CHƯƠNG 3
1. Các thuộc tính của hàng hóa sức lao động (tránh nhầm lẫn với thuộc tính của hàng hóa thông thường). Liên hệ với việc
phát triển thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay.
- 2 Thuộc tính: Gtri và gtri sdung (sgk/49,50 bản Hanu 2025)
- Liên hệ:
+ Giá trị hàng hóa sức lao động ở Việt Nam, được xác định bởi chi phí tái sản xuất (gồm chi phí sinh hoạt,
đào tạo), đang có sự cải thiện rõ rệt nhưng vẫn còn khoảng cách. Việc tăng cường chất lượng nguồn nhân
lực thông qua đào tạo là một ưu tiên. Theo số liệu 9 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có
bằng, chứng chỉ là 29,1%, tăng 1,0 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Sự gia tăng này cho thấy
nhà nước và doanh nghiệp đang chú trọng hơn vào chi phí đào tạo, trực tiếp nâng cao giá trị của sức lao
động Việt Nam trên thị trường.
+ Thu nhập bình quân của người lao động tăng lên là dấu hiệu cho thấy chi phí tái sản xuất sức lao động (tức
Giá trị của hàng hóa sức lao động) đang được thị trường ghi nhận cao hơn. Trong 6 tháng đầu năm
2025, thu nhập bình quân tháng đạt 8,3 triệu đồng, tăng 760 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước. Tuy
nhiên, sự chênh lệch rõ rệt giữa thành thị (10,0 triệu đồng) và nông thôn (7,2 triệu đồng) phản ánh sự
khác biệt trong yêu cầu về chi phí sinh hoạt và trình độ lao động, dẫn đến sự phân hóa về Giá trị của hàng
hóa sức lao động giữa các vùng.
+ Thị trường lao động Việt Nam đang dịch chuyển theo hướng tìm kiếm Giá trị sử dụng cao hơn, tức là sức
lao động có khả năng tạo ra giá trị thặng dư lớn. Các ngành kinh tế trọng điểm như Công nghiệp chế biến -
chế tạo, Bất động sản & Xây dựng, và Logistics đều ghi nhận nhu cầu tuyển dụng tăng mạnh trong đầu năm
2025 (tăng trên 40% ở một số ngành). Tuy nhiên, hầu hết các ngành đều khát nhân lực tay nghề cao, cho
thấy sự mất cân đối giữa cầu về sức lao động có khả năng tạo giá trị thặng dư lớn và cung cấp từ thị trường.
+ Mặc dù thị trường lao động có nhiều tín hiệu tích cực, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (15-24 tuổi) vẫn ở
mức cao 8,06% (6 tháng đầu năm 2025). Tình trạng này phản ánh việc một bộ phận lớn sức lao động có
giá trị sử dụng tiềm năng chưa được khai thác hiệu quả. Điều này là một thách thức lớn, bởi nó không chỉ
gây lãng phí nguồn lực mà còn cản trở khả năng tạo ra giá trị mới và giá trị thặng dư cho toàn bộ nền kinh
tế quốc gia.
+
Để phát triển thị trường hàng hóa sức lao động bền vững, Việt Nam cần đồng thời nâng cao cả hai thuộc
tính. Cụ thể, cần tiếp tục đầu tư vào đào tạo, gắn kết với nhu cầu thị trường để nâng cao Giá trị sức lao
động, đồng thời hoàn thiện hệ thống kết nối cung-cầu, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh để tối ưu hóa
Giá trị sử dụng của nguồn nhân lực, đặc biệt là lao động chất lượng cao và lao động trẻ
.
2. Phân tích sự chuyển hóa tiền thành tư bản và ý nghĩa của việc phát hiện ra hàng hóa sức lao động trong việc giải quyết
mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản?
Sự chuyển hóa tiền thành tư bản là quá trình tiền được sử dụng để tạo ra một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu,
thể hiện qua công thức T – H – T'. Tuy nhiên, sự vận động này chứa đựng một mâu thuẫn căn bản: Nếu việc mua
bán diễn ra theo nguyên tắc ngang giá trong lưu thông, thì không thể có sự tăng thêm giá trị (m); nhưng nếu loại bỏ
lưu thông, quá trình tư bản cũng không thể khởi động và hoàn thành. Mâu thuẫn được tóm gọn: tư bản phải phát
sinh trong lưu thông và đồng thời không thể phát sinh trong lưu thông.
Mác đã giải quyết mâu thuẫn này bằng việc phát hiện ra hàng hóa sức lao động. Sức lao động trở thành hàng hóa
khi người lao động tự do nhưng bị tước đoạt tư liệu sản xuất, buộc phải bán khả năng lao động. Sức lao động là hàng
hóa đặc biệt vì giá trị sử dụng của nó có khả năng tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn chính giá trị của nó.
Quá trình chuyển hóa tiền thành tư bản là sự thống nhất giữa lưu thông và sản xuất. Trong giai đoạn lưu thông ban
đầu (T→H), nhà tư bản mua tư liệu sản xuất và sức lao động theo nguyên tắc ngang giá. Giá trị thặng dư chưa phát
sinh ở đây. Giai đoạn then chốt là sản xuất (H→H′), diễn ra ngoài lưu thông. Trong quá trình tiêu dùng sức lao
động, công nhân tạo ra giá trị mới, bao gồm phần giá trị bù đắp lại giá trị sức lao động (lao động cần thiết) và phần
giá trị dôi ra giá trị thặng dư (m) (lao động thặng dư). Cuối cùng, giai đoạn lưu thông sau cùng (H′→T′) chỉ là quá
trình thực hiện hóa giá trị thặng dư đã được tạo ra trong sản xuất.
Ý nghĩa của việc phát hiện ra hàng hóa sức lao động là vô cùng to lớn. Nó đã giải quyết triệt để mâu thuẫn trong
công thức chung: giá trị thặng dư không vi phạm quy luật lưu thông ngang giá, vì nó không phát sinh từ việc mua
bán, mà phát sinh từ quá trình bóc lột lao động thặng dư của công nhân trong sản xuất. Phát hiện này đã vạch trần
bản chất kinh tế của chủ nghĩa tư bản, chứng minh rằng lợi nhuận (tức giá trị thặng dư) có nguồn gốc từ lao động
không công của người lao động
3. Hệ thống lại các cặp khái niệm: tư bản bất biến và tư bản khả biến, tư bản cố định và tư bản lưu động theo các tiêu chí:
căn cứ phân chia; mục đích và ý nghĩa phân chia các loại tư bản này. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.
Note: Trong đó, nghiên cứu cặp phạm trù TBBB – TBKB cần liên hệ với vai trò của máy móc và công nghệ hiện đại trong quá
trình tạo ra giá trị và giá trị thặng dư; đối với TBCĐ – TBLĐ, cần vận dụng để hiểu được vấn đề khẩu hao máy móc và cách
thức phân chia tư bản ứng trước một cách hiệu quả trong quá trình đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp.
Định nghĩa tư bản
o
Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Mục đích lưu thông tư bản là sự lớn lên của giá trị, là giá trị thặng
dư, nên sự vận động của tư bản là không có giới hạn, vì sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn. Đây là
một định nghĩa rất chung về tư bản, nó bao trùm cả tư bản cổ xưa lẫn tư bản hiện đại.
o
Nhưng sau khi nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư, có thể định nghĩa chính xác tư bản là giá trị
mang lại giá trị thặng dư, có thể thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê.
o
Như vậy bản chất của tư bản là thể hiện quan hệ sản xuất xã hội mà trong đó giai cấp tư sản chiếm đoạt giá trị
thặng sư do giai cấp công nhân sáng tạo tạo ra, là một phạm trù lịch sử chỉ tồn tại trong CNTB (bác bỏ quan
điểm cho rằng tư bản là máy móc thiết bị)
Cơ sở phân chia các cặp khái niệm
Tư bản bất biến Tư bản khả biến
Định nghĩa
Là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị
được lao động cụ thể của công nhân làm thuê bảo toàn và chuyển
nguyên vẹn vào giá trị sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi trong
quá trình sản xuất (ký hiệu: c).
Là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái sức lao động
không tái hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng
của công nhân làm thuê mà tăng lên, tức là biến đổi về
số lượng trong quá trình sản xuất (ký hiệu: v).
