Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
Đề tài: Ảnh hưởng của nhân sinh quan triết học Phật Giáo đối với đời sống tinh thần người Việt
PHẦN MỞ ĐẦU: (Thương Bùi done) 1. Lý do chọn đề tài
Phật giáo là một trong những học thuyết triết học - tôn giáo lớn nhất thế giới, có lịch sử
hình thành và phát triển lâu đời với hệ thống thuyết pháp đồ sộ, được du nhập vào Việt
Nam rất sớm và có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân Việt
Nam từ khoảng giữa thế kỷ thứ 2 đến đầu thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên. Trong quá
trình du nhập, tồn tại và phát triển các tư tưởng của Phật giáo đã góp phần hình thành nên
những chuẩn mực trong đời sống, thấm nhuần vào tư tưởng đạo đức văn hóa của người
dân Việt Nam theo thời gian. Biểu hiện qua đời sống chính trị, pháp luật, trong văn học
ca dao dân ca, trong quan niệm về đạo lý, tư tưởng, trong phong tục tập quán, tín ngưỡng.
Đặc biệt, trong giai đoạn nền kinh tế thị trường đang mở cửa, hội nhập với thế giới thì xã
hội Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa. Quá
trình phát triển kinh tế đã chịu ảnh hưởng hai mặt tích cực và tiêu cực khiến cho đời sống
tinh thần của con người có xu hướng bất an, vô định. Trong bối cảnh này, chính những
mặt tư tưởng tích cực trong triết lý “nhân sinh” Phật giáo đã góp phần định hướng bản
chất con người trở lại cân bằng, giải tỏa nỗi đau tinh thần, khoảng trống, nỗi thất vọng,
giúp con người sống hài hòa, điều chỉnh hành vi, tâm trạng và cảm xúc của con người trong thời đại mới.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu tư tưởng “nhân sinh” Phật giáo và các tác động ảnh hưởng
tích cực và tiêu cực của tư tưởng “nhân sinh” Phật giáo đến đời sống tinh thần người dân
Việt Nam hiện nay có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng, là cơ sở để chúng ta xem xét
những giá trị tích cực và hạn chế của nó trong lối sống, đạo đức nói riêng. Đặc biệt, dựa
trên cơ sở đó để chúng ta có góc nhìn tổng quát để đánh giá những biến đổi của nó trong
điều kiện hiện nay, nhằm phát huy tối đa những giá trị tích cực và khắc phục những ảnh
hưởng tiêu cực đến lối sống và đạo đức con người Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Trong khuôn khổ của đề tài chỉ tập trung vào luận giải nhân sinh quan Phật giáo, vấn đề
trung tâm trong triết học Phật giáo, sự ảnh hưởng của nó đến lối sống và đạo đức của con
người Việt Nam, từ đó đánh giá những biến đổi của lối sống đạo đức trong điều kiện hiện
nay để chỉ rõ một số yêu cầu đặt ra trong xây dựng đạo đức và lối sống con người Việt
Nam dưới ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo trong điều kiện mới, góp phần xây
dựng đạo đức, lối sống của con người Việt Nam.
2. Tính cấp thiết của đề tài
Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới, du nhập sớm vào Việt Nam, và đã
có những đóng góp nhất định cho dân tộc Việt Nam, đặc biệt trên các lĩnh vực đời sống văn hóa và tinh thần.
Nhiều chuẩn mực đạo đức, quy phạm và giáo luật Phật giáo đã được cụ thể hóa thành
những hoạt động hữu ích thiết thực, trên cơ sở lựa chọn những điều phù hợp, góp phần
hình thành những giá trị, chuẩn mực đạo đức trong đời sống văn hóa của người dân Việt Nam từ xưa đến nay.
Trong thời đại mới, Đảng và Nhà Nước đẩy mạnh chính sách xây dựng đất nước theo
hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế thị trường đã mang lại những hiệu quả to
lớn làm cho nền kinh tế phát triển tích cực. Song với đó, thì việc xây dựng lối sống đạo
đức xã hội phải đảm bảo kế thừa những giá trị trong đời sống truyền thống dân tộc bao
gồm đạo đức, tinh thần, lối sống và những giá trị nhân văn của triết lý nhân sinh Phật
giáo là hết sức cần thiết.
Vì vậy, việc nghiên cứu giá trị nhân văn, những ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực
của tư tưởng “nhân sinh” của Phật giáo đối với đời sống tinh thần của người dân Việt
Nam hiện nay nhằm định hướng và đưa ra các giải pháp phù hợp để phát huy các ảnh
hưởng tích cực và hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng “nhân sinh” trong quá
trình xây dựng đời sống mới của xã hội chủ nghĩa là việc làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
3. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cùng với quá trình lịch, Phật giáo đã có những đóng góp đáng kể cho nền văn hóa của
nhân loại. Chính vì vậy, Phật giáo có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội nói chung
và từ lâu đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học trên khắp thế giới
không chỉ tại phương Đông và Phương Tây mà còn ở ngay tại Việt Nam, việc nghiên cứu
Phật giáo và vai trò của giáo lý Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam đã được tiến
hành trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc.
Ở Việt Nam, đặc biệt từ những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 đã xuất hiện nhiều công
trình nghiên cứu khoa học về Phật giáo, vai trò của phật giáo trong đời sống xã hội nói
chung và đời sống của người Việt Nam nói riêng. Trong đó có các giáo sư tiến sĩ và nhà khoa học nổi tiếng như:
Trần Văn Giàu với một số công trình như: “giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt
Nam” (Nxb KHXH, Hà Nội 1975) “Đạo đức Phật giáo trong thời hiện đại” (Nxb Tp Hồ
Chí Minh 1993) và “Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến cách
mạng tháng Tám” (3 tập) (Nxb CTQG, Hà Nội 1997, 1998) đã đề cập đến những giá trị
đạo đức của Phật giáo và những đóng góp của Phật giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh với “Phật giáo nhập thế và phát triển”
(Nxb Tôn giáo 2008) đã tập hợp các bài viết của các nhà khoa học, trí thức Phật giáo viết
về vai trò của Phật giáo trong các lĩnh vực đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.
Nhìn chung, Phật giáo và vai trò của phật giáo đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu
với nhiều góc độ khía cạnh khác nhau, song tất cả đề nhấn mạnh về vai trò quan trọng
của Phật giáo và những giá trị Phật giáo về đạo đức, tính nhân văn và giá trị tinh thần.
Song song với các công trình nghiên cứu tập trung vào các giá trị ảnh hưởng tích cực của
Phật giáo thì những ảnh hưởng tiêu cực còn tồn đọng trong thực tế thì chưa được hệ
thống hóa và đưa ra nghiên cứu chính thức.
Chính vì vậy, tiểu luận này tập trung vào việc phân tích các tư tưởng nhân sinh của Phật
giáo và ảnh hưởng của tích cực và tiêu cực của tư tưởng nhân sinh Phật giáo đối với đời
sống văn hóa tinh thần người dân Việt Nam hiện nay. Đồng thời, phân tích thực trạng của
sự ảnh hưởng tác động tích cực cũng như tiêu cực, từ đó lý giải, định hướng, soạn thảo
các phương hướng giải pháp nhằm tháo gỡ các tồn đọng đang còn tồn tại thực tiễn và đưa
ra các phương hướng hành động để phát huy giá trị ảnh hưởng tích cực của tư tưởng nhân
sinh Phật giáo đối với đời sống con người Việt Nam hiện nay.
4. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài Mục đích nghiên cứu
Bài tiểu luận nhằm hệ thống hóa tư tưởng “nhân sinh” của Phật giáo, phân tích ảnh
hưởng của tư tưởng này đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân Việt Nam hiện
nay, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy mặt tích cực và
hạn chế mặt tiêu cực của tư tưởng “nhân sinh” này. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tiểu luận cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ nội dung của nhân sinh quan Phật giáo nói chung và nhân sinh quan Phật giáo ở
Việt Nam nói riêng, cùng với đời sống tinh thần của người dân Việt Nam hiện nay.
Phân tích thực trạng ảnh hưởng của tư tưởng “nhân sinh” Phật giáo đối với đời sống tinh
thần của người dân Việt Nam hiện nay và đưa ra các phương hướng đề xuất một số giải
pháp để phát huy các mặt ảnh hưởng tích cực, hạn chế các mặt ảnh hưởng tiêu cực của tư
tưởng “nhân sinh” Phật giáo đến đời sống tinh thần người dân Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: đề tài tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của tư tưởng “nhân sinh” Phật
giáo đối với đời sống tinh thần người dân Việt Nam hiện nay.
Về nội dung nghiên cứu: đề tài nghiên cứu tư tưởng “nhân sinh” Phật giáo trong một hệ
thống chỉnh thể quan điểm về “nhân sinh quan” của Phật giáo thông qua các quan niệm
về nhân sinh quan, vị trí con người và vai trò của con người trong thế giới nhân sinh
quan. Trong phạm vi đề tài này, tập trung vào nghiên cứu đời sống tinh thần trong phạm
vi tư tưởng, đạo đức, lối sống, bởi lẽ đời sống tư tưởng giữ vai trò chủ yếu, chi phối đến
tính chất phương hướng trong các hoạt động tinh thần của con người.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận
Vấn đề của đề tài nghiên cứu là tư tưởng “Nhân Sinh” trong Phật giáo, đời sống tinh thần
và ảnh hưởng của tư tưởng “nhân sinh” Phật giáo đối với đời sống tinh thần của người
dân Việt Nam. Tiểu luận được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về tín ngưỡng tôn
giáo. Tiểu luận còn dựa vào kinh điển của Phật giáo, kế thừa và tiếp thu có chọn lọc
những tư tưởng của một số công trình nghiên cứu khoa học có liên quan. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: tiểu luận dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Phương pháp phân tích – tổng hợp tư liệu: tiểu luận đã phân tích, tổng hợp tài liệu để
viết tổng quan, đánh giá những điểm mà các tác giả đi trước đã làm được.
