dân. Quan hệ
giữa Nhà nước và tư nhân được thiết kế trên cơ sở lợi ích cùng chia sẻ: Nhà nước tạo môi
trường pháp lý minh bạch, đầu tư kết cấu hạ tầng, định hướng bằng kế hoạch và chính
sách; tư nhân mang vốn, sáng kiến và năng lực thị trường vào sản xuất, lưu thông, dịch vụ.
Nguyên tắc chủ thợ đều có lợi nhấn mạnh mục tiêu kết hợp hài hòa giữa bảo vệ quyền lợi
của người lao động với duy trì động lực đầu tư của người sử dụng lao động. Theo đó, pháp
luật về lao động, tiền lương, an sinh xã hội và an toàn nghề nghiệp phải được tổ chức song
song với cơ chế khuyến khích sáng tạo, tiết kiệm và nâng cao năng suất. Nguyên tắc công
nông giúp nhau xác lập liên minh kinh tế – xã hội nòng cốt, trong đó công nghiệp cung cấp
tư liệu sản xuất và dịch vụ cho nông nghiệp, còn nông nghiệp bảo đảm lương thực, nguyên
liệu, thị trường và lao động cho công nghiệp. Nguyên tắc lưu thông trong – ngoài coi trọng
vai trò của thương nghiệp, của tiền tệ và của giao lưu đối ngoại, nhấn mạnh rằng muốn kiến
thiết phải thông qua trao đổi, học hỏi, tiếp thu kỹ thuật và mở rộng thị trường, nhưng tất cả
đặt dưới yêu cầu giữ vững độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia.
Từ hệ nguyên tắc ấy, Hồ Chí Minh đề ra một phương pháp tổ chức thực hiện nhất quán: sử
dụng, cải tạo và phát triển. “Sử dụng” nghĩa là khai thác mọi năng lực còn hữu ích của các
thành phần phi xã hội chủ nghĩa để phục vụ sản xuất và đời sống, thay vì thủ tiêu chúng một
cách nóng vội. “Cải tạo” nghĩa là đặt các thành phần đó dưới khuôn khổ pháp luật, định
hướng và giáo dục, từng bước thay đổi quan hệ lợi ích và cách thức tổ chức để làm giảm
dần những yếu tố trái với mục tiêu xã hội chủ nghĩa. “Phát triển” nghĩa là tích lũy, mở rộng
và nâng cao các hình thức sở hữu xã hội chủ nghĩa thông qua kinh tế quốc doanh, hợp tác
xã và những mô hình liên kết công – tư phù hợp. Phương pháp này dựa trên lôgic của thời
kỳ quá độ: cái cũ không thể bị xóa bỏ trong một sớm một chiều, cái mới không thể trưởng
thành nếu thiếu nền tảng vật chất – kỹ thuật và văn hóa kỷ luật; do đó, chuyển hóa phải có
lộ trình, có thí điểm, có tổng kết và có điều chỉnh.
Một nội dung quan trọng trong quan điểm của Hồ Chí Minh là cách nhìn biện chứng đối với
sở hữu. Người phân biệt sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện; sở hữu tập thể của những
người lao động liên kết tự nguyện; sở hữu nhỏ của người lao động cá thể; và sở hữu tư
bản. Từ kết cấu sở hữu đó tất yếu sinh ra các thành phần kinh tế tương ứng. Nhiệm vụ của
Nhà nước là mở rộng dần tầm phủ của sở hữu toàn dân và tập thể ở những lĩnh vực then
chốt, nơi có tính trụ cột đối với an ninh kinh tế và phúc lợi công, đồng thời bảo hộ và hướng
dẫn sở hữu nhỏ, quản lý và điều tiết sở hữu tư bản dân tộc để cả hệ thống vận hành theo
lợi ích chung. Cách tiếp cận này không tuyệt đối hóa hình thức sở hữu nào trong ngắn hạn,
mà đặt chúng vào một trật tự chuyển hóa theo thời gian, dựa vào hiệu quả kinh tế và tiêu
chuẩn công bằng xã hội.
Trên bình diện vận hành, Hồ Chí Minh nhìn thị trường và kế hoạch như hai công cụ không
loại trừ nhau. Thị trường, thông qua giá cả và cạnh tranh, là cơ chế hữu hiệu để phát hiện
nhu cầu, phân bổ nguồn lực và tạo động lực tiết kiệm chi phí. Kế hoạch, thông qua mục tiêu
ưu tiên, chính sách tài khóa – tiền tệ và đầu tư công, là công cụ để định hướng lớn, điều
phối rủi ro vĩ mô, khắc phục những thất bại thị trường và bảo đảm mục tiêu xã hội. Vì vậy,
Người đề cao vai trò của thương nghiệp và tiền tệ, coi ổn định giá cả và lưu thông thông
suốt là điều kiện sống còn của sản xuất; đồng thời nhấn mạnh kỷ luật kế hoạch, tiết kiệm
công, liêm chính, chống tham ô, lãng phí. Tinh thần ấy biểu hiện thành quan điểm “coi trọng
cả sản xuất lẫn phân phối – lưu thông”, bởi nếu khâu lưu thông bị tắc nghẽn, mọi thành quả
ở khâu sản xuất sẽ mất tác dụng.
Về phân phối, quan điểm của Hồ Chí Minh gắn với nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng
theo lao động” trong khuôn khổ pháp luật và đạo lý. Trong thời kỳ quá độ, việc thừa nhận lợi
nhuận tư nhân và thu nhập chênh lệch là thực tế cần quản lý chứ không phủ định, miễn là
chúng được tạo ra từ hoạt động sản xuất – kinh doanh hợp pháp, chịu trách nhiệm thuế và
nghĩa vụ xã hội, không làm tổn hại lợi ích của số đông. Song song, Nhà nước phải tổ chức
hệ thống phúc lợi, trợ giúp và dịch vụ công để bảo đảm cơ hội tiếp cận cơ bản cho các
nhóm yếu thế, qua đó giữ vững tính công bằng và gắn kết xã hội. Ở đây, công bằng không
bị hiểu theo nghĩa cào bằng, mà theo nghĩa bảo đảm cơ hội và mức hưởng phù hợp với
đóng góp, cùng với mạng lưới an sinh chống lại các rủi ro mang tính hệ thống hoặc bất khả kháng.
Một nét đặc sắc khác là cách Hồ Chí Minh xử lý quan hệ giữa quốc doanh, hợp tác xã, tư
nhân và tư bản nhà nước như một hệ sinh thái chức năng. Kinh tế quốc doanh gánh vác
những lĩnh vực trụ cột như tài chính – tín dụng chủ chốt, năng lượng, kết cấu hạ tầng, một
số ngành công nghiệp nền tảng và dịch vụ công thiết yếu. Hợp tác xã là hình thức tổ chức
trung gian nhằm nâng cao hiệu quả của sản xuất nhỏ, giảm chi phí giao dịch, tăng khả năng
tiếp cận kỹ thuật, vốn và thị trường cho nông dân và người lao động. Kinh tế tư nhân được
khuyến khích phát triển trong khuôn khổ luật pháp, bởi nó là nguồn năng lượng linh hoạt,
sáng tạo và có khả năng mở rộng nhanh. Tư bản nhà nước là cơ chế liên kết vốn, quản trị
và rủi ro giữa Nhà nước và tư nhân, dùng cho những lĩnh vực cần huy động nguồn lực xã
hội lớn nhưng vẫn phải bảo đảm định hướng và an ninh kinh tế. Bốn cấu phần này không
đối kháng mà tương hỗ, mỗi cấu phần làm tốt phần việc của mình thì tổng thể sẽ vận hành hiệu quả.