Về mặt hiện vật, tư bản bất biến gồm:
Máy móc, thiết bị, nhà xưởng... (C1)
Nguyên, nhiên vật liệu…(C2)
Máy móc, nguyên nhiên vật liệu đều là điều kiện để cho quá
trình để cho quá trình làm tăng giá trị diễn ra
Mối quan hệ TBBB - TBKB
(Note: Không viết cũng được, tùy thuộc vào đề bài)
Cả 2 đều là hai bộ phận cấu thành tổng tư bản của doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa. Trong đó, tổng tư bản = C + V
Tbbb Là điều kiện vật chất cho quá trình sản xuất Tbkb Là yếu tố tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản
Sự thay đổi về lượng của tư bản bất biến không làm thay đổi giá trị
thặng dư mà chỉ ảnh hưởng đến lượng giá trị chuyển dịch vào sản
phẩm
Sự thay đổi về lượng của tư bản khả biến trong quá
trình sản xuất sẽ làm thay đổi quy mô giá trị thặng dư và
tỷ suất giá trị thặng dư
1. Vai trò trong quá trình SX
Đại diện cho các yếu tố sản xuất vật chất như nguyên liệu thô, máy
móc, thiết bị và nhà xưởng. Nó cung cấp điều kiện vật chất để sản
xuất diễn ra, nhưng không thay đổi giá trị của mình trong quá trình
sản xuất. Tư bản bất biến chỉ đơn thuần "truyền" giá trị ban đầu
của mình vào sản phẩm mới.
Là khoản tư bản được dùng để trả công cho lao động.
Trong sản xuất, sức lao động không chỉ tái tạo giá trị
của tư bản khả biến mà còn tạo ra thêm một giá trị thặng
dư, giúp nhà tư bản có lợi nhuận. Vì vậy, lao động đóng
vai trò trung tâm trong việc tăng trưởng giá trị.
. Đóng góp vào giá trị sản phẩm
TBBB không làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm cuối cùng TBKB có thể tạo ra nhiều giá trị hơn giá trị của chính
nó thông qua quá trình làm việc của công nhân
Ví dụ: nếu máy móc được sử dụng trong sản xuất trị giá 100 đơn
vị, giá trị của nó sẽ không thay đổi qua quá trình sản xuất mà chỉ
truyền nguyên vẹn vào sản phẩm. Điều này nghĩa là tư bản bất
biến không tạo ra lợi nhuận cho nhà tư bản.
Ví dụ, nếu công nhân được trả lương 100 đơn vị nhưng
tạo ra sản phẩm có giá trị 200 đơn vị, thì 100 đơn vị
chênh lệch chính là giá trị thặng dư. Điều này có nghĩa
là lao động, và từ đó tư bản khả biến, là nguồn gốc của
lợi nhuận.
. Tầm quan trọng đối với việc bóc lột lao động
Mối quan hệ giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến minh họa quá trình bóc lột lao động trong hệ thống tư bản chủ nghĩa. Tư
bản bất biến chỉ là phương tiện vật chất để sản xuất, nhưng chính sự kết hợp của tư bản khả biến (lao động) với tư bản bất biến
mới tạo ra sản phẩm và giá trị thặng dư. Nhà tư bản không thể tự tạo ra giá trị thặng dư từ tư bản bất biến mà phải dựa vào lao
động (tư bản khả biến).
Nhà tư bản luôn tìm cách tối đa hóa giá trị thặng dư bằng cách tăng cường bóc lột lao động, hoặc kéo dài thời gian lao động,
hoặc giảm lương của công nhân. Tuy nhiên, bất kể chiến lược nào, điểm chung là sự gia tăng giá trị thặng dư chỉ có thể đạt
được thông qua tư bản khả biến – yếu tố liên quan trực tiếp đến lao động.
Căn cứ phân chia
Dựa vào vai trò của từng bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư
TBBB bảo toàn giá trị TBKB có khả năng biến đổi và làm tăng thêm giá trị.
TBBB không tạo ra giá trị thặng dư nhưng là điều kiện cần thiết để
quá trình tạo ra giá trị thặng dư được diễn ra.
TBKB là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư. Tư bản khả
biến có vai trò quyết định trong quá trình đó vì nó chính
là bộ phận tư bản đã lớn lên.
Mục đích
Giúp C.Mác làm rõ quá trình sản xuất giá trị thặng dư và khẳng định rằng nguồn gốc của giá trị thặng dư không phải do TBBB
mà là do TBKB mang lại (bác bỏ quan điểm cho rằng tư bản là máy móc thiết bị)
Cho thấy rằng việc tạo ra giá trị thặng dư là quá trình bóc lột lao động, khi nhà tư bản chỉ
trả cho công nhân giá trị của sức lao động mà họ cung cấp, nhưng lại chiếm đoạt toàn
bộ sản phẩm lao động mà công nhân tạo ra
Ý nghĩa
Việc phân chia thành TBBB và TBKB đã vạch rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư là do lao động làm thuê của công nhân tạo ra
và bị nhà tư bản chiếm không
chỉ ra sự bất công trong việc phân phối giá trị giữa nhà tư bản và công nhân
C.Mác lý giải và phê phán sâu sắc bản chất của chủ nghĩa tư bản là dựa trên sự bóc lột lao động và giá trị thặng dư.
Giải thích cơ chế tạo ra lợi nhuận: Lợi nhuận không đến từ sự đầu tư vào tư bản
bất biến (máy móc, nhà xưởng) mà đến từ sức lao động bị bóc lột.
Tư bản bất biến tuy không trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư nhưng nó có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, quyết định
năng suất lao động của công nhân.
Cơ sở lý luận cho đấu tranh giai cấp: Việc Marx làm rõ lao động là nguồn gốc của giá trị thặng dư và bị bóc lột bởi nhà tư bản
tạo ra cơ sở lý luận cho phong trào đấu tranh giai cấp.
Công nhân có quyền đấu tranh đòi lại phần giá trị mà họ đã tạo ra nhưng bị nhà tư bản chiếm đoạt.
Phân tích kinh tế học sâu sắc hơn: Phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến giúp Marx đưa ra một phân tích sâu hơn về
cách thức vận hành của nền kinh tế tư bản, vượt qua các lý thuyết kinh tế trước đó không phân biệt được các yếu tố khác nhau
trong tư bản.
Tư bản cố định Tư bản lưu động
Định nghĩa
Là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới hình thái tư liệu lao động
tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất nhưng giá trị của nó chỉ
chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm theo mức độ hao mòn
(máy móc, thiết bị, nhà xưởng, công trình hạ tầng, v.v) gồm:
hao mòn hữu hình (sự mất mát về giá trị sử dụng và giá
trị) do sử dụng và tác động của tự nhiên gây ra
hao mòn vô hình (sự mất giá thuần túy) do
o
sự tăng lên của năng suất lao động sản xuất tư
liệu lao động
o
sự xuất hiện của những thế hệ tư liệu lao động
mới có năng suất cao hơn.
Là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới hình thái sức lao
động (nguyên nhiên vật liệu, vật liệu phụ, tiền lương
cho lao động), giá trị của nó được chuyển một lần, toàn
phần vào giá trị sản phẩm khi kết thúc từng quá trình
sản xuất.
Ví dụ: Nguyên liệu sản xuất như thép, gỗ, vải sẽ được sử
dụng hết trong một chu kỳ sản xuất và toàn bộ giá trị
của nó sẽ chuyển vào giá trị của sản phẩm cuối cùng.
Đặc điểm
(Đây chỉ là tổng hợp lại từ phần định nghĩa với các ý được chia rõ ràng hơn)
Là phần tư bản được đầu tư các tư liệu sản xuất lâu bền
như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, công trình hạ tầng
Không bị tiêu thụ hết trong một chu kì sản xuất mà
chuyển dần giá trị vào sản phẩm thông qua khấu hao
trong suốt vòng đời của nó
Hỗ trợ trực tiếp trong quá trình sản xuất nhưng không bị
biến đổi thành hàng hóa ngay lập tức
Không chuyển đổi trực tiếp và nhanh chóng thành hàng
hóa hoặc giá trị lưu thông trên thị trường
Là phần tư bản được đầu tư vào những yếu tố
có tính chất tiêu hao nhanh chóng trong quá
trình sản xuất, như nguyên liệu, nhiên liệu và
tiền lương cho lao động.
Tư bản lưu động chuyển toàn bộ giá trị của nó
vào sản phẩm trong mỗi chu kỳ sản xuất. Sau
một chu kỳ, các yếu tố của tư bản lưu động
(nguyên liệu thô, tiền lương) sẽ bị tiêu hao
hoàn toàn và cần phải được tái đầu tư để sản
xuất tiếp tục.
Mối quan hệ TBCĐ - TBLĐ
Mối quan hệ tương hỗ trong quá trình sản xuất.
TBCĐ tạo ra cơ sở vật chất, máy móc và thiết bị để sản xuất
TBLĐ cung cấp các yếu tố đầu vào như nguyên liệu và lao động để sản xuất có thể diễn ra.
Nếu không có tư bản lưu động (nguyên liệu, nhiên liệu), tư bản cố định sẽ không thể hoạt động vì máy móc sẽ
không có nguyên liệu để sản xuất ra sản phẩm.
Nếu thiếu tư bản cố định, quá trình sản xuất sẽ không diễn ra hiệu quả và không thể tăng năng suất sản xuất.