Phương pháp chuyên gia: tiểu luận đã tham khảo kiến của các chuyên gia về triết học
Phật giáo để có cái nhìn tổng quát và sâu sắc hơn đối với chủ đề nghiên cứu.
6. Những đóng góp của đề tài Đối với lý luận
Tiểu luận góp phần cung cấp cái nhìn tổng quát về thế giới nhân sinh quan, tư tưởng
“nhân sinh” trong Phật giáo và những ảnh hưởng tác động của tư tưởng “nhân sinh” đến
đời sống tinh thần văn hóa của người dân Việt Nam hiện nay. Đối với thực tiễn
Tiểu luận góp phần cung cấp những luận cứ khoa học góp phần cho Đảng – Nhà Nước và
các cơ quan quản lý chính trị tôn giáo có giải pháp phù hợp để phát huy ảnh hưởng tích
cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng “nhân sinh” đối với đời sống tinh thần
của người dân Việt Nam hiện nay.
Tiểu luận cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các
chuyên đề chuyên đề có liên quan. 7. Kết quả nghiên cứu
Là hệ thống kiến thức gồm cái khái niệm về các giáo lý Phật giáo, nhũng nội dung cơ bản
trong giáo lý, giáo luật của Phật giáo, chỉ ra những đặc điểm và thực trạng Phật giáo Việt
Nam hiện nay. Ngoài ra, tiểu luận đã hệ thống hóa được tất cả các ảnh hưởng tích cực và
tiêu cực của Phật giáo trên một số phương diện cơ bản trong đời sống tinh thần của con
người Việt Nam, nhất là trong giai đoạn hiện nay.
Đặc biệt, tiểu luận còn đề ra các phương hướng và giải pháp nhằm phát huy những ảnh
hưởng tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo trong quá trình xây
dựng đất nước xây dựng đời sống mới trong giai đoạn này. 8. Kết cấu tiểu luận
Kết cấu bài tiểu luận bao gồm ba phần:
Phần thứ nhất, Cơ sở lý luận về nhân sinh quan Triết học Phật giáo và đời sống tinh thần người Việt Nam
Phần thứ hai, Thực trạng sự ảnh hưởng của Nhân sinh quan Triết học Phật giáo đối với
đời sống tinh thần người Việt.
Phần thứ ba, Phương hướng và giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và
hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của Nhân sinh quan Triết học Phật giáo đối với đời
sống tinh thần người Việt.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN SINH QUAN TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN NGƯỜI VIỆT NAM
1.1 Cơ sở lý luận về nhân sinh quan triết học Phật Giáo (cái này chia ra 2 người làm ạ) Bùi Hồng Mến (done)
Nguyễn Đặng Như Quỳnh (done)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN SINH QUAN TRIẾT HỌC PHẬT
GIÁO VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN NGƯỜI VIỆT NAM
1.1 Cơ sở lý luận về nhân sinh quan triết học Phật Giáo
1.1.1 Khái quát về phật giáo
Phật giáo là một ‘tôn giáo’ được thiết lập nên bởi Đức Phật vì phúc lợi của chúng sinh, vì
hạnh phúc của chúng sinh và vì sự tiến bộ của thế giới con người. Mọi người từ mọi xứ
sở đều có thể áp dụng những giáo lý và hướng dẫn của đạo Phật vào trong cuộc sống của
mình, tùy theo căn cơ, khả năng, điều kiện và ý chí tự do của mình.
+ Phật giáo là một tôn giáo chủ trương lẽ - thật và sự thực hành của chính bản thân mỗi
người. Chỉ có mình mới thực hành cho mình, giải quyết vấn đề tâm linh và những đau
khổ của mình và chính mình giải thoát cho mình. Và sau đó, giúp đỡ người khác đi theo
con đường đạo vì lòng từ bi và để tu dưỡng thêm lòng từ bi đối với họ.
+ Phật giáo vừa là triết - học vừa là thực - hành. Mặc dù Phật giáo cũng chấp nhận sự
hiện hữu của những chúng sinh là chư thiên (như thiên thần, trời, thánh nhân), nhưng
Phật giáo không đặt vấn đề những chúng sinh siêu phàm xuất trần đó là phần quan trọng
trong học thuyết tôn giáo của mình. Thay vì vậy, đạo Phật dạy con người phải tu tập
những phẩm chất như luôn biết Sĩ nhục và Sợ hãi về mặt lương tâm để tránh bỏ làm
những điều bất thiện. Người tránh bỏ điều bất thiện xấu ác thì người đó có được những
phẩm chất của những bậc thiên thần và trời; có được lòng tin chánh tín, đạo đức, lòng học
hỏi, lòng rộng lượng và trí tuệ.
Phật giáo ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên, do Đức Phật Thích Ca
Mâu Ni sáng lập, ông tên thật là Tất Đạt Đa (Siddhattha), thuộc Hoàng tộc Cồ Đàm
(Gautama), của tiểu quốc Thích Ca (Shakya). Ông là Thái tử của vua Tịnh Phạn
1.1.2 Nguồn gốc địa lý và lịch sử của Phật giáo
Phật giáo ra đời ở Ấn Độ cách đây khoảng 2.600 năm khi một thái tử người Ấn Độ là Tất
- Đạt - Đa (Siddhattha) giác ngộ thành đạo, trở thành một vị Phật (Buddha), có nghĩa là
“người giác ngộ”, sau nhiều năm tu hành gian khổ để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “làm
thế nào để con người thoát khỏi khổ- đau và sinh-tử”.
Những lời dạy của Phật đã được ghi chép và bảo tồn bởi đại đa số tu sĩ đệ tử của Người
trong tàng thư “Tam Tạng Kinh” (Tipitaka), mà nghĩa đen của từ này là “Ba Rổ Kinh”.
Ba rổ kinh (hay quen gọi là Tam Tạng Kinh” theo từ Hán Việt), bao gồm:
· Luật Tạng (Vinaya-pitaka): những giới luật đối với tăng ni, và một số giới
luật dành cho Phật tử tại gia.
· Kinh Tạng (Suttanta-pitaka): tập hợp những bài thuyết giảng của Đức Phật và
những vị đại đệ tử của Phật)
· Diệu Kinh Tạng (Abhidhamma-pitaka): đây là phần triết lý cao học của Phật giáo).
Phật giáo là tôn giáo vô-thần, không theo hữu thần, không đề cao thần thánh là quyết định
vận mệnh con người, chỉ coi trọng về lý nhân-quả và mọi sự của một người là do chính
người ấy làm và nhận lãnh.
Hai trường phái Phật giáo: Phật giáo Nguyên Thủy (Theravada) được truyền bá và phát
triển các nước Đông Nam Á như Sri Lanka (Tích Lan), Thailand (Thái Lan), Burma
(Myanmar, Miến Điện), Laos (Lào), Cambodia (Cam-pu-chia) và một phần ở miền nam
Việt Nam. Ngày nay có rất nhiều người theo Phật giáo Nguyên Thủy ở Ấn Độ, khắp các
nước châu Âu, châu Úc và châu Bắc Mỹ.
Phật giáo Đại Thừa phát triển ở các nước Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều
Tiên, Đài Loan, Việt Nam, và Tây Tạng (thuộc tỉnh Thanh Hải của Trung Quốc ngày nay).
1.1.3 Nội dung cơ bản triết lý nhân sinh quan trong Phật giáo
Ph.Ăngghen đã nói: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong
đầu óc của con người của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của
họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực
lượng siêu thần thế”1. Điều đó có nghĩa là, tôn giáo do con người tạo ra, tôn giáo không
sáng tạo ra con người song lại có ảnh hưởng lớn tới đời sống của con người trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
Phật giáo là một trong những tôn giáo có sức ảnh hưởng lớn tới nhiều nước trên thế giới
trong đó có Việt Nam và dần chiếm vị thế sâu rộng trong đời sống tinh thần của con
người, trong đó có Việt Nam.Dù đã trải qua hơn 2500 năm, với nhiều giai đoạn lịch sử,
nhiều cách nhìn nhận đánh giá khác nhau, nhưng Phật giáo và triết lý nhân sinh của Phật
giáo vẫn mang đầy tính vị tha và nhân văn và ý nghĩa trong đời sống con người Việt Nam chúng ta.
Triết lý Phật giáo bao gồm hệ thống quan niệm về nhận thức luận, thế giới quan, nhân
sinh quan và có mối quan hệ chặt chẽ. Mỗi quan niệm đều có chức năng làm tiền đề và bổ trợ lẫn nhau.
1.1.4 Nội dung tư tưởng nhân sinh quan Phật giáo
Triết lý nhân sinh bắt nguồn từ thế giới quan, do thế giới quan Phật giáo chi phối, mặt
khác, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội thì nhân sinh quan Phật giáo chịu sự quy
định của xã hội và sự tác động của các hình thái ý thức xã hội khác.
Điều này giải thích cho lý do tại sao trong quá trình du nhập hình thành tồn tại và phát
triển, nhân sinh quan Phật giáo có sự biến đổi và không còn giữ nguyên như Phật
giáo nguyên thủy. Tuy nhiên, triết lý Phật giáo nói chung và tư tưởng nhân sinh quan
Phật giáo nói riêng, đã biến đổi, phát triển để thích nghi với truyền thống văn hóa của
mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trong những thời kỳ lịch sử nhất định.
Vì trong khuôn khổ bài tiểu luận có hạn nên chỉ tập trung vào hướng nghiên cứu ảnh
hưởng của nhân sinh quan Phật giáo trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam và
sự biến đổi của nó trong quá trình đổi mới hiện nay trong thuyết Tứ Diệu Đế của Phật
giáo. Nhân sinh quan Phật giáo là một hệ thống gồm các quan điểm về con người và đời sống con người.