Trong quan điểm của Hồ Chí Minh, xây dựng kinh tế nhiều thành phần luôn gắn với xây
dựng con người và đạo đức công vụ. Người đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải chí công vô tư,
liêm chính, gần dân, trọng dân, ghét tham nhũng và lãng phí; doanh nhân phải yêu nước, có
trách nhiệm xã hội, tôn trọng pháp luật, giữ chữ tín; người lao động phải kỷ luật, ham học
hỏi, nâng cao tay nghề. Đó không phải những lời răn chung chung, mà là các điều kiện cần
cho một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vận hành thông suốt: nhà nước
muốn kiến tạo phải liêm chính; thị trường muốn hiệu quả phải dựa trên niềm tin và pháp
luật; xã hội muốn ổn định phải dựa trên công bằng và nhân ái. Khi các chuẩn mực đạo đức
và pháp trị được củng cố, sự đa dạng thành phần sẽ không biến thành hỗn loạn, mà trở
thành cạnh tranh lành mạnh và hợp tác cùng thắng.
Hồ Chí Minh cũng đặt các thành phần kinh tế vào bối cảnh mở của quan hệ đối ngoại. “Lưu
thông trong – ngoài” được Người nhìn như một yêu cầu khách quan của phát triển: phải
giao lưu để học kỹ thuật, để bán cái mình có và mua cái mình cần, để mở rộng chân trời của
nền sản xuất trong nước. Tuy nhiên, mở cửa không có nghĩa buông lỏng; đường lối đối
ngoại kinh tế phải đặt trên nguyên tắc độc lập, tự chủ, bình đẳng, cùng có lợi, tránh lệ thuộc,
giữ vững chủ quyền kinh tế. Khi các nguyên tắc ấy được vận dụng linh hoạt, ngoại lực sẽ bổ
sung cho nội lực, còn nội lực được tổ chức tốt sẽ quyết định khả năng hấp thụ ngoại lực.
Đây chính là logic làm cho hình thức tư bản nhà nước và các mô thức hợp tác với vốn, công
nghệ nước ngoài trở nên hữu ích, miễn là Nhà nước nắm được vai trò kiến trúc sư thể chế
và người cầm lái chiến lược.
Một điểm nhấn xuyên suốt trong quan điểm của Hồ Chí Minh là nghệ thuật “trọng thực tiễn,
tránh cực đoan”. Người thường cảnh báo hai khuynh hướng sai lầm: “tả khuynh” nóng vội,
muốn xóa bỏ tức thời mọi yếu tố phi xã hội chủ nghĩa, dẫn đến rối loạn sản xuất và đời
sống; “hữu khuynh” thỏa hiệp, buông lỏng quản lý, để lợi ích cá nhân vô hạn lấn át lợi ích số
đông. Để tránh cả hai, phải nắm vững quy luật, tôn trọng bước đi, dựa vào dân, làm thí
điểm, tổng kết và nhân rộng. Người coi việc giải phóng lực lượng sản xuất là then chốt, bởi
chỉ khi của cải xã hội tăng lên, các mục tiêu công bằng và phúc lợi mới có cơ sở vật chất
vững chắc. Cũng vì vậy, Người đề cao học tập khoa học – kỹ thuật, quản trị hiện đại, xây
dựng văn hóa tiết kiệm, và xem giáo dục, y tế, phúc lợi là đầu tư cho tương lai chứ không phải chi phí.
Cuối cùng, quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần kết tinh thành
một “thiết kế tổng quát” của thời kỳ quá độ. Thiết kế ấy gồm mục tiêu là xây dựng một nền
kinh tế của dân, do dân, vì dân; gồm phương thức là kết hợp thị trường với định hướng xã
hội chủ nghĩa; gồm tổ chức là đa sở hữu, đa thành phần, trong đó quốc doanh giữ vai trò
chủ đạo ở trụ cột, hợp tác xã là nấc thang tổ chức của sản xuất nhỏ, tư nhân là động lực
linh hoạt, tư bản nhà nước là cầu nối huy động nguồn lực xã hội; gồm phân phối là gắn lao
động với hưởng thụ, kết hợp hiệu quả với công bằng; gồm quản lý là nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa liêm chính, kiến tạo và phục vụ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân. Với thiết kế ấy, sự đa dạng thành phần không làm lệch
hướng, mà trở thành sức mạnh tổng hợp, cho phép nền kinh tế đi nhanh và đi vững trên
con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
4. Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam
4.1. Trước Đổi mới (1975–1985)
Sau thống nhất đất nước, Việt Nam bước vào giai đoạn khôi phục và phát triển trong điều
kiện xuất phát điểm rất thấp, cơ sở vật chất kiệt quệ, nguồn lực tài chính hạn hẹp, lại chịu
tác động của cấm vận và những bất lợi của bối cảnh quốc tế. Mô hình quản lý được triển
khai chủ yếu theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp. Trong khuôn khổ đó, nhà
nước nắm giữ phần lớn phương tiện sản xuất chủ yếu; doanh nghiệp nhà nước vận hành
theo chỉ tiêu kế hoạch; giá cả, tiền lương và phân phối vật tư phần lớn do mệnh lệnh hành
chính điều tiết; lưu thông hàng hóa bị ràng buộc bởi nhiều quy định hạn chế. Nỗ lực cải tạo
quan hệ sở hữu ở miền Nam sau giải phóng diễn ra nhanh và rộng, hướng tới thiết lập
thống nhất một mô hình sở hữu công cộng và tập thể làm nền tảng. Những biện pháp ấy
phản ánh quyết tâm sớm định hình cấu trúc xã hội chủ nghĩa, đồng thời xuất phát từ yêu
cầu an ninh kinh tế, ổn định xã hội và phân bổ nguồn lực cho những nhiệm vụ lớn của quốc gia.
Tuy nhiên, thực tiễn bộc lộ dần các hạn chế của cơ chế vận hành thuần túy mệnh lệnh –
bao cấp. Khi tín hiệu thị trường bị triệt tiêu, doanh nghiệp ít động lực nâng cao năng suất và
tiết giảm chi phí; hệ thống phân bổ theo chỉ tiêu khó theo kịp biến động nhu cầu thực; cơ
chế hai giá và tem phiếu kéo dài tạo ra méo mó và chi phí giao dịch ngầm; liên kết giữa sản
xuất – lưu thông – phân phối thiếu trơn tru khiến nhiều nguồn lực bị ứ đọng ở khâu này
hoặc khâu khác. Trong nông nghiệp, việc tổ chức lại sản xuất hướng nhiều vào tập thể hóa,
song ở nhiều nơi chưa phù hợp với tập quán canh tác và trình độ tổ chức, dẫn tới hiệu quả
không đồng đều. Trong công nghiệp, đầu tư dàn trải, công nghệ lạc hậu, phụ thuộc nhập
khẩu thiết bị và vật tư cơ bản khiến nhiều cơ sở hoạt động dưới công suất. Thương nghiệp
nhà nước giữ vai trò “mỏ neo” nhưng không đủ năng lực bao phủ toàn bộ lưu thông, trong
khi mạng lưới tư nhân bị thu hẹp làm giảm độ linh hoạt của thị trường.