Tư bản cố định và tư bản lưu động bổ sung cho nhau trong quá trình sản xuất
TBCĐ đảm bảo cơ sở vật chất để sản xuất
TBLĐ là những yếu tố trực tiếp tạo ra giá trị mới trong mỗi chu kì sản xuất
Là hai phần cần thiết để quá trình sản xuất diễn ra trọn vẹn trong hệ thống tư bản chủ nghĩa
Căn cứ phân chia
1. Phương thức chu chuyển giá trị của tư bản sản xuất vào giá trị sản phẩm
Giá trị của tư bản cố định được chuyển dần dần qua quá trình khấu
hao.
Một phần giá trị của tư bản cố định được tính vào chi phí sản
xuất mỗi chu kỳ cho đến khi giá trị của tài sản cố định được
chuyển hết vào sản phẩm.
Giá trị của tư bản lưu động chuyển hoàn toàn vào sản
phẩm trong mỗi chu kỳ sản xuất. Nguyên liệu, nhiên
liệu và lao động được tiêu hao hoàn toàn trong quá trình
sản xuất, do đó toàn bộ giá trị của chúng sẽ được
chuyển vào sản phẩm cuối cùng.
. Tốc độ chu chuyển
Sau khi đầu tư vào tư bản cố định (ví dụ: mua máy móc,
xây dựng nhà xưởng), tư bản này sẽ không cần phải tái
đầu tư thường xuyên.
Tư bản cố định có thể được sử dụng qua nhiều chu kỳ
sản xuất trước khi cần phải thay thế hoặc sửa chữa.
Tư bản lưu động cần phải được tái đầu tư liên
tục sau mỗi chu kỳ sản xuất.
Nguyên liệu thô bị tiêu hao hoàn toàn trong
quá trình sản xuất, và lao động cần phải được
trả lương sau mỗi chu kỳ, vì vậy tư bản lưu
động phải luôn được cung cấp và tái đầu tư để
đảm bảo sản xuất không bị gián đoạn
Tóm lại: Trong quá trình sản xuất của tư bản, các bộ phận tư bản chu chuyển không giống nhau. Căn cứ vào tính chất
chuyển giá trị của tư bản sản xuất vào giá trị sản phẩm mà tư bản được chia thành hai bộ phận: tư bản cố định và tư bản lưu
động.
Mục đích
1. Hiểu rõ quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa
Việc phân chia tư bản thành cố định và lưu động giúp chúng ta hiểu rõ hơn cách thức mà tư bản vận hành trong nền
sản xuất tư bản chủ nghĩa. Mỗi loại tư bản có tính chất vận động khác nhau, nhưng cả hai đều đóng vai trò quan
trọng trong việc tạo ra giá trị thặng dư.
Tư bản cố định cung cấp cơ sở hạ tầng và công nghệ cho quá trình sản xuất, trong khi tư bản lưu động đảm bảo cung
cấp các yếu tố đầu vào cần thiết cho sản xuất hàng hóa.
. Quản lý và tối ưu hóa sản xuất
Phân chia tư bản thành cố định và lưu động giúp các nhà quản lý doanh nghiệp có thể tính toán và quản lý nguồn lực
của mình một cách hiệu quả hơn. Nhà quản lý có thể xác định được cần phải đầu tư bao nhiêu vào tư bản cố định và
tư bản lưu động để đảm bảo sản xuất diễn ra liên tục và tối ưu hóa lợi nhuận.
Nếu đầu tư quá nhiều vào tư bản cố định mà thiếu tư bản lưu động, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc
duy trì sản xuất. Ngược lại, nếu đầu tư quá nhiều vào tư bản lưu động mà không đủ tư bản cố định, năng suất và hiệu
quả sản xuất sẽ không được tối ưu.
Ý nghĩa
1. Tốc độ quay vòng của tư bản
Tư bản lưu động có tốc độ quay vòng nhanh hơn vì giá trị của nó chuyển vào sản phẩm trong mỗi chu kỳ sản xuất.
Điều này giúp doanh nghiệp tái đầu tư nhanh chóng và mở rộng quy mô sản xuất.
Tư bản cố định quay vòng chậm hơn, do đó doanh nghiệp cần có kế hoạch sử dụng hiệu quả các tài sản này để tối đa
hóa giá trị.
. Hiệu quả kinh tế và lợi nhuận
Việc phân chia tư bản giúp doanh nghiệp tối ưu hóa đầu tư giữa tư bản cố định và lưu động, từ đó gia tăng năng suất
và lợi nhuận.
Doanh nghiệp cần cân nhắc giữa việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng và việc duy trì sản xuất liên tục thông qua tư bản lưu
động.
. Vai trò của lao động trong việc tạo ra giá trị thặng dư
Tư bản lưu động, đặc biệt là phần chi trả cho lao động, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra giá trị và giá trị
thặng dư. Theo lý thuyết của Marx, giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt được đến từ phần chênh lệch giữa giá
trị mà lao động tạo ra và mức lương mà lao động nhận được.
Điều này làm nổi bật tầm quan trọng của việc quản lý tư bản lưu động để tối ưu hóa năng suất lao động và gia tăng
giá trị thặng dư.
- Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam:
Việc phân biệt tư bản bất biến (giá trị không đổi) và tư bản khả biến (giá trị thay đổi và tạo ra giá trị mới) là cơ sở để
Việt Nam tập trung vào việc nâng cao chất lượng lao động sống và điều chỉnh chính sách phân phối. Trên thực tế,
Chính phủ và doanh nghiệp đang tăng cường đầu tư vào tư bản khả biến (v) thông qua các chương trình đào tạo,
nhằm tăng giá trị sức lao động và khả năng tạo ra giá trị thặng dư (m) cao hơn. Cụ thể, theo số liệu 9 tháng đầu
năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đã đạt 29,1%, tăng 1,0 điểm phần trăm so với cùng kỳ
năm trước. Sự gia tăng này không chỉ làm tăng phần v (chi phí tái sản xuất sức lao động) mà còn định hướng tăng
năng suất, góp phần tăng m. Đồng thời, việc phân tích v và m cũng là căn cứ để điều chỉnh thu nhập bình quân của
người lao động (đạt 8,3 triệu đồng/tháng trong 6 tháng đầu năm 2025), đảm bảo hài hòa lợi ích giữa nhà đầu tư và
người lao động, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Việc phân biệt tư bản cố định và lưu động giúp các doanh nghiệp Việt Nam quản lý hiệu quả quá trình chu chuyển
vốn. Đầu tư vào tư bản cố định (nhà xưởng, máy móc) phản ánh nỗ lực hiện đại hóa sản xuất, nâng cao sức cạnh
tranh. Tuy nhiên, thách thức lớn là quản lý quá trình khấu hao và tránh lạc hậu công nghệ nhanh chóng trong bối
cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Đối với tư bản lưu động (nguyên vật liệu, tiền lương), mục tiêu là tăng tốc
độ chu chuyển để giảm chi phí, thu hồi vốn nhanh, đặc biệt quan trọng trong các ngành công nghiệp chế biến - chế
tạo và logistics đang tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2025. Sự quản lý hiệu quả hai loại tư bản này giúp các doanh
nghiệp tối ưu hóa tổng mức đầu tư và cải thiện hiệu suất sử dụng vốn, từ đó nâng cao lợi nhuận và khả năng cạnh
tranh trên thị trường quốc tế.
4. Phân tích mối quan hệ giữa giá trị của hàng hoá sức lao động với tiền công trong xã hội tư bản chủ nghĩa? Liên hệ với
vấn đề tiền công trong các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hiện nay.
- Mối quan hệ giữa giá trị của hàng hoá sức lao động với tiền công trong xã hội tư bản chủ nghĩa
Giá trị hàng hóa sức lao động được xác định bởi thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động,
bao gồm các chi phí sinh hoạt vật chất và tinh thần của người lao động và gia đình họ, cùng chi phí đào tạo. Đây là cơ sở kinh tế,
là nội dung của tiền công.
Tiền công (hay tiền lương) là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động. Trong xã hội tư bản, tiền công
mang vẻ ngoài là giá cả của lao động, làm cho người lao động lầm tưởng rằng họ được trả công cho toàn bộ thời gian lao động.
Tuy nhiên, trên thực tế, tiền công là giá cả của hàng hóa sức lao động, và người lao động chỉ được trả công cho một phần thời
gian lao động (lao động cần thiết), còn phần thời gian lao động còn lại (lao động thặng dư) là không được trả và bị nhà tư bản
chiếm đoạt dưới hình thức giá trị thặng dư.
Giá trị hàng hóa sức lao động quyết định mức trầnxu hướng vận động cơ bản của tiền công. Tiền công phải đủ lớn để người
lao động có thể tái sản xuất sức lao động một cách bình thường. Tuy nhiên, trên thực tế, tiền công lại chịu sự chi phối của quy
luật cung cầu và cạnh tranh trên thị trường lao động. Tiền công thường có xu hướng vận động xung quanh giá trị sức lao động, có
thể cao hơn hoặc thấp hơn:
Tiền công tối thiểu: Phải đảm bảo đủ chi phí sinh hoạt thiết yếu để người lao động duy trì sự sống.