Nhân sinh quan Phật giáo được hiểu là hệ thống quan điểm của Phật giáo về con người,
đời sống của con người. Hệ thống quan điểm về nhân sinh quan của Phật giáo chịu sự chi
phối của thế giới quan và bởi các ý thức xã hội khác.
Nhân sinh quan Phật giáo đề cập đến con người và cuộc sống của con người. Trong đó,
nội dung chủ yếu là xuay quanh nỗi khổ của thế gian, vấn đề giải trừ cái khổ.
- Đối với con người Phật giáo đưa ra những quan điểm về sự sống, ý nghĩa của sự sống
và sinh mạng của con người.
- Đối với "cái khổ" nhân sinh quan Phật giáo đề cập đến các vấn đề sau đây:
+ Nhận thức về "cái khổ" trong thế gian;
+ Nhận thức về việc giải trừ "cái khổ" của con người;
+ Nhận thức về vấn đề lìa xa, thoát khỏi "cái khổ" của con người;
+ Răn dạy, hướng con người tới thiện tâm "cứu khổ, cứu nạn" chúng sinh.
· Nhân sinh quan phật giáo về sự sống của con người
Phật giáo luôn cho rằng cuộc sống vô thường. Mọi sự vật luôn luôn biến đổi và phát
triển. Nhưng mạng sống của con người có thể kết thúc bất cứ lúc nào mà ta không thể
biết trước được. Mạng sống của con người theo thời gian sẽ tiến dần đến điểm kết của sự sống.
Trên thế gian này không gì là bất biến, "thế gian vô thường", "nhân tâm vô thường".
Thế gian này không có gì là vĩnh hằng, bất biến. Mạng sống con người chỉ là một phần
nhỏ trong thế gian này. Phật giáo đã sớm biết rõ điều này, đã nhận chân được cuộc đời vốn vô vọng.
Theo Phật giáo "tất cả cả các hành động, tạo tác, truy cầu ở thế gian đều là khổ". Sinh
mạng là điều đáng quý, vạn vật sinh ra đều có sứ mạng. Con người sinh ra đều có thể xác
và linh hồn. Theo quan niệm phật giáo, tuy rằng sinh mạng sẽ kết thúc nhưng con người
sau khi chết đi sẽ không phải là sự kết thúc. Phật giải thích quy luật sau khi chết đi của
con người theo thuyết Nhân quả, Nghiệp báo, Luân hồi. Vạn vậy được kết nối nhờ nhân
duyên của nhau, cứ thể tự sinh rồi tự diệt là luân hồi.
Trong đó, thân xác con người thuộc về thuyết Danh sắc, Lục đại, Ngủ uẩn trong Phật
giáo. Khi con người tồn tại đều sẽ có ba hoạt động chính, trong đó:
- Các hoat động thông qua hành vi. Những hành vi này sẽ tạo ra hậu quả, Phật giáo gọi đó là thân nghiệp;
- Các hoạt động bằng lời nói, phát ngôn. Hậu quả của lời nói là khẩu nghiệp;
- Các hoạt động tạo nên do suy nghĩa của con người. Hậu quả là ý nghiệp.
Theo Luật Nhân quả tất cả các hoạt động trên xoay quanh hai phạm trù thiện và ác, điều
này tạo ra nghiệp lực, báo ứng hay còn gọi là "gieo nhân nào, gặt quả nấy". Phật còn cho
rằng, con người ở kiếp này phải chịu quả báo về những việc làm ở kiếp trước của họ.
· Quan niệm về "khổ" trong nhân sinh quan Phật giáo
xuyên suốt trong toàn bộ thuyết nhân sinh quan của Phật giáo đều hướng con người
đến sự giải thoát khỏi nỗi khổ. Phật quan niệm "Đời là bể khổ". Để đat được sự giải thoát,
Phật giáo đề ra bốn chân lý tuyệt diệu, thiêng liêng mà mọi người cần phải thực hiện, đó
là tứ diệu đế: Khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế.
Khổ đế là một triết lý nhân sinh tương ứng với quan điểm bản chất của con người là
sự "khổ". Có thể nói, quan điểm này có phần tiêu cực. Trong đó, tất cả nỗi khổ trong cuộc
đời con người được thể hiện thông qua "sinh-lão-bệnh-tử".
Để thoát khỏi sự khổ, Phật giáo đề ra quan điểm từ bỏ "tham-sân-si" để từ bỏ điều ác,
khi ấy con người sẽ thoát khỏi nghiệp quả, báo ứng từ đó giải thoát về mặt tâm hồn trước
nỗi khổ của chúng sinh. Phật giáo lấy việc giải thoát đau khổ làm trọng tâm tư tưởng trong giáo lý của mình.
Không chỉ từ bỏ điều ác, Phật giáo còn đòi hỏi trách nhiệm về đạo đức làm người,
không được ngơ ngác trước nỗi khổ của người khác. Phật giáo không lấy giáo lý làm
trọng mà chỉ cho rằng đó là các phương tiện để đạt đến chân lý cuối cùng.
1.2 Cơ sở lý luận về đời sống tinh thần người Việt Nam (cái này chia ra 2 người làm ạ) loan, hà trang
1.2.1 Khái niệm về đời sống tinh thần
- Đời sống tinh thần là một phạm trù phản ánh đời sống vật chất,tinh thần và hoạt động
của con người trong đó có các lĩnh vực như khoa học, công nghệ, giáo dục,văn hóa, tôn
giáo, đạo đức, tín ngưỡng, tinh thần dân tộc của con người. Có mối quan hệ chặt chẽ với
ý thức xã hội và ý thức cá nhân.
Đời sống tinh thần của con người và xã hội luôn tồn tại trong mối quan hệ với tính liên
tục về thời gian và tính rộng lớn về không gian. Với cách tiếp cận đó,đời sống tinh thần
được hiểu là một hiện tượng xã hội, gồm toàn bộ những quá trình, các hoạt động của con
người và xã hội mang ý nghĩa về mặt tinh thần; phản ánh đời sống vật chất của xã hội và
bị quy định bởi đời sống vật chất ấy trong từng giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử.
Với cách hiểu đó cấu trúc đời sống tinh thần của xã hội bao gồm các yếu tố trong mối
quan hệ biện chứng với nhau đó là: mặt tinh thần (ý thức xã hội) nó phản ánh đời sống
tinh thần của cả xã hội đó; mặt hoạt động (hoạt động tinh thần của cá nhân, cộng đồng)
thể hiện các hoạt động tinh thần của các thành viên trong xã hội đó và của cả cộng đồng
của xã hội; mặt điều kiện vật chất đảm bảo hoạt động tinh thần của con người, có nghĩa là
mọi hoạt động tinh thần của con người đều dựa trên nền tảng kinh tế - xã hội mà họ đang
sống. Thông qua hoạt động và quan hệ tinh thần của xã hội, nhận thấy rằng đời sống tinh
thần là những hoạt động sống đang diễn ra ở lĩnh vực đời sống tinh thần của xã hội đó,
hoàn toàn không phải là hoạt động tinh thần thuần túy.
1.2.2 Cơ sở lý luận về đời sống tinh thần người Việt Nam
Đời sống tinh thần của người Việt Nam là một khái niệm phản ánh trạng thái tâm lý, giá
trị, niềm tin, tri thức và quan điểm về cuộc sống của người dân Việt Nam. Nó bao gồm
các yếu tố tinh thần, trí tuệ và tâm linh mà người Việt Nam đánh giá cao và tìm kiếm
trong cuộc sống hằng ngày
Đời sống tinh thần người Việt Nam có tính “mở” rõ nét. Đời sống tinh thần người Việt
Nam rất đa dạng, phong phú, giàu chất liệu biểu hiện ở nhiều thể loại văn hóa mang dấu
ấn của nhiều vùng, miền của đất nước, thậm chí của cả nước ngoài. Xu hướng phát triển
về tính phong phú, đa dạng, giàu chất liệu giá trị ngày càng tăng lên không chỉ trong thời
mở cửa, giao lưu, hội nhập quốc tế, mà cả trong lịch sử. Tính đa dạng, phong phú của đời
sống tinh thần người Việt Nami càng được tăng lên bởi những con người (nhập cư) từ các
nước trên thế giớii. Đời sống tinh thần người Việt Nam cũng phản ánh hiện thực những
bước thăng trầm của lịch sử dân tộc ta rất sâu sắc. Trong truyền thống cũng như hiện đại,
đời sống tinh thần người Việt Nam ngày càng được tiếp xúc, giao lưu với các tôn giáo,
văn hóa nước ngoài nhiều hơn.
Đời sống tinh thần của người Việt Nam được xem là một sự kết hợp độc đáo và phong
phú của các yếu tố dân tộc, tôn giáo, tri thức, văn hóa, mối quan hệ xã hội và trách nhiệm
cá nhân. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành quan niệm về cuộc sống, quan
điểm đạo đức và cách tiếp cận với thế giới của người Việt Nam. Qua đó ta thấy được đời
sống tinh thần người Việt Nam có thể xây dựng dựa trên các yếu tố: - Tín ngưỡng, tôn giáo:
Tín ngưỡng: là tín ngưỡng dân gian (thờ cúng trời đất, các vị thần linh, thờ
cúng tổ tiên, các anh hùng dân tộc, tin thờ các loại ma,...).
Tôn giáo: Một bộ phận trong cộng đồng các dân tộc theo các tôn giáo lớn
như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo. Người Việt Nam có quyền tự
do tôn giáo và sự đa dạng tôn giáo. Tôn giáo không chỉ đóng vai trò trong
việc đáp ứng nhu cầu tâm linh và tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống, mà còn góp
phần vào việc hình thành quan điểm đạo đức và định hướng cuộc sống của người Việt Nam.