Trong bối cảnh ấy, tư tưởng của Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ với nhiều thành phần kinh
tế, cùng các nguyên tắc công tư đều có lợi, chủ thợ đều có lợi, công – nông giúp nhau, lưu
thông trong – ngoài, bắt đầu được nhìn nhận lại như một lối tiếp cận mềm dẻo và phù hợp
hơn với quy luật phát triển. Thực tiễn ở cơ sở cho thấy, khi trao thêm quyền chủ động sản
xuất – kinh doanh và khoán sản phẩm gắn với trách nhiệm, hiệu quả được cải thiện rõ rệt;
khi cho phép mở rộng một số hình thức kinh doanh tư nhân nhỏ lẻ trong lưu thông, tính sẵn
có của hàng hóa tăng lên, giảm bớt căng thẳng cung – cầu. Những kinh nghiệm “mở khóa”
cục bộ đó trở thành căn cứ thực tiễn để Đảng xem xét đổi mới tư duy, chuyển từ mô hình
quản lý nặng tính mệnh lệnh sang mô hình coi trọng động lực thị trường nhưng vẫn giữ
vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Nói cách khác, thập niên 1975–1985 là giai đoạn chuyển
tiếp đầy thử thách, nơi các tín hiệu thực tiễn tích tụ đủ mạnh để thúc đẩy một quyết định
mang tính bước ngoặt ở tầm đường lối.
4.2. Thời kỳ Đổi mới từ 1986 đến nay
Đại hội VI đánh dấu bước ngoặt chiến lược khi xác lập đường lối phát triển nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, định
hướng xã hội chủ nghĩa. Đây không chỉ là một điều chỉnh kỹ thuật, mà là một chuyển đổi
phương pháp luận: thị trường được thừa nhận như cơ chế phân bổ nguồn lực hiệu quả; nhà
nước chuyển từ can thiệp vi mô bằng mệnh lệnh sang kiến tạo khuôn khổ thể chế, điều tiết
vĩ mô và định hướng chiến lược; các thành phần kinh tế được thừa nhận bình đẳng trước
pháp luật, cùng phát triển, cùng đóng góp và cùng chịu trách nhiệm với xã hội.
Trong nông nghiệp, các chính sách khoán sản phẩm gắn trách nhiệm và quyền lợi về đến
hộ gia đình đã giải phóng đáng kể lực lượng sản xuất, nâng cao tính chủ động trong tổ chức
canh tác, thúc đẩy đầu tư lao động và tư liệu vào đồng ruộng. Hợp tác xã chuyển từ mô
hình hành chính bao cấp sang mô hình dịch vụ cho thành viên, chú trọng khâu đầu vào,
thủy lợi, bảo quản, chế biến và tiêu thụ, từ đó giảm chi phí giao dịch và tăng khả năng kết
nối thị trường. Ở công nghiệp và dịch vụ, doanh nghiệp nhà nước từng bước được giao
quyền tự chủ sản xuất – kinh doanh, thực hiện hạch toán kinh tế, chịu trách nhiệm về lỗ lãi;
khu vực tư nhân được khuyến khích thành lập và mở rộng hoạt động trong khuôn khổ pháp
luật; đầu tư trực tiếp nước ngoài được mở cửa như một kênh bổ sung vốn, công nghệ, quản
trị và thị trường. Cùng với đó, các cải cách về giá – lương – tiền, tự do hóa nhiều mặt hàng,
cải cách thuế và ngân sách, đã tạo nền tảng cho lưu thông hàng hóa, ổn định vĩ mô và khôi
phục niềm tin thị trường.
Kể từ sau Đổi mới, tiến trình hội nhập quốc tế được triển khai nhất quán và ngày càng sâu
rộng. Việc tham gia các hiệp định thương mại, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, thu hút
đầu tư, đồng thời nâng cấp chuẩn mực pháp lý và quản trị, đã đưa cấu trúc nhiều thành
phần vào một môi trường cạnh tranh và tương tác đa chiều, buộc các chủ thể phải nâng
năng lực công nghệ, quản trị và tuân thủ. Trong bối cảnh ấy, vai trò của Nhà nước càng
nghiêng về kiến tạo: xây dựng thể chế minh bạch, bảo vệ quyền tài sản và hợp đồng, phát
triển hạ tầng cứng và hạ tầng số, bảo đảm ổn định vĩ mô, điều phối rủi ro hệ thống và thực
thi chính sách công bằng, bao trùm.
Một trụ cột quan trọng của giai đoạn này là cải cách doanh nghiệp nhà nước. Mục tiêu
không phải duy trì số lượng doanh nghiệp nhà nước lớn, mà là củng cố vai trò dẫn dắt ở
những lĩnh vực then chốt liên quan an ninh năng lượng, kết cấu hạ tầng chiến lược, tài
chính – ngân hàng trụ cột và dịch vụ công thiết yếu; đồng thời sắp xếp, cổ phần hóa, minh
bạch hóa quản trị để nâng hiệu quả và kỷ luật thị trường. Song hành là phát triển mạnh khu
vực tư nhân trong nước, xem đây là một động lực quan trọng của nền kinh tế, khuyến khích
tinh thần doanh nhân, đổi mới sáng tạo và liên kết chuỗi. Khu vực đầu tư nước ngoài tiếp
tục đóng vai trò bổ sung vốn và công nghệ; chính sách nhấn mạnh yêu cầu liên kết giữa
doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa nhằm gia tăng giá trị gia tăng trong nước và hình
thành hệ sinh thái nhà cung ứng.
Xu hướng mới của giai đoạn gần đây là lồng ghép chuyển đổi số và chuyển đổi xanh vào
chiến lược phát triển. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, kinh tế số, thương mại điện
tử, dịch vụ số phát triển nhanh, tạo không gian hoạt động mới cho mọi thành phần. Yêu cầu
tuân thủ tiêu chuẩn môi trường, lao động và quản trị trong chuỗi giá trị toàn cầu ngày càng
cao, thúc đẩy cải cách thể chế theo hướng minh bạch, dữ liệu hóa và có thể dự báo. Đặc
biệt, các công cụ chính sách như đối tác công – tư, mua sắm công theo tiêu chí đổi mới, tín
dụng xanh, khung công bố thông tin bền vững, dần được đưa vào vận dụng, phản ánh đúng
tinh thần “công tư đều có lợi” trong điều kiện hiện đại. Nhìn tổng thể, thời kỳ Đổi mới đã hiện
thực hóa tư tưởng nhiều thành phần bằng một quá trình cải cách thể chế sâu rộng, đặt nền
kinh tế trong quỹ đạo thị trường – hội nhập nhưng vẫn kiên định các mục tiêu xã hội chủ
nghĩa về công bằng, bao trùm và phát triển vì con người.
4.3. Các kỳ Đại hội sự phát triển duy về kinh tế
nhiều thành phần
Sự phát triển tư duy của Đảng về kinh tế nhiều thành phần diễn ra liên tục qua các kỳ Đại
hội, theo logic vừa kế thừa vừa bổ sung, làm rõ mô hình kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa cả ở cấp độ khái niệm và ở cấp độ chính sách.