Tiền công thực tế: Thường được quyết định bởi quan hệ cung – cầu sức lao động, trình độ tay nghề, và sức mạnh đấu
tranh của công nhân. Nhà tư bản luôn tìm cách giảm tiền công xuống mức thấp nhất có thể để tối đa hóa giá trị thặng
dư.
- Liên hệ với vấn đề tiền công trong các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hiện nay:
Trong các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam, vấn đề tiền công thể hiện rõ những đặc điểm của quan hệ lao động trong xã hội tư
bản, bao gồm:
1. Chênh lệch giữa giá trị sức lao động và tiền công: Ở nhiều doanh nghiệp tư nhân, mức lương người lao động nhận được
thường không phản ánh đầy đủ giá trị sức lao động của họ. Đặc biệt trong các ngành sử dụng nhiều lao động như sản
xuất công nghiệp, may mặc, hay xây dựng, người lao động thường phải làm việc với cường độ cao, giờ làm việc kéo
dài nhưng tiền công nhận được không tương xứng với mức độ đóng góp. Đây là một hiện tượng phổ biến ở các doanh
nghiệp thuê mướn lao động giá rẻ.
2. Tăng cường khai thác sức lao động: Để tối đa hóa lợi nhuận, nhiều doanh nghiệp tư nhân áp dụng các biện pháp nhằm
tăng cường khai thác sức lao động như ép công nhân làm thêm giờ, hoặc không đảm bảo các quyền lợi cơ bản như bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Điều này dẫn đến việc người lao động không được bảo vệ đầy đủ, dễ gặp rủi ro về sức khỏe
và kinh tế.
3. Tranh chấp lao động và điều chỉnh chính sách: Vấn đề tiền công thấp thường dẫn đến tranh chấp lao động, đình công,
nhất là khi lạm phát gia tăng hoặc điều kiện làm việc không đảm bảo. Nhà nước Việt Nam đã và đang cố gắng đưa ra
các chính sách về lương tối thiểu để bảo vệ quyền lợi người lao động, tuy nhiên, các biện pháp này vẫn còn nhiều hạn
chế trong việc đảm bảo mức sống cho người lao động, nhất là ở các vùng có mức sống cao như TP. Hồ Chí Minh hay
Hà Nội.
4. Khoảng cách thu nhập giữa lao động và quản lý: Trong các doanh nghiệp tư nhân, sự chênh lệch thu nhập giữa các cấp
quản lý và người lao động thường rất lớn. Điều này không chỉ phản ánh rõ sự bất công trong phân phối giá trị mà còn
có thể gây ra tình trạng bất mãn và giảm động lực làm việc của người lao động.
5. Vai trò của pháp luật: Nhà nước Việt Nam có quy định về mức lương tối thiểu, bảo hiểm xã hội và các chế độ phúc lợi
khác để bảo vệ quyền lợi của người lao động. Tuy nhiên, việc thực thi pháp luật vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt ở các
doanh nghiệp nhỏ và vừa.
=> Giải pháp: Cần thường xuyên điều chỉnh mức lương tối thiểu cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và đảm bảo cuộc
sống cho người lao động. Cần tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật lao động, xử lý nghiêm các hành vi vi
phạm. Đầu tư vào đào tạo nghề, nâng cao năng lực cạnh tranh của người lao động để họ có thể đòi hỏi mức lương cao hơn. Tăng
cường vai trò của công đoàn và các tổ chức đại diện khác để bảo vệ quyền lợi của người lao động trong quá trình đàm phán tiền
lương.
5. Tuần hoàn và chu chuyển của tư bản: khái niệm, các giai đoạn của tuần hoàn tư bản; các yếu tố tạo nên thời gian chu
chuyển của tư bản ý nghĩa thực tiễn trong việc tăng hiệu quả hoạt động của tư bản.
Khái niệm: SGK/ 54,55 gt hanu 2025
Các giai đoạn của tuần hoàn tư bản:
Giai đoạn thứ nhất - giai đoạn lưu thông: Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường các yếu tố sản xuất để mua tư liệu sản
xuất và sức lao động. Quá trình lưu thông đó được biểu thị như sau:
Giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản tiền tệ, chức năng giai đoạn này là mua các yếu tố cho quá trình sản
xuất, tức là biến tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất.
Giai đoạn thứ hai - giai đoạn sản xuất:
Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản sản xuất (TBSX), có chức năng thực hiện sự kết hợp hai yếu tố
tư liệu sản xuất và sức lao động để sản xuất ra hàng hóa là trong giá trị của nó có giá trị thặng dư. Trong các giai đoạn
tuần hoàn của tư bản thì giai đoạn sản xuất có ý nghĩa quyết định nhất, vì nó gắn trực tiếp với mục đích của nền sản
xuất tư bản chủ nghĩa. Kết thúc của giai đoạn thứ hai là tư bản sản xuất chuyển hóa thành tư bản hàng hóa.
Giai đoạn thứ ba - giai đoạn lưu thông: H' - T'
Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản hàng hóa, chức năng là thực hiện giá trị của khối lượng hàng
hóa đã sản xuất ra trong đó đã bao hàm một lượng giá trị thặng dư. Trong giai đoạn này, nhà tư bản trở lại thị
trường với tư cách là người bán hàng. Hàng hóa của nhà tư bản được chuyển hóa thành tiền. Kết thúc giai đoạn thứ ba,
tư bản hàng hóa chuyển hóa thành tư bản tiền tệ. Đến đây, mục đích của nhà tư bản đã được thực hiện, tư bản quay trở
lại hình thái ban đầu trong tay chủ của nó nhưng với số lượng lớn hơn trước.
Các yếu tố tạo nên thời gian chu chuyển của tư bản:
Ở đây nói ngắn gọn thì có hai yếu tố chính tạo nên thời gian chu chuyển là thời gian sản xuất và thời gian lưu thông thông qua
công thức: Thời gian chu chuyển = Thời gian sản xuất + Thời gian lưu thông
- Thời gian sản xuất là khoảng thời gian cần thiết để chuyển đổi nguyên liệu và tài nguyên thành sản phẩm hoàn chỉnh.
Nó bao gồm tất cả các giai đoạn từ khi bắt đầu quy trình sản xuất cho đến khi sản phẩm được hoàn thiện và sẵn sàng để
tiêu thụ.
- Thời gian lưu thông là khoảng thời gian mà hàng hóa cần để di chuyển từ giai đoạn sản xuất đến khi đến tay người tiêu
dùng hoặc điểm tiêu thụ. Thời gian này bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến việc vận chuyển, phân phối và tiêu
thụ hàng hóa.
[Ngoài ra, còn có hai yếu tố tác động đến thời gian chu chuyển (phần này trả lời đan xen nếu có thi vào): Chu kỳ sản xuất: Các
chu kỳ sản xuất khác nhau (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn) ảnh hưởng đến tốc độ chu chuyển tư bản. Chu kỳ dài có thể kéo dài thời
gian thu hồi vốn. Yếu tố thị trường: Sự biến động của thị trường, nhu cầu và cung cầu hàng hóa cũng có thể ảnh hưởng đến thời
gian chu chuyển tư bản. Nếu thị trường biến động mạnh, chu chuyển có thể bị chậm lại.]
Ý nghĩa thực tiễn trong việc tăng hiệu quả hoạt động của tư bản
Tăng hiệu quả hoạt động của tư bản mang lại nhiều ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Trước hết, việc tối ưu hóa quy trình sản xuất
giúp giảm thời gian và chi phí, từ đó nâng cao năng suất lao động và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Điều này cũng tạo ra khả
năng cạnh tranh mạnh mẽ hơn trên thị trường, cho phép doanh nghiệp cung cấp sản phẩm chất lượng cao với giá cả hợp lý. Bên
cạnh đó, đầu tư vào công nghệ hiện đại và đổi mới quy trình sản xuất không chỉ cải thiện hiệu quả mà còn nâng cao chất lượng
sản phẩm, tăng sự hài lòng của khách hàng và xây dựng thương hiệu vững mạnh. Quản lý nguồn lực hiệu quả giúp giảm lãng phí
và tối đa hóa lợi nhuận, đồng thời góp phần vào phát triển bền vững khi doanh nghiệp có thể sử dụng tài nguyên hợp lý và giảm
thiểu tác động đến môi trường. Doanh nghiệp hoạt động hiệu quả còn có khả năng thích ứng tốt với biến động của thị trường, duy
trì vị thế cạnh tranh lâu dài, và cải thiện đời sống người lao động thông qua việc trả lương cao hơn và tạo ra môi trường làm việc
tích cực. Tóm lại, việc tăng hiệu quả hoạt động của tư bản không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn góp phần vào sự
phát triển toàn diện của nền kinh tế và xã hội.