- Phong tục, tập quán, lễ hội:
Phong tục, tập quán : Cùng với tục thờ Phật, tục thờ cúng tổ tiên của dân
tộc Việt Nam có từ lâu đời. Tục này xuất phát từ l ˜òng hiếu kính đối với ông
bà, cha mẹ, tổ tiên. Tín ngưỡng này được một số bình dân nhập làm một
với Đạo Phật, Phật Giáo có nhiều kinh đề cập đến vấn đề này như: Kinh Vu
Lan, kinh Báo Phụ Mẫu Ân...
Lễ hội là dịp để con người gửi gắm ước mong về một cuộc sống tốt đẹp,
mùa màng bội thu, bày tỏ lòng biết ơn, sự che chở, phù hộ của tổ tiên, thần linh với cộng đồng.
- Âm nhạc, văn học, dân ca, các điệu múa, trò chơi dân gian có những nét đặc sắc
riêng, góp phần làm giàu kho tàng văn hóa Việt Nam.Tư tưởng đạo lư của Phật Giáo
cũng thường được ông cha ta đề cập đến trong ca dao dân ca, các bài diễn tuồng phù
hợp với đạo lý phương Đông, dưới những đề tài này hay khía cạnh khác để nhắc nhở,
khuyên răng dạy bảo, với mục đích xây dựng một cuộc sống an vui, phù hợp với
truyền thống đại đức của dân tộc Việt Nam
- Tư tưởng dân tộc: Đời sống tinh thần của người Việt Nam phản ánh tư tưởng dân
tộc, đặc biệt là tư tưởng "Vì dân, nhân sinh" và "Tự lực, Tự cường". Người Việt Nam
coi trọng sự đoàn kết và tương trợ trong cộng đồng, sẵn lòng cống hiến cho lợi ích
chung và phát triển đất nước.Tư tưởng chủ đạo của triết học VN là chủ nghĩa yêu
nước, những vấn đề về chính trị,xã hội, bao gồm hệ thống những quan điểm lý luận về
dựng nước, đánh giặc giữ nước, bảo vệ đất nước, đó là ý thức trách nhiệm với đồng
báo, với cộng đồng dân tộc.Tính đặc thù của chủ nghĩa yêu nước VN là tinh thần đoàn
kết, bảo vệ bờ cõi, bản sắc văn hóa của dân tộc.
- Triết lý Phật Giáo: + Phật Giáo đã có sự ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần
của người Việt Nam. Triết lý Phật Giáo tôn trọng sự khổ hạnh, sự từ bi và sự hiểu
biết, đồng thời khuyến khích những phẩm chất như nhân đức, lòng biết ơn, lòng tốt và lòng nhân ái.
+ Phong tục, tập quán: Phật giáo đã để lại dấu ấn sâu đậm tới tâm lý,
đạo đức của người dân Việt, cũng như trong cách thức giao tiếp, ứng xử, trong phong tục,
tập quán, góp phần hình thành những giá trị, chuẩn mực trong lối sống của con người
- Tri thức và giáo dục: Giáo dục và tri thức đóng vai trò quan trọng trong đời sống
tinh thần của người Việt Nam. Sự học hỏi, khám phá và phát triển trí tuệ được coi
trọng, và tri thức được coi là công cụ để nâng cao cuộc sống và cống hiến cho xã hội.
- Văn hóa, nghệ thuật và truyền thống: Văn hóa,nghệ thuật và truyền thống dân tộc
Việt Nam cũng là cơ sở lý luận quan trọng. Giá trị gia truyền, tôn giáo, nghệ thuật
truyền thống và các nghi lễ văn hóa đều ảnh hưởng đến đời sống tinh thần và quan
điểm về cuộc sống của người Việt Nam.
- Kết nối với thiên nhiên: Thiên nhiên và môi trường tự nhiên của Việt Nam cũng có
tác động đáng kể đến đời sống tinh thần. Người Việt Nam có sự gắn kết mạnh mẽ với
thiên nhiên, yêu thiên nhiên và coi trọng việc bảo vệ và gìn giữ nguồn tài nguyên tự nhiên.
- Lịch sử và kinh nghiệm: Lịch sử và kinh nghiệm của người Việt Nam trong cuộc
sống và cuộc đấu tranh đã hình thành những giá trị và quan điểm trong đời sống tinh
thần. Sự kiên nhẫn, sự tự hào về di sản lịch sử và khả năng chịu đựng trong môi
trường khó khăn cũng là những yếu tố cơ bản trong đời sống tinh thần của người Việt Nam.
- Tôn giáo và tâm linh: Ngoài Phật Giáo, người Việt Nam còn có sự tín nhiệm và sự
tôn trọng đối với các tôn giáo khác như Đạo Cao Đài, Công giáo, và đặc biệt là đạo
Thiên Chúa. Tôn giáo và tâm linh góp phần vào việc hình thành đạo đức và giá trị đời
sống tinh thần của người Việt Nam.
- Sự tương thân và tình cảm xã hội: Sự tương thân, lòng nhân ái và tình cảm xã hội là
những đặc trưng quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt Nam. Người Việt
Nam có truyền thống giúp đỡ lẫn nhau, chia sẻ với những người gặp khó khăn và đặt
tình cảm gia đình và tình bạn lên hàng đầu.
- Sự đoàn kết và gắn bó với cộng đồng: Đời sống tinh thần của người Việt Nam còn
phản ánh sự đoàn kết và gắn bó với cộng đồng. Người Việt Nam coi trọng mối quan
hệ xã hội, sự hỗ trợ và liên kết với nhau trong cả gia đình, hàng xóm và cộng đồng địa phương.
- Sự lạc quan và lòng kiên nhẫn: Người Việt Nam thường mang trong mình tinh thần
lạc quan và lòng kiên nhẫn. Dù đối mặt với những khó khăn và thách thức, người Việt
Nam luôn tin rằng có thể vượt qua và tìm thấy niềm vui trong cuộc sống. Sự lạc quan
và lòng kiên nhẫn giúp họ vượt qua khó khăn và đạt được mục tiêu trong đời.
- Sự đạo đức và phẩm chất: Đời sống tinh thần của người Việt Nam còn dựa trên sự
đạo đức và những phẩm chất đạo đức cao. Đạo đức trong cuộc sống hàng ngày, như
lòng trung thực, lòng hiếu thảo, lòng nhân ái, lòng biết ơn và lòng trắc ẩn, là những
giá trị cốt lõi trong đời sống tinh thần của người Việt Nam.
- Sự yêu quý và tôn trọng đối với người cao tuổi: Người Việt Nam có truyền thống
yêu quý và tôn trọng người cao tuổi, coi đây là một giá trị quan trọng trong đời sống
tinh thần. Sự kính trọng và chăm sóc người cao tuổi phản ánh lòng biết ơn, lòng nhân
ái và lòng trách nhiệm trong xã hội Việt Nam.
- Sự tận tụy và trách nhiệm: Người Việt Nam thường coi trọng sự tận tụy và trách
nhiệm trong công việc, gia đình và xã hội. Sự cam kết và trách nhiệm là những đức
tính quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt Nam, đồng thời góp phần vào
xây dựng một xã hội phát triển và hạnh phúc.
- Ý thức bảo vệ môi trường: Trong thời gian gần đây, ý thức bảo vệ môi trường và sự
chú trọng đến bền vững đã ngày càng được nhận thức và quan tâm trong đời sống tinh
thần của người Việt Nam. Người Việt Nam đặt mục tiêu bảo vệ môi trường, sử dụng
tài nguyên một cách bền vững và góp phần vào việc xây dựng một môi trường sống tốt đẹp cho tương lai.
- Sự trân trọng và gìn giữ gia truyền: Đời sống tinh thần của người Việt Nam còn
phản ánh sự trân trọng và gìn giữ gia truyền. Người Việt Nam có lòng tự hào về lịch
sử, truyền thống và di sản văn hóa của dân tộc. Họ coi đây là một phần quan trọng của
danh dự và nhận thức về bản sắc dân tộc.
- Ý thức cộng đồng và tình nguyện: Người Việt Nam có ý thức về vai trò của mình
trong cộng đồng và thường tham gia vào các hoạt động tình nguyện. Họ sẵn lòng
đóng góp, chia sẻ và hỗ trợ những người xung quanh, đóng vai trò tích cực trong việc
xây dựng cộng đồng văn hóa và xã hội.
- Tính thực dụng và khả năng thích ứng: Người Việt Nam có tính thực dụng và khả
năng thích ứng cao. Họ biết cách tận dụng tối đa những nguồn lực có sẵn và tìm kiếm
giải pháp sáng tạo để vượt qua khó khăn. Tính thực dụng và khả năng thích ứng giúp
người Việt Nam đối mặt với thách thức và thay đổi trong cuộc sống.
- Sự khéo léo và sáng tạo: Người Việt Nam có sự khéo léo và sáng tạo trong các mặt
của cuộc sống. Họ có khả năng tìm ra những giải pháp sáng tạo và linh hoạt trong
công việc, nghệ thuật và cuộc sống hàng ngày. Sự khéo léo và sáng tạo giúp họ vượt
qua khó khăn và tạo ra những giá trị mới.
- Sự kính trọng tổ tiên và bậc tiền bối: Người Việt Nam có truyền thống kính trọng tổ
tiên và bậc tiền bối. Họ coi đây là một nét đẹp và trách nhiệm trong đời sống tinh
thần. Sự kính trọng tổ tiên và bậc tiền bối phản ánh lòng biết ơn và tôn trọng đối với
những người đã đi trước và đóng góp vào sự phát triển của xã hội và dân tộc.
Những yếu tố này cùng nhau tạo nên cơ sở lý luận về đời sống tinh thần của người
Việt Nam. Sự kết hợp của những yếu tố trên mang lại một cái nhìn toàn diện về đời
sống tinh thần của người Việt Nam, với các giá trị như lòng trung thực, đạo đức, tình
yêu gia đình và đồng bào, lòng tự hào về lịch sử và văn hóa dân tộc, tôn giáo và tâm
linh, ý thức cộng đồng, khả năng thích ứng và sáng tạo, sự kính trọng tổ tiên và bậc tiền bối.