Đại hội VI xác lập nền tảng tư duy mới: thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Đây là bước “phá băng” nhận
thức quan trọng, chuyển trọng tâm từ mệnh lệnh hành chính sang cơ chế thị trường, từ bao
cấp sang hạch toán, từ cấm đoán sang khuyến khích động lực.
Đại hội VII cụ thể hóa trong Cương lĩnh xây dựng đất nước, khẳng định kinh tế nhiều thành
phần là cấu phần lâu dài của thời kỳ quá độ; đề cao vai trò của kinh tế nhà nước và kinh tế
tập thể, đồng thời coi trọng phát triển kinh tế tư nhân. Vấn đề sở hữu, doanh nghiệp, đầu tư,
lưu thông và phân phối được đặt trong một khung khái niệm thống nhất.
Đại hội VIII nhấn mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện mở cửa và hội nhập,
xem phát triển đồng bộ các loại thị trường là điều kiện để phát huy hiệu quả của kinh tế
nhiều thành phần. Những điều chỉnh về chính sách doanh nghiệp, đất đai, tài chính – tiền tệ,
thương mại, tạo tiền đề cho sự bùng nổ của khu vực tư nhân và dòng vốn đầu tư nước
ngoài trong các giai đoạn tiếp theo.
Đại hội IX và X tiếp tục làm rõ hơn vai trò của kinh tế tư nhân như một bộ phận quan trọng
của nền kinh tế, khuyến khích đa dạng hóa loại hình doanh nghiệp và thúc đẩy cạnh tranh
bình đẳng. Tư duy về hội nhập được nâng lên tầm chiến lược, coi việc tham gia sâu vào các
tổ chức và hiệp định quốc tế vừa là cơ hội, vừa là động lực cải cách thể chế trong nước.
Đại hội XI và XII nhấn mạnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại, đồng bộ và hội
nhập, cải cách doanh nghiệp nhà nước, phát triển mạnh khu vực tư nhân, tái cơ cấu nền
kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Trong giai đoạn này, quan điểm coi kinh tế tư
nhân là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế được khẳng định rõ; các
chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng, được thúc đẩy đồng bộ.
Đại hội XIII tổng kết 35 năm Đổi mới, khẳng định mô hình kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa là lựa chọn nhất quán; đề ra mục tiêu phát triển nhanh và bền vững dựa trên
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh
tế xanh, tuần hoàn, nâng cao năng lực tự chủ, khả năng chống chịu và thích ứng. Về cấu
trúc thành phần, tiếp tục khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo ở lĩnh vực then
chốt; kinh tế tập thể đổi mới theo mô hình hợp tác xã kiểu mới; kinh tế tư nhân là một động
lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận không tách rời của nền kinh tế,
được khuyến khích liên kết với khu vực trong nước. Trên phương diện quản trị, Đảng yêu
cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa liêm chính, kiến tạo và phục vụ, lấy
người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, coi kỷ luật thị trường và minh bạch
thông tin là nền tảng để các thành phần vận hành lành mạnh.
Nhìn dọc theo các kỳ Đại hội, có thể thấy một đường cong nhận thức đi từ “phá băng” tư
duy sang “kiến tạo” thể chế, rồi “nâng cấp” quản trị theo chuẩn mực hiện đại. Tư tưởng về
nhiều thành phần không thay đổi ở bản chất, nhưng được diễn giải ngày càng sâu và cụ thể
hơn: từ chỗ thừa nhận sự cùng tồn tại, đến việc phân vai và thiết kế cơ chế phối hợp; từ
nhấn mạnh giải phóng lực lượng sản xuất, đến đặt trọng tâm đổi mới sáng tạo, chuyển đổi
số và chuyển đổi xanh; từ bảo đảm quyền tự do kinh doanh, đến xây dựng hệ thống pháp lý
tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, có trách nhiệm giải trình và có khả năng dự báo.
4.4. Hệ thống pháp lý, chính sách (Luật Doanh nghiệp,
Hiến pháp 1992, 2013…)
Việc hiện thực hóa tư tưởng kinh tế nhiều thành phần đòi hỏi một kiến trúc thể chế tương
thích. Trong hơn ba thập niên qua, Việt Nam từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật nhằm bảo vệ quyền sở hữu và quyền tự do kinh doanh, bảo đảm cạnh tranh công
bằng, minh bạch, đồng thời tạo điều kiện để Nhà nước thực hiện vai trò kiến tạo, điều tiết và cung ứng dịch vụ công.
Trước hết là bình diện hiến định. Hiến pháp 1992 đánh dấu bước chuyển lớn khi ghi nhận
nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận sự tồn tại và phát triển lâu dài của các hình thức
sở hữu, khẳng định quyền tự do kinh doanh của công dân theo quy định của pháp luật. Hiến
pháp 2013 kế thừa và phát triển mạnh hơn các nguyên tắc này: khẳng định kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đồng thời bảo đảm quyền bình đẳng, an toàn
pháp lý và cơ hội phát triển của mọi thành phần; xác lập rõ nguyên tắc Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, vai trò của thị trường trong phân
bổ nguồn lực gắn với trách nhiệm của Nhà nước trong điều tiết, ổn định vĩ mô và thực hiện
tiến bộ, công bằng xã hội. Trên nền hiến định đó, các đạo luật chuyên ngành được thiết kế
theo triết lý “tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”, chuyển từ
tiền kiểm sang hậu kiểm, dựa trên minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình.
Luật Doanh nghiệp là trụ cột pháp lý thể hiện rõ nhất sự đổi mới về tư duy. Phiên bản ban
đầu thống nhất khung khổ cho nhiều loại hình, đơn giản hóa thủ tục thành lập, trao quyền tự
chủ quản trị và nghĩa vụ công bố thông tin. Qua các lần sửa đổi, luật ngày càng rút gọn điều
kiện gia nhập thị trường, giảm giấy phép con, mở rộng phạm vi tự do thỏa thuận trong quản
trị nội bộ, tăng cường bảo vệ cổ đông và nhà đầu tư, đồng thời siết chặt chuẩn mực minh
bạch và trách nhiệm của người quản lý. Luật Đầu tư vận hành song hành, xác lập danh mục
ngành nghề cấm và có điều kiện, cải cách thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, tạo tính
thông suốt giữa các cấp chính quyền, lồng ghép kiểm soát cạnh tranh, môi trường và an
ninh. Hệ thống này giúp hiện thực hóa nguyên tắc bình đẳng giữa các thành phần, coi khu
vực tư nhân là động lực quan trọng, tạo môi trường thuận lợi cho khởi sự kinh doanh và mở rộng quy mô.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, khung pháp lý về sắp xếp, cổ phần hóa, quản trị và giám
sát tài chính được từng bước hoàn thiện. Mục tiêu là tách bạch rõ chức năng chủ sở hữu
nhà nước và chức năng quản lý nhà nước; áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, công khai,
minh bạch; tập trung phạm vi hoạt động vào lĩnh vực then chốt, tránh dàn trải; nâng cao
trách nhiệm của người đại diện vốn và cơ quan chủ sở hữu; tăng cường kỷ luật thị trường
thông qua niêm yết, kiểm toán và giám sát độc lập. Ở chiều ngược lại, Luật Hợp tác xã theo
mô hình kiểu mới định vị lại hợp tác xã như tổ chức kinh tế do thành viên tự nguyện thành
lập, quản trị dân chủ, cùng có lợi, cung cấp dịch vụ cho thành viên, hướng đến hiệu quả chứ
không còn là “cánh tay nối dài” hành chính. Những đổi mới này giúp khối kinh tế tập thể trở
thành nấc thang tổ chức phù hợp để gia tăng năng suất của sản xuất nhỏ, đặc biệt trong
nông nghiệp và dịch vụ nông thôn.