6. Phân tích quá trình sản xuất giá trị thặng dư trong xã hội tư bản chủ nghĩa (khái niệm, nguồn gốc, bản chất) và đưa ra
các ví dụ phân tích. Nêu ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu vấn đề/ Từ nguồn gốc, bản chất của GTTD →
hiểu được quan điểm của C. Mác khi giải thích về nguồn gốc của cải trong xã hội tư bản.
- Khái niệm giá trị thặng dư/ 52.
- Khái niệm quá trình SX GTTD (SGK/51)
- Nguồn gốc của giá trị thặng dư: sgk/51. Ta có thể hiểu rằng: Để sản xuất, nhà tư bản đã mua hàng hóa sức lao động và tư liệu
sản xuất, người công nhân(người được mua sức lao động) sẽ làm việc và tạo ra sản phẩm cho nhà tư bản. Bằng lao động cụ thể
của mình, công nhân sử dụng tư liệu sản xuất để bảo tồn và chuyển nguyên vẹn vào giá trị vào sản phẩm( tư bản bất biến); bằng
lao động trừu tượng, công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động( tư bản khả biến), phần lớn hơn đó là giá trị thặng
- Bản chất của giá trị thặng dư: Giá trị thặng dư là kết quả của sự hao phí sức lao động. Mục đích của nhà tư bản là giá trị thặng
dư, người lao động làm thuê phải bán sức lao động cho nhà tư bản. Trong điều kiện ngày nay, quan hệ đó vẫn diễn ra nhưng với
trình độ và mức độ rất khác Nhà tư bản bóc lột sức lao động của công nhân để tạo nhiều thặng dư cho bản thân. Bóc lột càng
nhiều thì giá trị thặng dư càng cao. Vì vậy người giàu thì vẫn giàu, người nghèo thì vẫn nghèo.
- Ví dụ phân tích/ 51
- Ý nghĩa lý luận và thực tiễn:
+ Ý nghĩa lý luận:Việc nghiên cứu GTTD có ý nghĩa quan trọng trong lý luận kinh tế chính trị học của Marx: Làm rõ bản chất
bóc lột trong xã hội tư bản: GTTD cho thấy sự bất công trong việc phân phối giá trị lao động. Nhà tư bản chỉ trả công cho người
lao động phần giá trị thấp hơn nhiều so với giá trị họ thực sự tạo ra.Giải thích sự tích luỹ tư bản: GTTD là nguồn gốc của quá
trình tích luỹ tư bản. Nhờ GTTD, nhà tư bản có thể gia tăng vốn và mở rộng sản xuất, qua đó củng cố vị thế của mình trong nền
kinh tế. Lý giải nguồn gốc của cải trong xã hội tư bản: Marx đã chỉ ra rằng của cải trong xã hội tư bản không đến từ việc sản xuất
của cải tự nhiên hay trao đổi hàng hóa một cách bình đẳng, mà đến từ sự bóc lột sức lao động của người công nhân.
+ Ý nghĩa thực tiễn: Cải thiện điều kiện lao động và tiền lương: Hiểu về GTTD giúp các chính sách về lao động và lương bổng
trở nên công bằng hơn. Việc công nhận sự đóng góp của người lao động và chia sẻ hợp lý giá trị thặng dư sẽ giúp tạo ra môi
trường làm việc tốt hơn, thúc đẩy sản xuất và nâng cao đời sống công nhân. Thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh: Trong nền kinh tế
thị trường hiện đại, việc nghiên cứu GTTD giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là trong các nước đang phát triển, hiểu rõ về tầm
quan trọng của việc đảm bảo công bằng trong phân phối lợi nhuận. Điều này có thể giúp ngăn chặn sự bóc lột lao động và thúc
đẩy một môi trường kinh doanh bền vững hơn.
- Từ nguồn gốc, bản chất của GTTD → Quan điểm của C. Mác: Marx đã chỉ rõ rằng nguồn gốc của của cải trong xã hội tư bản
chủ nghĩa không đến từ việc trao đổi hàng hóa, mà từ quá trình sản xuất GTTD. Trong đó, sự bóc lột sức lao động của công nhân
là nền tảng cho việc tích luỹ của cải. Nhà tư bản không tạo ra của cải bằng lao động của chính họ, mà nhờ vào việc mua sức lao
động và khai thác phần lao động thặng dư. Marx phê phán mạnh mẽ sự bất công này, và cho rằng quá trình này chỉ làm giàu cho
nhà tư bản, trong khi người lao động bị thiệt thòi.
7. Phân biệt các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư?
Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này trong hoạt động kinh tế hiện nay?
Tìm hiểu về phương pháp, thủ đoạn khai thác sức lao động làm thuê nhằm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
-------------------------------------------------------------------------------------
- Phân biệt:
Ví dụ minh hoạ:
+ Giá trị thặng dư tuyệt đối : SGK/ 60
+ Giá trị thặng dư tương đối : SGK/ 60,61
- Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này trong hoạt động kinh tế hiện nay: Việc nghiên cứu 2 phương pháp nói trên,
khi gạt bỏ mục đích và tính chất của chủ nghĩa tư bản thì các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, nhất là phương pháp
sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch có thể vận dụng trongcác doanh nghiệp ở nước ta nhằm
kích thích sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kỹ thuật mới, cải tiến tổ chức quản lý, tiết kiệm chi phí sản
xuất. Đối với quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân của nước ta, việc nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư gợi mở cho
các nhà hoạch định chính sách phương thức làm tăng của cải, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong điều kiện điểm xuất
phát của nước ta còn thấp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cần tận dụng triệt để các nguồn lực, nhất là lao động và sản
xuất kinh doanh. Về cơ bản lâu dài, cần phải coi trọng việc tăng năng suất lao động xã hội, coi đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là giải pháp cơ bản để tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế.
- Tìm hiểu về phương pháp, thủ đoạn khai thác sức lao động làm thuê nhằm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
+ Tăng giờ làm việc: Nhiều doanh nghiệp yêu cầu người lao động làm thêm giờ để tăng sản lượng mà không tăng tương ứng chi
phí. Thậm chí, họ có thể không trả thêm tiền cho giờ làm thêm hoặc chỉ trả ở mức thấp hơn. Việc này không chỉ gia tăng lợi
nhuận mà còn có thể dẫn đến sự kiệt sức và giảm năng suất của lao động trong dài hạn.
+ Đơn giá sản phẩm thấp: Doanh nghiệp có thể giảm đơn giá sản phẩm để cắt giảm chi phí sản xuất. Điều này đồng nghĩa với
việc họ có thể trả mức lương thấp hơn cho người lao động mà vẫn đạt được sản lượng cao. Tuy nhiên, việc này có thể ảnh hưởng
tiêu cực đến đời sống và tinh thần của nhân viên.
+ Kích thích sản xuất: Các doanh nghiệp thường áp dụng các chương trình thưởng theo hiệu suất để khuyến khích người lao
động làm việc nhiều hơn. Mặc dù điều này có thể tạo ra động lực tạm thời, nhưng nó cũng có thể dẫn đến áp lực cao, khiến nhân
viên không thể duy trì hiệu suất trong thời gian dài mà không được điều chỉnh lương cơ bản.
+ Giảm quyền lợi và phúc lợi: Việc cắt giảm quyền lợi như bảo hiểm, nghỉ phép có lương và các phúc lợi khác là một phương
pháp phổ biến để giảm chi phí cho doanh nghiệp. Khi quyền lợi của người lao động bị giảm, doanh nghiệp có thể giữ lại một
phần lợi nhuận, nhưng điều này cũng có thể tạo ra sự bất mãn và giảm động lực làm việc của nhân viên.
+ Hợp đồng lao động tạm thời: Sử dụng lao động theo hình thức hợp đồng ngắn hạn hoặc tạm thời giúp doanh nghiệp tránh
được trách nhiệm về phúc lợi lâu dài. Mặc dù điều này giảm áp lực tài chính cho doanh nghiệp, nhưng cũng có thể khiến người
lao động cảm thấy không an toàn về công việc và thiếu động lực cống hiến.
+ Đào tạo và phát triển hạn chế: Nhiều doanh nghiệp hạn chế đầu tư vào đào tạo và phát triển kỹ năng cho người lao động
nhằm tiết kiệm chi phí. Điều này không chỉ làm giảm năng suất lao động mà còn khiến nhân viên khó khăn trong việc nâng cao
kỹ năng và thăng tiến trong công việc, dẫn đến sự chán nản.
+ Thay đổi công việc liên tục: Doanh nghiệp có thể thay đổi công việc hoặc giao nhiệm vụ khác nhau cho cùng một lao động mà
không tăng lương hoặc hỗ trợ tương ứng. Việc này nhằm duy trì áp lực và khai thác sức lao động hiệu quả hơn, nhưng có thể
khiến nhân viên cảm thấy không ổn định và mất động lực.