Đời sống tinh thần người Việt Nam có sự gắn kết mạnh mẽ với quê hương và đất
nước. Tình yêu và lòng tự hào về quê hương được thể hiện qua việc bảo tồn và phát
triển văn hóa, gìn giữ truyền thống, và thể hiện trong các nghi lễ, lễ hội, âm nhạc,
nghệ thuật, và văn hóa ẩm thực. Đồng thời, lòng yêu nước và ý thức công dân cũng là
một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt Nam.
Ngoài ra, đời sống tinh thần của người Việt Nam còn được tác động bởi những thay
đổi xã hội và tiến bộ công nghệ. Sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông
đã mở ra những cánh cửa mới trong việc tiếp cận tri thức, trao đổi văn hóa, và tạo ra
một môi trường giao lưu đa dạng. Tuy nhiên, trong quá trình tiếp thu những thay đổi
này, người Việt Nam vẫn giữ được những giá trị cốt lõi và đặc trưng của đời sống tinh thần truyền thống.
Tổng thể, đời sống tinh thần của người Việt Nam được hình thành từ sự kết hợp độc
đáo của các yếu tố văn hóa, lịch sử, tôn giáo, gia truyền, cộng đồng và xã hội. Nó tạo
nên một tầm nhìn sâu sắc về cách nhìn nhận và đối nhân xử thế, định hướng cuộc
sống và xây dựng một xã hội phồn vinh và hạnh phúc.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN TRIẾT
HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG TINH THẦN NGƯỜI VIỆT
2.1 Ảnh hưởng của nhân sinh quan triết học Phật Giáo đối với đời sống tinh thần người Việt hiện nay
2.1.1 Ảnh hưởng của nhân sinh quan triết học Phật Giáo đối với đạo đức, lối sống
người Việt ( Nguyễn Thị Trang )
1. Ảnh hưởng của nhân sinh quan triết học phật giáo đến đời sống người việt Về quan niệm sống
- Người Việt Nam thường quan niệm: “Sống gửi, thác về”. Câu nói chỉ có bốn chữ ấy bao
gồm một triết lý sâu xa của thế giới quan Phật giáo về quan niệm sống cả một đời người.
Thế giới quan Phật giáo xuất phát từ chỗ cho rằng mọi sự vật hiện tượng là sự kết hợp
động của những yếu tố động, nên nó không có tự tính, tức không có cái mà nhờ cái đó có
thể gọi là nó được. Mọi cái đều vô ngã, “chư Pháp vô ngã”. Ngay cả con người cũng chỉ
là sự kết hợp động của ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), bởi vậy con người là vô ngã.
Sống với chết, sinh với tử có ý nghĩa gì, đó chẳng qua chỉ là thay đổi, hợp tan của ngũ
uẩn. Quan điểm này khiến con người không còn khiếp sợ, bạc nhược khi đứng trước cái chết.
- Thế giới quan Phật giáo chỉ ra mối quan hệ cơ bản của mọi sự vật hiện tượng là quan hệ
nhân quả. Chính từ cách xem xét vạn vật này mà con người theo thế giới quan Phật giáo
cũng mang tính chất nhân quả. Ảnh hưởng của quan điểm này lớn đến mức chính nó biến
thành quan niệm sống của đại đa số người Việt. Người ta luôn nói với nhau: Gieo nhân
nào gặt quả ấy, “Gieo gió gặp bão”, “Ác giả ác báo”. Đối với người thường, quan niệm
nhân quả của thế giới quan Phật giáo thật khó để hiểu đến tận ngọn nguồn, đặc biệt là
thuyết luân hồi nghiệp báo, nhưng xét ở mặt nào đó, nó có ý nghĩa nhất định đối với quan
niệm sống người Việt. Thử hỏi nếu thay thế quan điểm này bằng quan điểm “chết là hết”
sẽ để lại hậu quả khôn lường. Khi tính ích kỷ và “cái tôi” lên đến cực điểm, con người sẽ
bất chấp công bằng và lẽ phải, luân lý đạo đức, để thỏa món dục vọng cá nhân. Đó là dấu
hiệu suy thoái mà chúng ta phải đấu tranh không khoan nhượng. Bên cạnh tuyên truyền
pháp luật, mặt khác, chúng ta nên đề cao giáo dục lương tâm, trách nhiệm, bởi “tòa án
lương tâm” cũng có vai trò không nhỏ. Cho nên, quan niệm nhân quả hết sức có giá trị về
quan niệm sống đối với người Việt.
- Thế giới quan Phật giáo cho rằng, nếu tâm vô minh, mê muội, vọng động ắt xuất hiện ta
– vật (thế giới vật chất), tâm – cảnh (thế giới bên ngoài). Như vậy, chỉ vì tâm u ám mà cả
con người và thế giới hiện tượng xuất hiện. Còn khi tâm sáng suốt, hư không, tĩnh lặng
thì cảnh cũng không mà tâm cũng không, Phật cũng không mà ngã cũng không. Như vậy
là “nhất thiết duy tâm tạo”, mọi thứ đều do tâm tạo ra. Ngay trong quan hệ giữa người với
người ở nước ta từ xưa đến nay, dân ta đều coi trọng cái tâm. Trong mọi việc, vấn đề
quan trọng là tấm lòng, là thành tâm, bởi “sống trong đời sống cần có một tấm lòng”. Đó
là truyền thống quý báu và có sự đóng góp của thế giới quan Phật giáo mà chúng ta phải phát huy.
- Mỗi người đều có hai phần vật chất (thân) và tinh thần (tâm) thống nhất với nhau. Từ đó
ta cũng có hai thứ bệnh, hai thứ khổ: Bệnh về thể xác, khổ về vật chất; bệnh về tinh thần,
khổ tâm. Chúng liên hệ mật thiết với nhau, nhiều khi bệnh về tinh thần lại có nguyên
nhân từ vật chất; ngược lại, nhiều bệnh về thể xác lại có nguồn gốc từ tinh thần. Trong xã
hội ngày nay, rất nhiều người giàu mà vẫn khổ tâm, “người giàu cũng khóc”. Một trong
những phương pháp chữa bệnh về tâm là phải an được cái tâm và đây là sở trường của
thế giới quan Phật giáo. Phép an tâm có ảnh hưởng sâu đậm đối với quan niệm sống của
người Việt từ xưa đến nay. Không phải ngẫu nhiên khi thấy người khác có vẻ lo lắng, câu
cửa miệng của mọi người là “yên tâm”, “an tâm”. Muốn an tâm hiệu quả thì tốt nhất phải
sống chính trực, trong sạch, “đói cho sạch, rách cho thơm”. Nhưng đói rách lại sinh bệnh
cho con người. Cho nên thế giới quan Phật giáo đã đưa ra quan niệm sống trung đạo,
tránh các trạng thái cực đoan.
Ảnh hưởng của thế giới quan Phật giáo đối với quan niệm sống người Việt hiện nay còn
thể hiện rõ khi cho rằng cuộc đời là bể khổ. Nói về đau khổ nhưng cuộc đời Đức Phật
không phải là cuộc đời u buồn, sầu não như một số người nghĩ. Mọi nỗi khổ đều có
nguyên nhân của nó. Sự thật, cõi khổ này vừa để trả quả, vừa để tạo nhân. Ý nghĩa của nó
ở chỗ làm cho người ta cố gắng vươn lên sống tốt, sống thiện hơn để sau này không còn
lặp lại. Giá trị ở chỗ nó là nơi thử thách con người, trong khổ đau mới thấy rõ phẩm giá
con người, thấy rõ sự vươn lên hay gục ngã trước cuộc đời. Vì vậy, quan niệm đời là khổ,
cuộc đời là bể khổ trong thế giới quan Phật giáo đã ăn sâu vào tiềm thức và tư tưởng của
đại đa số Phật tử và phần lớn người dân Việt Nam. Mỗi khi gặp phải bất hạnh, mất mát
đau thương hay những sự việc không đáp ứng được tâm lý và ước nguyện của mình,
người ta thường lấy quan niệm này làm nguồn an ủi. Về lối sống
- Lối sống của con người được hình thành trong quá trình tham gia các hoạt động xã hội.
Nó là cách thức sống của con người (cá nhân, nhóm, cộng đồng) trong một chế độ xã hội
nhất định, được biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống như: Lao động sản xuất, hoạt
động chính trị, văn hóa tinh thần và sinh hoạt hàng ngày. Lối sống của người Việt truyền
thống có nhiều nét đặc thù. Về cơ bản, nó chịu ảnh hưởng từ tư tưởng Tam giáo, trong đó
có các vấn đề nhận thức luận, đặc biệt là thế giới quan Phật giáo cũng ảnh hưởng ít nhiều:
“Lối sống cũng thể hiện rõ nhân sinh quan, thế giới quan, trình độ văn hóa của mỗi
người” [8, tr.34]. Rõ ràng, những người tu Phật chân chính đều có phong thái ung dung,
tự tại, không bao giờ làm những việc hại mình, hại người, trái lương tâm, đạo lý. Chính
điều đó ít nhiều đó tạo nên lối sống giản dị, thanh tao ít chú trọng đến danh lợi của những
người con Phật nói riêng và người dân Việt Nam nói chung.
-Ngôi chùa là nơi thờ tự, giảng dạy giáo lý nhà Phật, là nơi thể hiện quan niệm từ bi, hỷ
xả… gợi cho con người hướng thiện, hướng về những điều thanh cao trong cuộc sống và lối sống cao đẹp.
Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của Tổ tông.