Trong lĩnh vực cạnh tranh và thị trường, pháp luật về cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng, tiêu chuẩn – quy chuẩn kỹ thuật, sở hữu trí tuệ, chứng khoán, ngân hàng, bảo
hiểm, an toàn lao động và môi trường được hoàn thiện theo hướng tiệm cận thông lệ tốt.
Mục tiêu là thiết lập “sân chơi phẳng” để mọi thành phần kinh tế cạnh tranh bằng năng lực,
hạn chế hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, thông đồng ấn định giá, chuyển giá và các hình
thức cạnh tranh không lành mạnh. Đi kèm là cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả thông
qua trọng tài, tòa án và hòa giải, tăng mức độ an tâm pháp lý cho đầu tư dài hạn.
Cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong quản lý nhà nước và minh bạch dữ liệu là
mảng thể chế then chốt khác. Việc áp dụng đăng ký kinh doanh trực tuyến, cắt giảm điều
kiện kinh doanh, số hóa quy trình cấp phép, liên thông dữ liệu thuế – hải quan – bảo hiểm
xã hội, công khai quy hoạch, đất đai và mua sắm công, làm giảm đáng kể chi phí thời gian
và chi phí không chính thức cho doanh nghiệp. Cùng với đó, khung pháp lý cho đối tác công
– tư được luật hóa, tạo cơ chế huy động vốn tư nhân vào hạ tầng và dịch vụ công theo
nguyên tắc phân bổ rủi ro hợp lý, minh bạch, có trách nhiệm giải trình, thể hiện đúng tinh
thần “công tư đều có lợi” trong bối cảnh hiện đại.
Ở bình diện phân phối và an sinh, hệ thống pháp luật về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, trợ giúp xã hội, giáo dục và y tế cơ bản, nhà ở xã hội, phản ánh định hướng xã
hội chủ nghĩa trong mô hình thị trường. Mục tiêu là kết hợp giữa nguyên tắc hưởng theo
đóng góp với mạng lưới bảo vệ trước rủi ro và bất bình đẳng, bảo đảm cơ hội tiếp cận cơ
bản cho người dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, củng cố gắn kết xã hội. Điều này
làm bật rõ nguyên tắc “chủ – thợ đều có lợi” dưới dạng các chuẩn mực pháp lý cụ thể, giúp
thị trường vận hành hiệu quả mà không phá vỡ nền tảng công bằng.
Về đất đai và các yếu tố sản xuất, pháp luật được điều chỉnh qua nhiều lần sửa đổi nhằm
bảo đảm quyền sử dụng ổn định, mở rộng khả năng chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn, tạo
điều kiện tích tụ, tập trung đất đai ở mức phù hợp, đồng thời tăng cường minh bạch, bồi
thường thỏa đáng, tái định cư và giám sát quy hoạch. Thị trường vốn được phát triển với
khung khổ pháp luật về chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, cùng các chuẩn
mực kế toán – kiểm toán, quản trị công ty, công bố thông tin. Thị trường lao động được
hoàn thiện với Bộ luật Lao động, chính sách đào tạo nghề, tiêu chuẩn kỹ năng và an toàn
lao động. Thị trường khoa học – công nghệ được thúc đẩy bằng cơ chế đặt hàng R&D, ưu
đãi thuế, bảo hộ sở hữu trí tuệ, ươm tạo, chuyển giao công nghệ. Tất cả hợp lại thành
những “mảnh ghép” thể chế để các thành phần kinh tế vận hành thông suốt, đúng vai, đúng
lợi thế, liên kết theo chuỗi giá trị.
Một hướng hoàn thiện thể chế quan trọng của giai đoạn gần đây là lồng ghép các tiêu chuẩn
chuyển đổi số và chuyển đổi xanh vào khung pháp lý. Các quy định về bảo vệ dữ liệu cá
nhân, giao dịch điện tử, thương mại điện tử, thanh toán số, an ninh mạng, cùng với tiêu
chuẩn môi trường, kinh tế tuần hoàn, công bố thông tin bền vững, tín dụng xanh, đang dần
hình thành một “làn đường” pháp lý mới cho các mô hình kinh doanh hiện đại. Điều này
không chỉ giúp doanh nghiệp thuộc mọi thành phần tiếp cận chuỗi cung ứng toàn cầu ở nấc
thang cao hơn, mà còn khiến nhà nước phải đổi mới cách quản trị dựa trên dữ liệu, giảm
can thiệp hành chính sự vụ, tăng cường giám sát thông minh và trách nhiệm giải trình.
Tổng thể nhìn lại, sự vận dụng tư tưởng kinh tế nhiều thành phần của Đảng không dừng ở
khẳng định mô hình trong văn kiện, mà đã thẩm thấu vào kiến trúc thể chế, đi vào cách tổ
chức vận hành nền kinh tế và thể hiện qua kết quả phát triển. Nhà nước kiến tạo – pháp
quyền giữ vai trò dẫn dắt ở trụ cột và điều phối rủi ro; thị trường vận hành như cơ chế phân
bổ nguồn lực chủ yếu; các thành phần kinh tế cùng phát triển bình đẳng, phối hợp và cạnh
tranh trong khuôn khổ luật pháp; mục tiêu xã hội chủ nghĩa được thể hiện trong phân phối,
an sinh, cơ hội tiếp cận và chuẩn mực môi trường – lao động – quản trị. Nhờ vậy, mô hình
kinh tế nhiều thành phần không chỉ phù hợp với quy luật của thời kỳ quá độ mà còn tạo ra
năng lực thích ứng trong một thế giới đổi thay nhanh chóng, giúp nền kinh tế Việt Nam bước
vào giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn dài hạn và bản lĩnh tự cường.
5. Thành tựu, hạn chế phương hướng
5.1. Thành tựu
Thành tựu nổi bật đầu tiên của quá trình vận dụng tư tưởng kinh tế nhiều thành phần là việc
khơi thông và duy trì một động lực tăng trưởng tương đối ổn định trong thời gian dài. Khi cơ
chế thị trường được thừa nhận như một phương thức phân bổ nguồn lực chủ yếu và khi
không gian phát triển được mở ra cho mọi thành phần kinh tế, sức sản xuất trong xã hội
được giải phóng, khả năng huy động vốn, lao động, công nghệ và sáng kiến được mở rộng.
Sự chuyển biến này trước hết được ghi nhận ở nông nghiệp, nơi hộ gia đình trở thành đơn
vị sản xuất tự chủ, hợp tác xã chuyển sang mô hình dịch vụ vì thành viên, chuỗi cung ứng
từ giống, vật tư, thủy lợi đến bảo quản, chế biến và tiêu thụ được tổ chức lại theo hướng
giảm chi phí giao dịch. Trên nền tảng ấy, an ninh lương thực được bảo đảm, năng lực xuất
khẩu nông sản tăng dần, vị thế của kinh tế nông thôn thay đổi theo hướng gắn kết chặt chẽ
hơn với công nghiệp chế biến và dịch vụ.