+ Giảm giá trị lao động: Doanh nghiệp có thể thiết lập mức lương thấp hơn so với thị trường và sử dụng lý do như tình hình
kinh tế khó khăn để biện minh cho việc này. Khi giá trị lao động bị giảm, người lao động có thể cảm thấy bị lợi dụng và thiếu
động lực để làm việc hiệu quả.
8. Hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy của tư bản, từ đó tìm hiểu
Mục đích và ý nghĩa của việc tích luỹ tư bản?
Các biện pháp làm tăng quy mô của tích luỹ như: khai thác lực lượng lao động xã hội, tăng năng suất lao động,
sử dụng triệt để năng lực của máy móc, thiết bị và tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu…
Ở Việt Nam hiện nay có những thuận lợi và khó khăn gì trong việc tích luỹ vốn đầu tư.
- Nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản: SGK/ 63,64
- Mục đích của tích lũy tư bản là tạo ra lợi nhuận tối đa từ các hoạt động kinh doanh.
- Ý nghĩa: (phần hệ quả SGK/ 64,65)
- Giải pháp:
+ Khai thác lực lượng lao động xã hội: Tăng cường tuyển dụng và sử dụng lực lượng lao động hiện có bằng cách cải
thiện điều kiện làm việc, đào tạo và phát triển kỹ năng cho nhân viên. Việc này không chỉ gia tăng số lượng lao động mà còn
nâng cao chất lượng công việc, từ đó tăng sản lượng và lợi nhuận.
+ Tăng năng suất lao động: Áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại, như quản lý sản xuất tinh gọn (lean production)
và cải tiến quy trình làm việc, giúp tối ưu hóa thời gian và công sức của người lao động. Điều này có thể đạt được thông qua
việc áp dụng công nghệ tự động hóa, từ đó tăng cường hiệu suất làm việc mà không cần tăng thêm số lượng lao động.
+ Sử dụng triệt để năng lực của máy móc, thiết bị: Tối ưu hóa quy trình sản xuất bằng cách sử dụng tối đa năng lực của
máy móc và thiết bị hiện có. Việc bảo trì thường xuyên và nâng cấp công nghệ giúp giảm thời gian chết và tăng cường hiệu
suất sản xuất.
+ Tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu: Đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng, công nghệ và thiết bị hiện đại để tạo ra một
nền tảng vững chắc cho sản xuất. Việc này không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn tạo ra khả năng mở rộng quy mô sản
xuất trong tương lai.
+ Nâng cao chất lượng sản phẩm: Cải thiện chất lượng sản phẩm để thu hút khách hàng và tăng doanh thu. Việc này có
thể giúp doanh nghiệp tăng giá bán sản phẩm, từ đó gia tăng lợi nhuận và tích lũy thêm vốn.
+ Mở rộng thị trường tiêu thụ: Tìm kiếm và thâm nhập vào các thị trường mới, cả trong và ngoài nước, để gia tăng
doanh thu. Việc mở rộng thị trường giúp doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm với quy mô lớn hơn, từ đó tăng tích lũy.
- Liên hệ thuận lợi và khó khăn:
+ Thuận lợi: Việt Nam đã duy trì được mức tăng trưởng kinh tế ổn định trong những năm qua, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc huy động vốn. Chính phủ cũng đã triển khai nhiều chính sách khuyến khích đầu tư, bao gồm các ưu đãi thuế cho các dự
án trong và ngoài nước, giúp thu hút thêm nguồn lực. Hệ thống cơ sở hạ tầng đang dần được cải thiện, từ giao thông đến
điện và thông tin liên lạc, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài ra, Việt Nam có một lực lượng lao
động trẻ, dồi dào và đang được đào tạo, giúp tiết kiệm chi phí và tăng hiệu quả sản xuất. Việc hội nhập kinh tế quốc tế thông
qua nhiều hiệp định thương mại tự do cũng mở ra nhiều cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, chính phủ đang nỗ
lực cải thiện môi trường đầu tư bằng cách giảm thiểu thủ tục hành chính và nâng cao tính minh bạch, từ đó tăng niềm tin của
nhà đầu tư. Cuối cùng, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và đổi mới sáng tạo đã tạo ra nhiều cơ hội trong các lĩnh vực
như công nghệ thông tin và sản xuất
+ Khó khăn: Thực tế cho thấy tiềm năng trong dân còn rất lớn nhưng tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư còn thấp, nhiều hộ gia đình và
không ít những doanh nghiệp còn đầu tư chưa có hiệu quả, nguồn vốn vẫn không luân chuyển được từ nơi thừa đến nơi
thiếu. Đầu tư của Nhà nước tuy đã tăng lên nhưng còn dàn trải, còn lãng phí, thị trường tiền tệ, thị trường vốn còn chậm phát
triển, lãi suất tín dụng chưa phù hợp với việc đẩy mạnh quá trình tích tụ và tập trung vốn, vì thế còn hạn chế đầu tư phát
triển. Các hình thức tích tụ và tập trung vốn chưa tạo ra sức hấp dẫn với người có vốn và hệ số sử dụng vốn trong nền kinh
tế còn thấp. Việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư còn phân tán, không tập trung tối đa vốn tiền mặt cũng như nhân tài vật lực
để giải quyết với tốc độ nhanh cáccông trình thiết yếu mang tính chất “xương sống” của nền kinh tế, vẫn còn nhiều lãng phí
và kém hiệu quả.
9. Tìm hiểu về hệ quả của tích lũy TB?
Note: Hệ quả lớn nhất là nạn thất nghiệp – bần cùng hoá tương đối và tuyệt đối giai cấp công nhân.
- Thứ nhất, tích lũy tư bản làm tăng cấu tạo hữu cơ tư bản.
+ Cấu tạo hữu cơ của tư bản (ký hiệu c/v) là cấu tạo giá trị được quyết định bởi cấu tạo kỹ thuật và phản ánh sự biển đổi của cấu
tạo kỹ thuật của tư bản. C.Mác cho rằng, nền sản xuất có thể được quan sát qua hình thái hiện vật cũng có thể quan sát qua hình
thái giá trị. Nếu quan sát qua hình thái hiện vật thì mối quan hệ tỷ lệ giữa số lượng tư liệu sản xuất và số lượng sức lao động được
coi là cấu tạo kỹ thuật. VD: 1 máy dệt/công nhân
+ Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học kỹ thuật, cấu tạo kỹ thuật của tư bản có xu hướng ngày càng
tăng lên. Tự động hóa sự xuất hiện Cấu tạo kỹ thuật: 2 máy dệt/công nhân: Cấu tạo kỹ thuật này, nếu quan sát qua hình thái giá
trị phản ánh ở mối quan hệ tỷ lệ giữa tư bản bất biến với tư bản khả biến. Tỷ lệ giá trị này được gọi là cấu tạo hữu cơ. Cấu tạo
hữu cơ luôn có xu hướng tăng do cấu tạo kỹ thuật cũng vận động theo xu hướng tăng lên về lượng
VD: Tư bản bất biến: c=80 000$; Tư bản khả biến: v= 20 000$; 1 máy dệt/công nhân Cấu tạo giá trị: c/v=80 000/20 000=4/1
Nếu: 2 máy dệt/công nhân Cấu tạo giá trị: c/v=160 000/20 000=8/1
=> Điều đó có nghĩa là cùng với sự gia tăng của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, sẽ có một bộ phận người lao động bị thất nghiệp
do máy móc thay thế.
- Thứ hai, tích luỹ tư bản làm tăng tích tụ và tập trung tư bản: Trong quá trình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa, quy mô của
tư bản cá biệt tăng lên thông qua quá trình tích tụ và tập trung tư bản.
+ Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách tư bản hóa giá trị thặng dư. Tích tụ tư bản làm tăng quy mô
tư bản cá biệt đồng thời làm tăng quy mô tư bản xã hội do giá trị thặng dư được biến thành tư bản phụ thêm. Tích tụ tư bản là kết
quả trực tiếp của tích luỹ tư bản
VD : Năm thứ nhất, tư bản ứng trước 100.000$ vào đầu tư ; năm thứ hai, tư bản thu được giá trị thặng dư và tiếp tục dùng
10.000$ để tái sản xuất. Tư bản đầu tư tăng lên 110,000$; Năm thứ ba, tư bản đầu tư tăng lên 120.000$. Tương tự như vậy, dần
dần tư bản cá biệt không ngừng lớn lên. Đó là quá trình tích tụ của tư bản
+ Tập trung tự bản là sự tăng lên của quy mô tư bản cả biệt mà không làm tăng quy mô tư bản xã hội do hợp nhất các tư bản cá
biệt vào một chỉnh thể tạo thành một tư bản cá biệt lớn hơn.Tập trung tư bản có thể được thực hiện thông qua sáp nhập các tư bản
cá biệt với nhau
VD: Tư bản cá biệt A có thư hàn đầu tư 100 000$; Tư bản cá biệt B có tư bản đầu tư 200 000$; Tư bản cá biệt C có tư bản đầu tư
300 000$ Sự tập trung tư bản diễn ra, khi hợp nhất 3 tư bản cá biệt thành tư bản D có quy mô lớn hơn bằng 600 000$
- Thứ ba, quá trình tích luỹ tư bản không ngừng làm tăng chênh lệch giữa thu nhập của nhà tư bản với thu nhập của
người lao động làm thuê cả tuyệt đối lẫn tương đối.