- Người dân đi chùa lễ Phật đã trở thành nếp sống quen thuộc, không thể thiếu trong đời
sống tâm linh. Người Việt đi đến chùa với lòng thành kính, chủ yếu cầu mong sự bình an
cho bản thân, gia đình và sự thanh thản cho người quá cố. Việc ăn chay niệm Phật vào
ngày mồng một, ngày Rằm hàng tháng hay cầu siêu, giải hạn đều là nếp sống quen thuộc
của một bộ phận không nhỏ dân chúng. Những ngày lễ lớn như: Phật đản, Vu Lan… đều
trở thành đại lễ của đông đảo người dân Việt. Đây cũng là dịp giáo dục con người phải
biết sống tốt đẹp, nảy nở đức hy sinh và lòng vị tha. Từ đó, giúp con người gắn bó nhau
trong tình yêu thương đồng loại, khơi dậy tình yêu quê hương đất nước (ân đất nước),
nhớ ơn ông bà, cha mẹ dưỡng dục (ân cha mẹ).
- Với quan niệm lấy con người làm trung tâm, thấy được nỗi khổ của chúng sinh và mong
muốn chúng sinh thoát khỏi vũng trầm luân bể khổ, bằng chủ trương cứu nhân độ thế, từ
bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha, nhà Phật hướng con người tu tập nhân tâm, vượt qua mọi cám dỗ
để hoàn thiện nhân cách. Tinh thần ấy của đạo Phật cũng ảnh hưởng đến văn hóa Việt
thông qua đạo lý “Thương người như thể thương thân”. Các hoạt động cứu trợ đồng bào
bị thiên tai, xóa đói giảm nghèo, xây nhà tình nghĩa,… của các cá nhân, tổ chức một phần
cũng do ảnh hưởng từ tư tưởng từ bi, hỷ xả, cứu khổ, cứu nạn của nhà Phật.
2. Ảnh hưởng của nhân sinh quan triết học phật giáo đối với ý thức đạo đức con người việt nam
Trong thế giới quan Phật giáo, đạo đức có vai trò rất quan trọng, bởi đó là phẩm phương
tiện cụ thể để hành giả thực sự thoát khổ, vượt qua mọi ràng buộc. Những cơ sở triết lý
trực tiếp của đạo đức trong thế giới quan Phật giáo đều đặt trọng tâm vào con người, nền
tảng của thuyết nghiệp (luật nhân quả), tinh thần vô ngã, vị tha và đề cao tinh thần bi, trí,
dũng của một nền đạo đức độ sinh rộng lớn…
Thế giới quan Phật giáo cho rằng tính “thiện” vốn tồn tại trong mỗi người. Đau khổ hay
hạnh phúc là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp do hành động thiện hay ác mà chính mình
gây ra chứ không phải do thế lực siêu nhiên nào. Cho nên, cốt lõi của đạo đức Phật giáo
là Giới, Định, Tuệ trong Bát chánh đạo (Đạo đế). Bát chánh đạo là tám phương pháp thực
hành kết hợp ý thức với hành động đúng đắn. Khái niệm “chánh” cho thấy rõ vai trò định
hướng giá trị đạo đức trong thế giới quan Phật giáo. Đạo đức trong thế giới quan Phật
giáo với tính thiện, bình đẳng, nêu cao tinh thần cứu khổ, cứu nạn đã thấm sâu vào nhân
dân, gắn bó cùng dân tộc qua bao thăng trầm lịch sử và tồn tại đến ngày nay. Nhờ những
điểm tương đồng giữa Phật giáo và dân tộc ta mà quan niệm đạo đức trong thế giới quan
Phật giáo được tiếp nhận dung hợp với đời sống văn hóa, chính trị, tín ngưỡng… và đạo
đức truyền thống Việt Nam. Nguyên nhân cho hiện tượng trên, đầu tiên có thể giải thích
từ bản thân Phật giáo đã đi vào lòng người, phù hợp với phong tục tập quán bản địa.
Ngày nay, dù ảnh hưởng của thế giới quan Phật giáo đến ý thức đạo đức con người Việt
Nam dù ở mức độ và phạm vi khác nhau, nhưng chung quy tính thiện vẫn được duy trì,
ảnh hưởng rõ rệt trong lòng nhân dân. Chính tính thiện đi liền với trí tuệ ấy đã tạo ra cho
nhiều người niềm tin, cảm tình với thế giới quan Phật giáo, nhất là trong hoàn cảnh xã
hội và tình hình thế giới hiện nay.
Luật nhân quả của thế giới quan Phật giáo còn khẳng định khi gieo nhân tức là đó gây
nghiệp, tạo nghiệp lành được quả lành, tạo nghiệp dữ bị quả dữ. Vì vậy, Phật giáo luôn
hướng con người vào việc thiện, xa lánh điều ác. Triết lý về luật nhân quả cũng góp phần
ngăn ngừa ý định, hành vi vi phạm pháp luật của con người khi còn chưa bộc lộ. Hiện
nay, ở nhiều ngôi chùa, các nhà sư thuyết giảng về đạo đức Phật giáo cho những Phật tử,
người dân, cho đến các em nhỏ trong những khóa tu mùa hè. Điều đó có ý nghĩa và giá trị
rất lớn trong việc góp phần xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta. Bởi con người trước
nguy cơ trở thành tội phạm, lương tâm thường hay bị cắn rứt, dày vò. Trong suy nghĩ ban
đầu của họ luôn có sự đắn đo, đấu tranh tư tưởng… Do đó, nếu như họ bị trừng phạt, quả
báo có thể ứng ngay với bản thân, thậm chí còn chịu hậu quả lâu dài về sau. Nhiều vị Sư
đã từng vào tận trại giam để giảng giải giáo lý nhân quả cho các phạm nhân, để họ ăn năn
hối cải và nhanh chóng hoàn lương. Sau khi cải tạo tốt và tái hòa nhập cộng đồng, họ sẽ
có những hành động thiện để chuộc lại lỗi lầm, cải tạo nghiệp đã gây ra trước đó.
Dân tộc Việt Nam từ khi hình thành đến nay trải qua bao thăng trầm lịch sử, những thuận
lợi cũng như khó khăn thử thách đã hun đúc làm nên tinh thần yêu nước nồng nàn, là cốt
lõi của nhân phẩm. Thế giới quan Phật giáo vừa là một hệ thống triết học tôn giáo, vừa là
học thuyết có giá trị đạo đức rất cao, mà mục đích duy nhất là cứu khổ độ sinh. Theo Đức
Phật, một đời sống hạnh phúc là một đời sống có đạo đức. Ngay từ khi du nhập vào nước
ta, thế giới quan Phật giáo đã tham gia vào nền đạo đức dân tộc một cách hòa bình, thẩm
thấu vào truyền thống yêu nước trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc.
- Mặt tích cực của thế giới quan Phật giáo nói chung, đạo đức trong thế giới quan Phật
giáo nói riêng bao gồm nhiều khía cạnh. Trước hết, nó góp phần củng cố đạo đức xã hội,
tôn vinh những giá trị văn hóa dân tộc, yêu quê hương đất nước, yêu kính và phụng
dưỡng cha mẹ, giàu lòng nhân ái, vị tha… góp phần tạo nên nhân cách của một bộ phận
người Việt Nam đang sống. Ảnh hưởng của nó làm cho họ có cuộc sống lành mạnh, trong
sạch, giản dị, có tấm lòng nhân ái, khoan dung, yêu thương đồng loại, biết cảm thông,
quan tâm đến nỗi khổ của người khác, cứu người trong lúc hoạn nạn khó khăn… Mọi
hành động ấy đều bắt đầu từ tâm, từ tính tự giác. Chính những tư tưởng về đạo đức trong
thế giới quan Phật giáo đã góp phần nâng cao và làm phong phú hơn những giá trị đạo
đức con người Việt Nam hiện nay.
2.1.2 Ảnh hưởng của nhân sinh quan triết học Phật Giáo đối với văn hoá, phong
tục tập quán người Việt
2.1.2.a. ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VĂN HÓA
Ảnh hưởng của nhân sinh quan triết học Phật giáo qua ngôn ngữ
Trong đời sống giao tiếp thường nhật của người Việt, nhiều từ ngữ chịu ảnh hưởng từ thế
giới quan Phật giáo được các tầng lớp xã hội hay dùng. Tuy nhiên, không phải ai cũng
biết những từ ngữ này xuất phát từ thế giới quan Phật giáo, chẳng hạn như khi bày tỏ
thương xót trước người gặp hoạn nạn, người ta bảo “tội nghiệp quá”. Hai chữ “tội
nghiệp” là từ chuyên môn của Phật giáo, có nghĩa là tội do nghiệp tạo ra từ trước, dẫn
tới tai nạn hay sự cố hiện nay. Theo giáo lý nhà Phật, không một hiện tượng hay tai nạn
nào xảy ra ngẫu nhiên, mà đều là kết quả tập thành của nhiều nguyên nhân từ trước. Tất
cả được gọi là nhân duyên, khi chín muồi thì đem lại kết quả. Cho nên nói “tội nghiệp
quá” là bắt nguồn từ học thuyết “nghiệp cảm duyên khởi” (thuyết nhân quả) của nhà
Phật. Học thuyết này cũng đi sâu vào nhận thức dân gian với những câu tục ngữ như:
“ác giả ác báo; hại nhân nhân hại; ở hiền gặp lành; gieo gió gặp bão”
Người Việt cũng thường nói: “Hiền như Bụt”, vì họ quan niệm Phật không chỉ có quyền
năng mà còn rất hiền từ, luôn sẵn sàng cứu khổ cứu nạn. Còn nhiều từ ngữ khác như: Từ
bi, hỷ xả, giác ngộ, giải thoát, sám hối, làm phúc,… được người Việt quen dùng như tiếng
mẹ đẻ trong giao tiếp hàng ngày. Sự ảnh hưởng của thế giới quan Phật giáo không chỉ ở
phạm vi từ ngữ mà còn lan rộng, ăn sâu vào ca dao, thơ ca của người Việt nữa.