Trong công nghiệp và dịch vụ, việc trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp nhà nước đi cùng
với cải cách quản trị, hạch toán kinh tế và kỷ luật tài chính đã làm rõ trách nhiệm hiệu quả.
Song hành với đó là sự bùng nổ của khu vực doanh nghiệp tư nhân về số lượng và loại
hình, từ doanh nghiệp nhỏ và vừa đến những tập đoàn tư nhân có khả năng cạnh tranh ở
quy mô khu vực. Kênh đầu tư trực tiếp nước ngoài bổ sung vốn, công nghệ, quản trị và
mạng lưới thị trường, hình thành các cụm sản xuất – xuất khẩu có quy mô lớn, từ đó gia
tăng tính đa dạng của cơ cấu công nghiệp và dịch vụ hiện đại. Hệ quả chung là cấu trúc
kinh tế dịch chuyển theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, năng lực sản xuất hàng
hóa và dịch vụ chất lượng cao được nâng lên, đóng góp ngày càng rõ vào tăng trưởng và ngân sách.
Một thành tựu có ý nghĩa nền tảng khác là kiến trúc thể chế từng bước được hoàn thiện
theo hướng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống pháp luật về quyền sở
hữu, quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh, doanh nghiệp, đầu tư, đất đai, tài chính – ngân
hàng, chứng khoán, lao động, an sinh xã hội, môi trường và tiêu chuẩn – quy chuẩn kỹ thuật
được bổ sung, sửa đổi theo hướng minh bạch, dễ dự báo và tiệm cận với thông lệ tốt.
Nguyên tắc “tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” được
khẳng định; cơ chế tiền kiểm thu hẹp dần nhường chỗ cho hậu kiểm dựa trên công bố thông
tin và trách nhiệm giải trình. Cùng với đó là những cải cách hành chính quy mô lớn, chuyển
đổi số trong quản lý nhà nước, liên thông dữ liệu trong đăng ký kinh doanh, thuế, hải quan,
bảo hiểm xã hội, giúp giảm chi phí thời gian và chi phí không chính thức cho doanh nghiệp.
Thành tựu về hội nhập quốc tế cũng rất đáng kể. Việc tham gia sâu rộng vào các hiệp định
thương mại và cơ chế hợp tác khu vực, song phương và đa phương đã mở rộng không
gian thị trường cho mọi thành phần kinh tế, tạo động lực cải cách thể chế trong nước, nâng
cao tiêu chuẩn quản trị, lao động, môi trường và quyền sở hữu trí tuệ. Trên nền hội nhập,
nhiều doanh nghiệp trong nước học được phương thức quản trị hiện đại, bước đầu tham
gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu, phát triển mạng lưới nhà cung ứng, hình thành hệ sinh
thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Sự giao thoa giữa ngoại lực và nội lực theo nguyên
tắc bình đẳng, cùng có lợi góp phần củng cố vị thế của nền kinh tế nhiều thành phần trong
bối cảnh cạnh tranh quốc tế.
Một thành tựu quan trọng về xã hội là độ bao trùm của thành quả phát triển. Nhiều chương
trình giảm nghèo, an sinh xã hội, phổ cập giáo dục, y tế cơ bản, phát triển hạ tầng nông thôn
và đô thị, nhà ở xã hội, đã được triển khai song hành với tăng trưởng. Mạng lưới phúc lợi
dần mở rộng độ phủ, qua đó giảm thiểu rủi ro đứt gãy xã hội khi nền kinh tế vận hành theo
cơ chế thị trường. Trên bình diện chuẩn mực, việc đề cao quyền con người, quyền công
dân, quyền tự do kinh doanh, cùng với yêu cầu minh bạch và trách nhiệm giải trình, đã tạo
ra một nền tảng pháp trị hỗ trợ cho phát triển bền vững. Nhìn từ góc độ tư tưởng, những
thành tựu này cho thấy sự hiện thực hóa nhất quán các nguyên tắc công tư đều có lợi, chủ
thợ đều có lợi, công nông giúp nhau và lưu thông trong – ngoài trong điều kiện lịch sử mới.
Cuối cùng, mô hình nhiều thành phần chứng tỏ năng lực thích ứng đáng kể trước các cú
sốc bên ngoài. Khả năng điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt hơn, dựa trên phối hợp tài
khóa – tiền tệ, quản lý tỷ giá, thương mại, đầu tư, thị trường lao động và an sinh xã hội, giúp
nền kinh tế duy trì ổn định tương đối, hạn chế tác động lan truyền của biến động quốc tế.
Cùng với đó, quá trình chuyển đổi số được đẩy mạnh trong cả khu vực công và tư, tạo ra
các kênh cung ứng, phân phối, thanh toán và dịch vụ mới, góp phần tăng tính chống chịu
của hệ thống trước những gián đoạn chuỗi cung ứng. 5.2. Hạn chế
Bên cạnh những thành tựu, mô hình kinh tế nhiều thành phần vẫn bộc lộ các hạn chế cần
được nhìn nhận thẳng thắn. Vấn đề nổi bật nhất là năng suất lao động và năng suất nhân tố
tổng hợp trong một số ngành và khu vực còn thấp so với tiềm năng. Cấu trúc doanh nghiệp
thiên về quy mô nhỏ và siêu nhỏ, năng lực quản trị và công nghệ còn hạn chế, liên kết giữa
khối doanh nghiệp trong nước với khu vực đầu tư nước ngoài chưa sâu, tỷ lệ nội địa hóa
trong nhiều chuỗi giá trị còn khiêm tốn. Tình trạng phụ thuộc vào gia công, lắp ráp ở một số
ngành công nghiệp khiến giá trị gia tăng trong nước chưa cao, khả năng bứt phá về công
nghệ và thương hiệu chưa rõ rệt.
Hiệu quả của một bộ phận doanh nghiệp nhà nước vẫn là điểm nghẽn. Việc sắp xếp, cổ
phần hóa có nơi còn chậm, một số lĩnh vực chưa thực sự tách bạch chức năng quản lý nhà
nước với chức năng chủ sở hữu, kỷ luật thị trường và kỷ luật tài chính chưa được thực thi
đồng đều, minh bạch thông tin có lúc chưa đáp ứng chuẩn mực. Khi nguồn lực lớn bị giam
giữ ở những nơi hiệu quả thấp, chi phí cơ hội của nền kinh tế tăng lên, ảnh hưởng đến tốc
độ và chất lượng tăng trưởng. Ở chiều ngược lại, khu vực hợp tác xã chưa phát huy hết vai
trò là nấc thang tổ chức của sản xuất nhỏ; năng lực dịch vụ cho thành viên về tài chính, kỹ
thuật, thị trường còn hạn chế; mô hình quản trị chưa theo kịp yêu cầu của thị trường hiện đại.