+ Quá trình tích luỹ tư bản có tính hai mặt, một mặt thể hiện sự tích luỹ sự giàu sang về phía giai cấp tư sản, và mặt khác tích lũy
sự bần cùng về phía giai cấp công nhân làm thuê. Bần cùng hóa giai cấp công nhân làm thuê biểu hiện dưới hai hình thái là bần
cùng hoá tương đối và bần cùng hóa tuyệt đối.
+ Bần cùng hóa tương đối là cũng với đà tăng trưởng lực lượng sản xuất, phần sản phẩm phân phối cho giai cấp công nhận làm
thuê tuy có tăng tuyệt đối, nhưng lại giảm tương đối so với phần dành cho giai cấp tư sản
VD: Sau chu kỳ sản xuất: Thu nhập của giai cấp tư bản tăng 5%; Thu nhập của công nhân có thể tăng chỉ 2% Mặc dù, có thể thu
nhập của giai cấp công nhân tăng tuyệt đối nhưng tăng chậm hơn nhiều so với thu nhập giai cấp tư sản Khoảng cách chênh lệch
giàu nghèo ngày càng gia tăng
+ Bần cùng hóa tuyệt đối thể hiện sự sụt giảm tuyệt đối về mức sống của giai cấp công nhân làm thuê. Bần cùng hóa tuyệt đối
thường xuất hiện đối với bộ phận giai cấp công nhân làm thuê đang thất nghiệp và đối với toàn bộ giai cấp công nhân làm thuê
trong các điều kiện kinh tế khó khăn, đặc biệt trong khủng hoảng kinh tế.
VD: Thu nhập của người công nhân không tăng; Tiền sinh hoạt trước đây 500$ có thể tiêu dùng cho gia đình trong 1 tháng
Nhưng khi tiền mất giá, thì 500$ không thể tiêu dùng được trong 1 tháng như trước nữa.
10. Lý luận về địa tô của C. Mác, có ý nghĩa gì đối với quá trình quản lý, sử dụng đất đai ở Việt Nam hiện nay?
- Lý luận về địa tô của Các-Mác:
+ Khái niệm và bản chất của địa tô:Kn, nguồn gốc/ 72
Trong chủ nghĩa tư bản, người thực sự canh tác ruộng đất không phải là chủ tư bản mà là những người lao động làm thuê. Nhà tư
bản thuê đất của địa chủ để kinh doanh, coi nông nghiệp là một lĩnh vực đầu tư kinh doanh. Số tiền mà nhà tư bản trả cho người
sở hữu ruộng đất theo hợp đồng để được sử dụng đất trong một thời gian nhất định là địa tô tư bản chủ nghĩa. Nó phản ánh quan
hệ ba giai cấp, tức là phản ánh quan hệ giữa địa chủ và tư bản kinh doanh nông nghiệp trong việc chia nhau giá trị thặng dư do
công nhân nông nghiệp tạo ra và quan hệ giữa địa chủ với lao động làm thuê trong nông nghiệp. Như vậy, địa tô gắn liền với
quyền sở hữu ruộng đất. Nhà tư bản muốn kéo dài thời gian sử dụng đất để thu lợi nhuận nhiều hơn. Tuy nhiên chủ đất luôn tìm
cách khống chế nhà tư bản bằng cách tăng khoản địa tô hoặc rút ngắn thời gian sử dụng đất. Tóm lại, địa tô tư bản chủ nghĩa là
một phần giá trị thặng dư, là phần lợi nhuận siêu ngạch, còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân của nhà tư bản
kinh doanh ruộng đất.
- Các hình thức địa tô tư bản:
+ Địa tô chênh lệch: Địa tô chênh lệch là lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân được hình thành trên những
ruộng đất có điều kiện kinh doanh trung bình và thuận lợi (độ màu mỡ của đất đai tốt hơn, vị trí gần thị trường, gần đường hơn,
hoặc ruộng đất để đầu tư để thâm canh). Địa tô chênh lệch = Giá cả sản xuất chung – Giá cả sản xuất cá biệt. Thực chất của địa tô
chênh lệch là lợi nhuận siêu ngạch. Để cho một phần lợi nhuận có thể chuyển hóa thành địa tô, tức là một phần trong giá cả hàng
hóa lại có thể rơi vào tay địa chủ, cần phải xuất hiện lợi nhuận siêu ngạch bằng số chênh lệch giữa giá cả sản xuất cá biệt của
những người sản xuất có những điều kiện thuận lợi hơn với giá cả sản xuất chung. Địa tô chênh lệch gắn với chế độ độc quyền
kinh doanh ruộng đất theo lối tư bản chủ nghĩa. Có 2 loại địa tô chênh lệch: Địa tô chênh lệch (I): là địa tô chênh lệch thu được
trên những ruộng đất có độ màu mỡ tự nhiên thuộc loại trung bình và tốt, có vị trí gần thị trường hoặc gần đường giao thông. Địa
tô chênh lệch (II): là địa tô chênh lệch thu được do thâm canh mà có. Thâm canh là việc đầu tư thêm tư bản vào một đơn vị diện
tích ruộng đất để nâng cao chất lượng canh tác của đất, nhằm tăng độ màu mỡ trên thửa ruộng đó, nâng cao sản lượng trên một
đơn vị diện tích.
+ Địa tô tuyệt đối: Địa tô tuyệt đối là loại địa tô mà tất cả các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp đều phải nộp cho địa chủ, cho
dù ruộng đất là tốt hay xấu. Đây là loại địa tô thu trên mọi thứ đất. Địa tô tuyệt đối do độc quyền tư hữu ruộng đất. Địa tô tuyệt
đối được hình thành do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp luôn thấp hơn cấu tạo hữu cơ của tư bản trong công nghiệp,
do đó giá trị thị trường của nông sản cao hơn giá cả sản xuất của nó. Ngoài những loại địa tô trên thì còn có các loại địa tô khác
như: địa tô về cây đặc sản, địa tô về hầm mỏ, địa tô về các bãi cá, địa tô về đất rừng, thiên nhiên,…C.Mác đã khẳng định: “Giá cả
ruộng đất chẳng qua chỉ là địa tô tư bản hóa” và vạch rõ giá cả ruộng đất là do các quan hệ sản xuất của phương thức sản xuất tư
bản sinh ra. C.Mác đã chỉ ra công thức tính giá cả ruộng đất: Giá cả ruộng đất = địa tô/Tỷ suất lợi tức nhận gửi của ngân hàng
Ý nghĩa của lý luận địa tô của Các Mác trong quá trình quản lý, sử dụng đất đai ở Việt Nam: Lý luận địa tô tư bản chủ
nghĩa của C.Mác không những chỉ rõ bản chất quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp mà còn là cơ sở khoa học để
Đảng, Nhà nước ta ban hành Luật đất đai, xây dựng các chính sách kinh tế liên quan đến thuế, đến điều tiết địa tô… nhằm kết
hợp hài hòa các lợi ích, khuyến khích thâm canh, sử dụng đất đai tiết kiệm. Nghiên cứu về các hình thức địa tô của C.Mác, nhất
là địa tô chênh lệch là cơ sở lý luận để Đảng, Nhà nước ban hành chính sách giá đất đối với kinh doanh, dịch vụ; với xây dựng
kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh. Là cơ sở để giao khoán ruộng đất lâu dài cho các hộ nông dân, khuyến
khích họ đầu tư thâm canh, phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa bền vững. Đồng thời, nghiên cứu lý luận địa tô tư bản chủ
nghĩa của C.Mác cung cấp cơ sở khoa học để nhận thức chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là sự thống nhất và là sự tách rời tương
đối quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai thể hiện ở Luật đất đai. Hiện nay địa tô vẫn còn tồn tại nhưng về bản chất thì hoàn
toàn khác so với địa tô phong kiến và địa tô tư bản chủ nghĩa. Nếu như trong xã hội phong kiến và tư bản chủ nghĩa, người sử
dụng đất phải nộp tô cho địa chủ thì ngày nay tô hay còn nói các khác là thuế đất, thuế nhà, tiền thuê đất đều được nộp vào ngân
sách nhà nước.Nguồn ngân sách đó lại được dung vào những công việc nhằm xây dựng đấy nước. Nếu đối với đất ở thì người
dân chỉ phải nộp một khoản tiền thuê đất rất nhỏ so với thu nhập của họ. Còn đối với đất để làm nông nghiệp thì người dân phải
nộp thuế nhưng họ có thể tự do kinh doanh trên đất của mình sao cho thu được lợi nhuận cao nhất. Chẳng hạn như có vùng trồng
lúa, có vùng lại trồng đay và có vùng lại trồng cà phê, điều, bông,... Sự khác biệt lớn nhất của việc quản lý đất đai và thu thuế bây
giờ so với giai đoạn tư bản chủ nghĩa là đất đai là của dân. Nhà nước trực tiếp quản lý và điều hành, nhà nước giao đất cho dân
làm nông nghiệp, thu thuế nhưng tạo mọi điều kiện cho người dân sản xuất. Tuy nhiên trong việc sử dụng lý luận địa tô của
C.Mác trong việc quản lý đất đai vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Chẳng hạn như nhà nước thu đất của nông dân với giá rất rẻ sau
đó quy hoạch xây dựng nhà ở và cho thuê với giá rất cao. Đây là vấn đề cần được kiến nghị lên cấp có thẩm quyền nhằm có sự
đền bù thỏa đáng cho dân.