Ảnh hưởng của nhân sinh quan triết học Phật giáo qua ca dao, tục ngữ
Tư tưởng Phật giáo thường được người xưa đề cập đến trong ca dao, tục ngữ để nhắc
nhở, khuyên răn con cháu, nhằm xây dựng một cuộc sống an vui phù hợp với truyền
thống đạo đức dân tộc Việt Nam:
“Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm”; Hay:
“Cuộc đời khác nữa là hoa
Sớm còn tối mất, nở ra lại tàn”.
Câu ca dao trên thể hiện thuyết vô thường trong thế giới quan Phật giáo, để đối trị với
lòng tham vô đáy của người đời, tham sắc, tham của, tham danh, tham ăn, tham ngủ mà
không hiểu rằng sắc đẹp mấy rồi cũng tàn phai, của nhiều mấy rồi cũng hết… như đóa hoa kia.
Là người Việt Nam không thể không hiếu kính cha mẹ. Lòng tri ân và báo ân đã trở thành
bản tính tự nhiên, ăn sâu vào tâm khảm của người dân Việt, chịu ảnh hưởng đậm nét của
thế giới quan Phật giáo.
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con”.
Cũng vì kính thương cha mẹ, nên người con luôn luôn cầu nguyện Phật, Trời gia hộ cho
hai đấng từ thân: “Đêm đêm khấn nguyện Phật Trời/ Cầu cho cha mẹ sống đời với con”.
Thực ra Hiếu tâm tức thị Phật tâm, làm tròn bổn phận của người con đối với cha mẹ
chính là một trong những pháp tu của nhà Phật: “Đi về lập miếu thờ vua/ Lập trang thờ
mẹ, lập chùa thờ cha”.
Người Việt còn chịu ảnh hưởng bởi thuyết nhân quả luân hồi của Phật giáo và thường
nhắn nhủ nhau chớ có vì danh lợi mà hại người để rồi chuốc lấy đau khổ. Hãy ăn ở
lương thiện rồi thế nào cũng gặp điều may mắn và hạnh phúc: “Ai ơi hãy ở cho lành/
Kiếp này chẳng gặp để dành kiếp sau”. Các bậc cha mẹ lại càng tu nhân tích đức cho
con cháu về sau được nhờ:
“Cây xanh thì lá cũng xanh
Cha mẹ hiền lành để đức cho con”.
Ảnh hưởng của nhân sinh quan triết học Phật giáo qua các tác phẩm thơ ca
Trong các tác phẩm văn học, chúng ta thấy có nhiều tác phẩm chịu ảnh hưởng của nhân
sinh quan Phật giáo. Ở đây, tác giả xin đề cập đến ảnh hưởng của Phật giáo trong thơ
văn Việt Nam từ thế kỷ XVIII trở về sau.
- Tác phẩm thơ Nôm “Cung oán ngâm khúc” của nhà thơ Nguyễn Gia Thiều (1741-
1789), viết theo thể song thất lục bát, dài 356 câu, là khúc ngâm của người cung nữ bị
vua ruồng bỏ, oán than về thân phận mình. Nội dung tác phẩm chịu nhiều ảnh hưởng của
thế giới quan Phật giáo, nhất là các học thuyết vô thường – vụ ngã – khổ đế. Khi diễn tả
thân phận con người vốn đau khổ và mang tính vô thường, ông viết:
Gót danh lợi bùn pha sắc xám
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu
Nghĩ thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê…
Theo góc nhìn Phật giáo, nỗi khổ chúng sinh thường được dùng ẩn dụ như khổ ải (bể
khổ). Cái khổ ấy từ đâu mà có, vốn từ vô minh hay “bến mê”. Mượn khái niệm “bể khổ”
trong Phật giáo, Nguyễn Gia Thiều đã diễn tả thấu đáo nỗi khổ đau của kiếp người, điều
đã chi phối cả cỏ, cây, hoa, lá,… Tất cả chịu chung quy luật khắc nghiệt: “Tang thương
đến cả hoa kia cỏ này…”.
Truyện Kiều của Nguyễn Du (1765-1820) là truyện thơ chịu nhiều ảnh hưởng của thế
giới quan Phật giáo, nổi bật là thuyết khổ đế, nhân quả, nghiệp báo, kế đó là tinh thần về đạo Hiếu.
“Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.
Nhưng nhân sinh quan Phật giáo không chủ trương “Nghiệp quyết định luận” [7, tr.47]
bằng hành động, người tạo ra nghiệp, cũng bằng hành động, con người có thể chuyển
nghiệp, cởi bỏ nghiệp, cho nên Nguyễn Du mới tự tin nói rằng:
“Sư rằng phúc họa đạo trời
Cội nguồn cũng bởi lòng người mà ra
Có trời mà cũng có ta
Tu là cội phúc, tình là dây oan”.
Có hai câu trong Truyện Kiều rất hay, kết tinh triết lý hành động của nhân sinh quan
Phật giáo: “Dù xây chín cấp phù đồ, Không bằng làm phúc cứu cho một người”. Phù đồ
là tháp Phật, chùa Phật. Thế giới quan Phật giáo cho rằng sống thiện lành, hành động
thiện lành, với tấm lòng chân thực, muốn cho mọi người đều vui (lòng từ), muốn mọi
người khỏi khổ (lòng bi), thì công đức còn gấp ngàn vạn lần. Sống như thế nào, hàng
ngày suy nghĩ, nói năng, hành động thế nào, đó mới là điều quan trọng bậc nhất đối với Phật tử.
Qua đầu thế kỷ XX, chúng ta có một nhà thơ tuy không phải tín đồ Phật giáo, nhưng
thỉnh thoảng thơ của ông cũng ảnh hưởng ít nhiều ngôn ngữ, tư tưởng từ Phật giáo, đó là
thi sĩ Hàn Mặc Tử (1912-1940):
“Thơ tôi thơm huyền dịu
Mọc lên đạo từ bi
Khi xưa ta là chim Phượng Hoàng
Vỗ cánh bay chí tầng trời cao ngất
Bay từ Đao lợi, đến trời Đâu Suất
Họp tinh khí muôn năm thành Chánh quả…”
Và Vũ Hoàng Chương (1916-1976) lại đi xa hơn, mượn ngay những nội dung của thế
giới quan Phật giáo như: Nhân quả, vô thường, luân hồi, khổ đế… để diễn tả nỗi niềm
khao khát vượt ra khỏi bờ mê, để đến bến giác.
“Ta còn để lại gì không?
Kia non đá lở, nay sông cát bồi
Lang thang thì độ luân hồi
U minh nẻo trước, xa xôi dặm về
Trông ra bến hoặc bờ mê
Nghìn thu cửa chớp, bốn bề một phương”.
Trên đây là điểm qua một số tác giả điển hình có ảnh hưởng của thế giới quan Phật giáo.
Có thể thấy, tư tưởng Phật giáo đã để lại dấu ấn sâu đậm trên thi đàn Việt Nam từ xưa đến nay.
Ảnh hưởng của nhân sinh quan triết học Phật giáo qua điêu khắc, hội họa
Ngày nay có dịp tham quan các viện bảo tàng, các chùa hay làng nghề điêu khắc truyền
thống, chúng ta sẽ thấy nhiều cốt tượng, phù điêu của Phật giáo được trưng bày. Đây là
niềm tự hào của nền văn hóa dân tộc và cũng là những dấu vết minh chứng cho sức ảnh
hưởng của thế giới quan Phật giáo vào lĩnh vực điêu khắc là rất lớn. Nhiều tác phẩm
như: Tượng Phật Quan Âm nghìn mắt nghìn tay (chùa Bút Tháp, Bắc Ninh), 16 pho
tượng tổ bằng gỗ chùa Tây Phương (Hà Nội), tượng Đức Phật Thích Ca ngồi kiết già cao
11 mét tại Vũng Tàu, tượng Phật chùa Khải Tường (TP HCM)…
- Mái chùa cổ kính giữa núi non tĩnh mịch hay các lễ hội viếng chùa ngày đầu xuân hoặc
tư tưởng thiền học Phật giáo luôn là đề tài tạo nhiều cảm hứng cho các nghệ nhân và
họa sĩ. Nhiều tranh lụa, màu nước, sơn dầu, sơn mài đề cập đến chủ đề Phật giáo đã
được các họa sĩ ở Việt Nam thể hiện sống động và tinh tế qua các tác phẩm như: “Chùa
Thầy” của Nguyễn Gia Trí sáng tác năm 1938, “Lễ chùa” của Nguyễn Siêu, “Tăng” của
Đỗ Quang Em, “Đi lễ chùa” của Nguyễn Khắc Vịnh. Đặc biệt từ thập niên 80 trở lại đây,
có “Thiền Quán”, “Quan Âm Thị Hiện”, “Rừng Thiền” của họa sĩ Phượng Hồng, “Nhất
Hoa Vạn Pháp” của Văn Quang… Trong cuốn “Lược sử Mỹ thuật Việt Nam” (Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1970), tác giả Nguyễn Phi Hoanh viết rằng: “Nghệ thuật
cổ của ta còn đến ngày nay, tối đại bộ phận là nghệ thuật Phật giáo. Trong thời đại xa
xăm ấy, nếu tất cả nghệ sĩ không phải là tín đồ Phật giáo, thì chùa Phật là nơi đào tạo
hầu hết các nghệ sĩ tạo hình” [8, tr.93].
2.1.2.b. ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI PHONG TỤC TẬP QUÁN
Phong tục tập quán thể hiện nét đặc sắc và đặc thù văn hóa của mỗi dân tộc. Thông qua
việc tìm hiểu nó, chúng ta tìm lại được những giá trị văn hóa mang bản chất truyền thống
của các dân tộc. Đối với người Việt Nam, những phong tục tập quán chịu ảnh hưởng của
thế giới quan Phật giáo khá nhiều. Ở đây, em xin đề cập đến một số những phong tục tập
quán phổ biến trong đời sống tinh thần người Việt hiện nay.