Chất lượng thể chế và thực thi pháp luật ở một số lĩnh vực vẫn chưa ngang tầm với yêu cầu
phát triển. Hệ thống pháp luật dù đã cải thiện đáng kể nhưng vẫn còn tình trạng chồng chéo,
mâu thuẫn, thiếu thống nhất; quy trình ban hành và sửa đổi một số văn bản chưa theo kịp
thực tiễn vận động; năng lực dự báo và đánh giá tác động chính sách còn hạn chế. Trong
thực thi, tình trạng sợ sai, đùn đẩy trách nhiệm, thủ tục hành chính kéo dài, chi phí tuân thủ
cao, tạo ra rào cản vô hình đối với doanh nghiệp và nhà đầu tư. Ở một số nơi, công khai,
minh bạch thông tin còn chưa đầy đủ; cơ chế giám sát xã hội và trách nhiệm giải trình chưa thật hiệu quả.
Thị trường các yếu tố sản xuất phát triển chưa đồng bộ. Thị trường đất đai còn vướng mắc
về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, về quy hoạch, định giá, bồi thường và tái định cư;
tích tụ, tập trung đất đai trong nông nghiệp diễn ra chậm, ảnh hưởng đến năng suất quy mô.
Thị trường vốn phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng; thị trường chứng khoán và trái
phiếu doanh nghiệp chưa trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn đủ an toàn, minh
bạch, hiệu quả; thị trường lao động thiếu các thể chế kết nối cung – cầu kỹ năng bền vững;
thị trường khoa học – công nghệ còn mỏng, liên kết giữa viện, trường và doanh nghiệp chưa chặt chẽ.
Vấn đề phát triển bền vững và bao trùm đặt ra thách thức ngày càng lớn. Chênh lệch phát
triển giữa các vùng, giữa đô thị và nông thôn, giữa các nhóm dân cư vẫn đáng kể; môi
trường ở một số khu vực bị sức ép; yêu cầu chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm phát
thải khí nhà kính đòi hỏi nguồn lực và năng lực thể chế đáng kể; an sinh xã hội cần tiếp tục
mở rộng độ bao phủ và nâng cao chất lượng dịch vụ, nhất là đối với nhóm lao động phi
chính thức và đối tượng dễ tổn thương. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược và biến động
địa chính trị, rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng và yêu cầu tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế cao hơn
cũng tạo áp lực cho khả năng thích ứng của doanh nghiệp trong nước.
5.3. Phương hướng phát triển tiếp tục
Phương hướng trước hết là tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa theo hướng hiện đại, đồng bộ và hội nhập sâu. Cần kiên trì nguyên tắc nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa liêm chính, kiến tạo và phục vụ, coi quyền con người, quyền
công dân, quyền tự do kinh doanh và quyền tài sản là nền tảng; đồng thời tăng cường trách
nhiệm giải trình, minh bạch dữ liệu và năng lực dự báo chính sách. Trên nền ấy, việc rà
soát, hệ thống hóa và đơn giản hóa pháp luật cần được tiến hành thường xuyên, loại bỏ
chồng chéo, mâu thuẫn, tạo khung khổ ổn định và có thể dự báo cho nhà đầu tư và doanh nghiệp.
Một trọng tâm chiến lược là phát triển đồng bộ các thị trường yếu tố sản xuất. Đối với đất
đai, cần hoàn thiện cơ chế quy hoạch, định giá, bồi thường, tái định cư và đấu giá công
khai, bảo đảm quyền, nghĩa vụ và lợi ích hài hòa của Nhà nước, người dân và nhà đầu tư,
tạo điều kiện tích tụ, tập trung đất nông nghiệp ở mức phù hợp, đi đôi với bảo vệ sinh kế và
môi trường. Đối với vốn, cần thúc đẩy thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp
trở thành kênh huy động trung và dài hạn an toàn, minh bạch; phát triển thị trường cho vay
dựa trên dữ liệu và tài sản trí tuệ; đa dạng hóa các định chế tài chính, tăng tính cạnh tranh
và kỷ luật. Đối với lao động, cần hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường kỹ năng, gắn đào
tạo với nhu cầu của doanh nghiệp, đẩy mạnh đào tạo lại và nâng kỹ năng trong bối cảnh tự
động hóa và số hóa. Đối với khoa học – công nghệ, cần hoàn thiện cơ chế đặt hàng nghiên
cứu, chia sẻ rủi ro đổi mới sáng tạo, khuyến khích liên kết viện – trường – doanh nghiệp,
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Cải cách doanh nghiệp nhà nước phải đi vào chiều sâu, tập trung vào vai trò trụ cột trong
những lĩnh vực thiết yếu đối với an ninh kinh tế và phúc lợi công. Cần tách bạch dứt khoát
chức năng chủ sở hữu và chức năng quản lý nhà nước; áp dụng triệt để chuẩn mực quản trị
công ty hiện đại; niêm yết, công bố thông tin và kiểm toán độc lập; cơ chế người đại diện
vốn gắn với kết quả; xử lý dứt điểm những dự án kém hiệu quả. Song song là phát triển
mạnh mẽ khu vực tư nhân trong nước như một động lực quan trọng của nền kinh tế. Điều
này đòi hỏi cải thiện tiếp cận đất đai và vốn, giảm chi phí tuân thủ, tăng chất lượng dịch vụ
công, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi cung ứng qua các chương trình nâng
cấp năng lực, tư vấn, tiêu chuẩn và xúc tiến.
Liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước là khâu đột phá để
nâng giá trị gia tăng nội địa. Cần xây dựng chương trình nhà cung ứng quốc gia theo ngành,
đặt chỉ tiêu nội địa hóa khả thi gắn với hỗ trợ kỹ thuật, tài chính và tiêu chuẩn; phát triển các
trung tâm đổi mới, phòng thí nghiệm dùng chung, khu công nghiệp chuyên sâu; thiết kế cơ
chế khuyến khích chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực giữa doanh nghiệp FDI với
đối tác nội địa. Mặt khác, cần có chiến lược thu hút thế hệ FDI mới trong các ngành công
nghệ cao, trung hòa carbon và dịch vụ số, đi đôi với yêu cầu tuân thủ tiêu chuẩn môi trường, lao động và quản trị.
Chuyển đổi số và chuyển đổi xanh phải trở thành trục phát triển mới của mô hình nhiều
thành phần. Ở chuyển đổi số, Nhà nước cần đầu tư hạ tầng dữ liệu và điện toán đám mây
dùng chung, chuẩn hóa giao diện lập trình và danh mục dữ liệu mở, bảo vệ dữ liệu cá nhân,
hoàn thiện khung pháp lý cho giao dịch điện tử và các mô hình kinh doanh số; doanh nghiệp
cần tái cấu trúc quy trình, đầu tư vào phân tích dữ liệu, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo,
thương mại điện tử, thanh toán số. Ở chuyển đổi xanh, cần triển khai các công cụ định giá
carbon phù hợp, tiêu chuẩn công bố thông tin bền vững, tín dụng xanh, thị trường điện cạnh
tranh, khuyến khích tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo và kinh tế tuần hoàn. Khi hai
quá trình này được lồng ghép vào chiến lược ngành và vùng, năng suất tổng hợp sẽ được
nâng lên, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn chuỗi cung ứng toàn cầu được củng cố.
Phát triển vùng và đô thị hóa cần được định hướng bằng quy hoạch tích hợp dựa trên lợi
thế so sánh động, kết nối hạ tầng liên vùng và logistics hiện đại. Chính sách vùng phải khắc
phục tư duy cục bộ, coi trọng cơ chế điều phối và chia sẻ lợi ích, phân cấp đi đôi với kiểm
soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Đô thị hóa theo hướng xanh, thông minh, bao trùm,
gắn giao thông công cộng với phát triển đô thị, thúc đẩy nhà ở xã hội và dịch vụ công cơ
bản, để các cực tăng trưởng lan tỏa ra vùng nông thôn và miền núi. Ở nông thôn, tiếp tục tái
cấu trúc kinh tế theo hướng nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp số, du lịch nông thôn, làng
nghề sáng tạo; củng cố hợp tác xã kiểu mới như nền tảng tổ chức của sản xuất nhỏ.
Một yêu cầu xuyên suốt là nâng chuẩn quản trị công và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Cần củng cố văn hóa liêm chính trong khu vực công, siết chặt kỷ luật công vụ, đẩy mạnh số
hóa quy trình, công khai dữ liệu, tăng cường giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, báo
chí và nhân dân; phát triển cơ chế phản hồi chính sách theo thời gian thực, qua đó giảm rủi
ro chính sách và nâng niềm tin thị trường. Trong khu vực tư, khuyến khích áp dụng chuẩn
mực quản trị công ty, tuân thủ thuế, lao động và môi trường; thúc đẩy trách nhiệm xã hội
doanh nghiệp như lợi thế cạnh tranh dài hạn.
Về xã hội, tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng mạng lưới an sinh, hướng đến bao phủ
bền vững và công bằng. Cần chú trọng nhóm lao động phi chính thức, người yếu thế, khu
vực nông thôn, vùng sâu vùng xa; đầu tư cho giáo dục, y tế cơ bản, văn hóa, nhà ở xã hội;
xây dựng cơ chế bảo hiểm linh hoạt đáp ứng sự dịch chuyển của thị trường lao động. Khi
cơ hội tiếp cận dịch vụ cơ bản được bảo đảm, tính chấp nhận rủi ro và tinh thần khởi nghiệp
trong xã hội sẽ gia tăng, qua đó bổ sung động lực cho mô hình nhiều thành phần. Kết luận
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và
thực tiễn Việt Nam. Nền tảng của tư tưởng ấy là sự thừa nhận tính khách quan của trạng
thái đa sở hữu, đa thành phần trong một giai đoạn lịch sử, cùng với hệ nguyên tắc công tư
đều có lợi, chủ thợ đều có lợi, công nông giúp nhau, lưu thông trong – ngoài, và phương
pháp sử dụng – cải tạo – phát triển theo lộ trình. Quá trình đổi mới và hội nhập đã hiện thực
hóa những nguyên tắc đó thành mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
trong đó Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa giữ vai trò kiến tạo và điều tiết, thị trường
là cơ chế phân bổ nguồn lực, các thành phần kinh tế cùng phát triển bình đẳng trong khuôn
khổ pháp luật, mục tiêu xã hội chủ nghĩa được cụ thể hóa trong phân phối, an sinh và chuẩn
mực phát triển bền vững.
Thành tựu đạt được là rõ rệt: động lực tăng trưởng được khơi thông, cơ cấu kinh tế chuyển
dịch theo hướng hiện đại, không gian thị trường trong và ngoài nước mở rộng, thể chế pháp
lý ngày càng hoàn thiện, thành quả phát triển mang tính bao trùm hơn, năng lực thích ứng
trước thách thức bên ngoài được tăng cường. Song song, những hạn chế về năng suất, liên
kết chuỗi, chất lượng thể chế, hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, phát triển thị trường yếu tố,
bất bình đẳng vùng miền và yêu cầu chuyển đổi xanh, số vẫn là bài toán đặt ra.
Trong giai đoạn tới, giữ vững định hướng tư tưởng của Hồ Chí Minh và phát triển sáng tạo
trong điều kiện mới là con đường bảo đảm cho mô hình nhiều thành phần tiếp tục phát huy
hiệu lực. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế theo hướng hiện đại và có thể dự báo, phát triển
đồng bộ các thị trường, cải cách sâu doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy mạnh mẽ khu vực tư
nhân, tăng cường liên kết FDI – nội địa, lồng ghép chuyển đổi số và chuyển đổi xanh vào
mọi chính sách, phát triển vùng và đô thị hóa bền vững, nâng chuẩn quản trị công và an
sinh xã hội. Khi những phương hướng ấy được thực hiện nhất quán và dựa trên kiểm
chứng thực tiễn, nền kinh tế nhiều thành phần sẽ tiếp tục là cấu trúc hợp lý của thời kỳ quá
độ, vừa giải phóng và tổ chức nguồn lực quốc gia, vừa bảo đảm mục tiêu phát triển vì con
người, hướng tới một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Tài liệu tham khảo
Ban Kinh tế Trung ương. (2020, 19 tháng 5). Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát
triển kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế Trung
ương. https://kinhtetrunguong.vn/web/guest/tu-lieu-van-kien/tu-tuong-cua-chu-tich-ho-chi-
minh-ve-phat-trien-kinh-te-nhie.html
Cổng thông tin điện tử tỉnh Bạc Liêu. (2020, 7 tháng 8). Quan điểm của Hồ Chí Minh về
thành phần kinh tế và sự vận dụng của Đảng ta. https://tct.baclieu.gov.vn/-/quan-%C4%91i
%E1%BB%83m-c%E1%BB%A7a-h%E1%BB%93-ch%C3%AD-minh-v%E1%BB%81-th
%C3%A0nh-ph%E1%BA%A7n-kinh-t%E1%BA%BF-v%C3%A0-s%E1%BB%B1-v%E1%BA
%ADn-d%E1%BB%A5ng-c%E1%BB%A7a-%C4%90%E1%BA%A3ng-ta
Đảng Cộng sản Việt Nam. (1986–2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII,
VIII, IX, X, XI, XII, XIII. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (1992). Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2013). Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh. (2011). Thường thức chính trị. In Hồ Chí Minh Toàn tập (Tập 12). Hà Nội: Nxb
Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Quang Thuấn. (2025, 23 tháng 5). Sự phát triển nhận thức của Đảng Cộng sản Việt
Nam về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa qua gần 40 năm tiến hành công
cuộc đổi mới. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-
dung-dang/-/2018/1086902/su-phat-trien-nhan-thuc-cua-dang-cong-san-viet-nam-ve-nen-
kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-qua-gan-40-nam-tien-hanh-cong-cuoc-doi- moi.aspx
Nguyễn Thị Liên. (2022, 13 tháng 1). Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nền
kinh tế nhiều thành phần và sự vận dụng của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới. Tạp chí Tổ chức
Nhà nước. https://tcnn.vn/news/detail/53275/Quan-diemcua-Chu-tich-Ho-Chi-Minh-ve-
xaydung-nen-kinh-te-nhieu-thanh-phan-va-su-vandung-cua-Dang-ta-trong-thoi-ky- doimoi.html
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (1999, 2005, 2014, 2020). Luật Doanh
nghiệp. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2005, 2014, 2020). Luật Đầu tư. Hà
Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2012). Luật Hợp tác xã. Hà Nội: Nxb
Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2018). Luật Cạnh tranh. Hà Nội: Nxb
Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2019). Bộ luật Lao động. Hà Nội: Nxb
Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2019). Luật Chứng khoán. Hà Nội:
Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. (2021). Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh. Hà Nội: Nxb
Chính trị quốc gia Sự thật.