Ảnh hưởng của nhân sinh quan triết học Phật giáo qua tập tục cúng rằm, mùng một và đi lễ chùa
Theo truyền thống, cúng rằm và mùng một là tập tục cúng sóc vọng. Khi ấy là ngày trong
sạch để các vị Tăng kiểm điểm hành vi bản thân, gọi là ngày Bố tát và ngày sám hối, tín
đồ về chùa để tham gia cầu nguyện, bỏ ác làm thiện và sửa đổi thân tâm. Ngoài đi chùa
sám hối, Phật tử còn thắp nhang đèn, hương hoa để dâng cúng Tam bảo và tổ tiên, thể
hiện lòng tôn kính, thương nhớ những người đã khuất. Đó cũng là hình thức cụ thể hóa
hành vi tu tâm dưỡng tính và giáo dục con cháu về đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.
Ngoài ra, vào ngày Rằm tháng Giêng, lễ Phật đản và lễ Vu Lan, người Việt cũng thường
đi viếng chùa, lễ Phật. Đây là một tập tục, một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống
tinh thần. Vào những ngày này, đông đảo các tầng lớp nhân dân quy tụ về đây, thể hiện
tấm lòng thành kính đối với Đức Phật. Những hình ảnh đó cũng góp phần tạo nên nét đẹp văn hóa Việt Nam.
Ảnh hưởng của nhân sinh quan triết học Phật giáo qua tục ăn chay, phóng sinh và bố thí
Về ăn chay, hầu như người Việt Nam đều chịu ảnh hưởng của nếp sống văn hóa này. Nó
xuất phát từ quan niệm từ bi của thế giới quan Phật giáo. Mỗi người Phật tử phải thọ
giới và trai giới, trong đó giới căn bản là không sát sinh. Trong hành động, lời nói, ý
nghĩ thì Phật tử phải thể hiện lòng từ bi. Để đạt được mục đích đó, Phật tử phải dùng đến
phương pháp ăn chay. Nhiều người Việt Nam, cả Phật tử lẫn người không phải Phật tử
cũng theo tục lệ này, họ ăn chay mỗi tháng hai ngày (mùng một và rằm mỗi tháng), có
người ăn mỗi tháng bốn ngày là ngày 1, 14, 15 và 30 (nếu tháng thiếu thì ăn chay ngày
29),… Đôi khi có một số người phát tâm ăn trường trai giống như người xuất gia. Ăn
chay và thờ Phật là việc đi đôi với nhau của người Việt. Ngoài Phật tử, nhiều người
không phải Phật tử cũng dùng tượng Phật hay tranh ảnh có yếu tố Phật giáo để chiêm
ngưỡng và trang trí cho cảnh nhà thêm trang nghiêm.
Cũng xuất phát từ tinh thần từ bi của đạo Phật, tục lệ bố thí và phóng sinh đã ăn sâu vào
đời sống tinh thần nhân dân ta. Đến ngày rằm và mùng một, nhiều người thường mang
cá sống đem vào chùa chú nguyện rồi phóng sinh. Người Việt cũng sẵn sàng làm phúc bố
thí, giúp đỡ người nghèo khó, hoạn nạn. Nhiều nhà chùa và Phật tử tổ chức những đợt
cứu trợ, tiếp tế cho đồng bào bị thiên tai hoặc có hoàn cảnh khó khăn đúng với truyền
thống “lá lành đùm lá rách”.
Ảnh hưởng của nhân sinh quan triết học Phật giáo qua nghi thức ma chay, cưới hỏi
Về ma chay, phong tục của người Việt trước đây rất cầu kỳ. Tuy nhiên, trong những năm
gần đây, nhờ sự dẫn dắt của chư Tăng, tang lễ đã diễn ra đơn giản và trang nghiêm hơn.
Khi trong gia đình (theo đạo Phật) có người qua đời, thân nhân thường đến chùa thỉnh
chư Tăng về nhà để giúp đỡ phần tang lễ. Thông thường các nghi thức diễn ra tuần tự
như sau: 1. Nghi thức nhập liệm; 2. Lễ phát tang; 3. Lễ tiến linh (cúng cơm); 4. Khóa lễ
kỳ siêu cho hương linh; 5. Lễ cáo triều tổ (cáo tổ tiên ông bà trước giờ di quan); 6. Lễ di
quan và hạ huyệt; 7. Đưa lư hương, long vị, hình vong về nhà hoặc chùa; 8. Lễ an sàng;
9. Tụng kinh cầu siêu và cúng cơm cho hương linh 49 ngày; 10. Lễ tiểu tường (sau ngày
hương linh mất một năm); 11. Lễ đại tường (lễ xả tang, sau ngày hương linh qua đời hai
năm). Ở những gia đình không theo đạo Phật, họ vẫn có thể thỉnh chư Tăng đến tụng
kinh cầu siêu cho hương linh và tổ chức tang lễ tương tự. Nhìn chung, tập tục ma chay tại
Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm từ những nghi thức Phật giáo.
Trong việc cưới hỏi, trước khi tiến đến hôn nhân, nhiều đôi trẻ theo tín ngưỡng Phật
giáo, thường đến chùa khấn nguyện với chư Phật phù hộ cho mối lương duyên của họ
được trăm năm hạnh phúc. Đến ngày cưới hỏi, họ được hướng dẫn về chùa để các chư
Tăng làm lễ “hằng thuận quy y” trước khi rước dâu. Đó là một lễ chúc lành ngắn gọn và
được chư Tăng khuyên dạy một số nguyên tắc đạo đức Phật giáo, để làm kim chỉ nam
cho cuộc sống mới giữa hai vợ chồng.
2.2 Nhận xét về ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của nhân sinh quan triết học Phật Giáo
đối với đời sống tinh thần người Việt hiện nay
2.2.1 Một số nhận xét về ảnh hưởng tích cực (Thủy Tiên)
Ảnh hưởng của nhân sinh quan phật giáo đối với đời sống tinh thần người dân
Việt Nam từ trong quan niệm sống, lối sống, phong tục tập quán, văn hóa nghệ thuật tư
duy. Chúng ta có thể khái quát những ảnh hưởng tích cực của nhân sinh quan Phật giáo
đối với đời sống tinh thần người dân Việt Nam như sau:
Thứ nhất, nhân sinh quan Phật giáo tạo ra lối sống thiện trong đời sống tinh thần người dân Việt Nam.
Thứ hai, nhân sinh quan Phật giáo giúp con người sống có đạo đức hơn vị tha hơn.
Thứ ba, nhân sinh quan Phật giáo giúp con người sống biết hy sinh vì mọi người.
Thứ tư, nhân sinh quan Phật giáo giúp con người sống hướng lương thiện hơn, tâm hồn cao đẹp hơn.
Ảnh hưởng tích cực của tư tưởng “nhân sinh" quan Phật giáo bao gồm nhiều khía
cạnh. Góp phần củng cố đạo đức xã hội, tôn vinh những giá trị văn hoá dân tộc, khơi dậy
tinh thần đoàn kết tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách góp phần tạo nên nhân cách con người Việt Nam.
Từ du nhập vào Việt Nam, theo suốt chiều dài lịch sử dân tộc, Phật giáo có mặt
gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần người dân Việt Nam biểu hiện trong nhiều lĩnh
vực: đạo đức, lối sống, văn hóa. Phật giáo được người Việt tiếp cận một cách rất dễ dàng
tự nhiên, tư tưởng Phật giáo có nhiều nét tương đồng với phong tục tập quán, truyền
thống dân tộc Việt Nam. Có thể nói, truyền thống sẵn có của dân tộc dễ dàng hòa quyện
với giáo lý Phật giáo, tạo nên chủ nghĩa tích cực mang màu sắc Việt Nam, nhân tố bền
vững nhân sinh quan Việt Nam.
2.2.2 Một số nhận xét về ảnh hưởng tiêu cực Huy Linh
Thứ nhất, nhân sinh quan Phật giáo chú trọng đến con người, đạo đức con người,
hướng con người đến một bản thể tốt đẹp hơn nhưng không chú trọng vào các vấn đề
kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ.
Thứ hai, nhân sinh quan Phật giáo chú trọng đến giải thoát con người khỏi cái khổ
của tinh thần và vật chất làm cho con người ù lì không nâng cao phát triển giá trị bản thân
làm cho xã hội chậm phát triển
Thứ ba, những hình thức sinh hoạt Phật giáo làm biến tướng về nhân sinh quan Phật giáo
Thuyết nhân quả của Phật giáo tạo cho con người có tính nhẫn nhục, cam chịu,
bằng lòng với số phận của mình ở cuộc sống trần gian. Như vậy, vô hình chung đã tạo
điều kiện thuận lợi cho giai cấp thống trị lợi dụng ru ngủ nhân dân, loại bỏ tinh thần vươn
lên đấu tranh của họ, dẫn đến sự cai trị của chúng dễ dàng hơn. Mặt khác, trong thực tế,
chùa chiền trở thành nơi ẩn náu của một số người tỏ ra bất mãn trước cuộc sống, gặp khó
khăn hay thất bại trong cuộc sống và chưa làm chủ cuộc sống của chính mình, do vậy họ
vào chùa nương tựa cửa Phật, lẩn trốn thực tại.
Xuất phát từ quan niệm đời là bể khổ, cuộc sống ở trần gian là tạm bợ, là sự chuẩn
bị cho cuộc sống ở cõi Niết bàn, đã làm cho con người xa lánh cuộc đời, an phận thủ
thường, thu mình trước mọi bất công, nảy sinh tâm trạng bi quan, yếm thế trước cuộc
sống. Đó là điều không phù hợp và là sự cản trở đối với sự tiến bộ của nhân loại, đặc biệt
trong điều kiện hiện nay. Con người ở thế giới thực tại, nhất là trong xã hội hiện đại, càng