11. Nhận định sau là đúng hay sai và giải thích: Thực chất nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp là từ mua rẻ và bán
đắt.
- Về bản chất của lợi nhuận thương nghiệp thì nhận định trên là sai.
- Theo lý thuyết kinh tế Mác Lê-nin, lợi nhuận không chỉ đơn giản là từ mua rẻ bán đắt, mà còn từ việc khai thác giá trị thặng dư
của lao động. Ta cần hiểu rõ một vài khái niệm có liên quan đến lợi nhuận thương nghiệp. Cụ thể giá trị thặng dư là bộ phận giá
trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra, là kết quả của lao động không công của công nhân cho
nhà tư bản. Và giá trị thặng dư là nguồn gốc thực sự của lợi nhuận. Thực chất, lợi nhuận thương nghiệp chính là một phần giá trị
thặng dư mà nhà tư bản sản xuất đã trả cho nhà tư bản thương nghiệp do nhà tư bản thương nghiệp đã thực hiện thay việc tiêu
thụ hàng hoá.
Ví dụ cụ thể: Một công ty A sản xuất áo thun và bán chúng trên thị trường. Để sản xuất một chiếc áo, công ty cần các nguyên
liệu như vải, chỉ và công lao động của công nhân. Chi phí sản xuất sẽ bao gồm tiền nguyên liệu 15k, công lao động 10k, chi phí
khác (điện, nước, máy móc,...) 5k. Tổng chi phí sản xuất là 30k. Cty A quyết định bán chiếc áo này cho thương nhân với giá 50k.
Sau đó các thương nhân bán ra ngoài thị trường với giá 60k.
Phân tích ví dụ trên
Giá trị thặng dư: Công nhân sản xuất chiếc áo thun này được trả 10k, nhưng giá trị do lao động của họ tạo ra vượt quá con số đó,
do công ty bán chiếc áo thun với giá sỉ là 50k/c. Phần chênh lệch giữa giá trị do lao động tạo ra và tiền lương thực nhận của công
nhân là giá trị thặng dư và phần chênh lệch giữa giá bán cho thương nhân và giá bán ra thị trường là lợi nhuận thương nghiệp (ở
đây là 10k/c)
Vậy lợi nhuận thương nghiệp là kết quả của sự bóc lột giá trị thặng dư trong quá trình sản xuất mà tư bản công nghiệp phải
nhường cho tư bản thương nghiệp.
12. Phân tích nguồn gốc và bản chất của: lợi tức, lợi nhuận thương nghiệp, địa tô tư bản chủ nghĩa? Biểu hiện của các
phạm trù này trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
*kn:
- Lợi nhuận thương nghiệp/ 70
- Lợi tức/ 70
- Địa tô tư bản chủ nghĩa/72
*Nguồn gốc và bản chất:
- Lợi tức
+ Nguồn gốc: Lợi tức là một phần của giá trị thặng dư, xuất hiện khi nhà tư bản cho vay tiền (tư bản cho vay) để những nhà tư
bản khác đầu tư và sinh lợi. Lợi tức được trả từ lợi nhuận mà người vay kiếm được từ việc sử dụng vốn vay trong quá trình sản
xuất.
+ Bản chất: Lợi tức là một phần của giá trị thặng dư được tạo ra bởi lao động của công nhân nhưng không được giữ lại bởi người
trực tiếp thuê lao động mà chuyển sang tay người sở hữu tư bản cho vay. Người cho vay không trực tiếp tham gia vào quá trình
sản xuất, nhưng họ vẫn nhận được lợi ích dưới dạng lợi tức do sự sở hữu tư bản của mình.
- Lợi nhuận thương nghiệp
+ Nguồn gốc: Lợi nhuận thương nghiệp xuất hiện khi các nhà tư bản thương mại (những người không sản xuất trực tiếp nhưng
tham gia vào việc lưu thông hàng hóa) mua hàng từ các nhà tư bản sản xuất và bán chúng ra thị trường với giá cao hơn.
+ Bản chất: Lợi nhuận thương nghiệp cũng là một phần của giá trị thặng dư do công nhân tạo ra trong quá trình sản xuất, nhưng
nó không trực tiếp xuất phát từ quá trình sản xuất mà từ sự chênh lệch giá cả trong quá trình lưu thông hàng hóa. Nhà tư bản
thương mại kiếm được lợi nhuận bằng cách mua hàng với giá thấp hơn và bán ra với giá cao hơn, nhưng bản chất của lợi nhuận
thương nghiệp vẫn là giá trị thặng dư từ lao động.
- Địa tô tư bản chủ nghĩa
+ Nguồn gốc: Địa tô tư bản chủ nghĩa xuất hiện khi nhà tư bản thuê đất để sản xuất (ví dụ: trong nông nghiệp) và trả tiền thuê đất
cho chủ đất. Chủ đất không tham gia trực tiếp vào sản xuất nhưng thu về một phần giá trị thặng dư dưới dạng địa tô.
+ Bản chất: Địa tô tư bản chủ nghĩa là một phần của giá trị thặng dư do lao động của người lao động tạo ra trên đất đai. Địa tô
phản ánh quyền sở hữu của chủ đất đối với một phần giá trị thặng dư, mà lẽ ra nhà tư bản sản xuất có thể giữ lại nếu không phải
thuê đất. Sự phân chia giá trị thặng dư giữa nhà tư bản sản xuất và chủ đất thể hiện quyền lực kinh tế của chủ đất trong hệ thống
tư bản.
* Biểu hiện trong nền kinh tế thị trường Việt Nam:
- Lợi tức:
+ Biểu hiện: Lợi tức trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay xuất hiện thông qua các hoạt động cho vay và tín dụng ngân hàng, các
khoản vay tiêu dùng, vay đầu tư, và các hoạt động tài chính khác. Các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng đóng vai trò
như nhà tư bản cho vay, thu lợi từ việc cho vay vốn với lãi suất nhất định.
+ Thực tế: Tỷ lệ lãi suất tại Việt Nam phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, cũng như tình hình cung cầu
vốn trong nền kinh tế. Các doanh nghiệp và cá nhân vay vốn để đầu tư, kinh doanh hoặc tiêu dùng đều phải trả lợi tức (lãi suất)
cho ngân hàng hoặc tổ chức tài chính, đây là biểu hiện rõ nét của lợi tức trong nền kinh tế thị trường hiện đại.
- Lợi nhuận thương nghiệp:
+ Biểu hiện: Lợi nhuận thương nghiệp xuất hiện thông qua các hoạt động mua bán và phân phối hàng hóa, dịch vụ trên thị
trường. Các công ty thương mại và nhà bán lẻ tại Việt Nam đóng vai trò là trung gian giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, và
kiếm lợi nhuận từ sự chênh lệch giá giữa giá mua vào và giá bán ra.
+ Thực tế: Với sự phát triển của thương mại điện tử, các sàn giao dịch trực tuyến (như Shopee, Lazada, Tiki) ngày càng phổ biến,
góp phần gia tăng lợi nhuận thương nghiệp. Các doanh nghiệp thương mại không trực tiếp sản xuất hàng hóa nhưng tạo ra giá trị
thông qua việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ tới người tiêu dùng với giá cả cao hơn so với giá nhập hàng từ nhà sản xuất.
- Địa tô tư bản chủ nghĩa
+ Biểu hiện: Địa tô tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay chủ yếu xuất hiện trong các ngành có liên quan đến đất đai như nông
nghiệp, bất động sản, và cho thuê đất. Các nhà đầu tư và doanh nghiệp phải trả tiền thuê đất cho chính quyền địa phương hoặc
các cá nhân/tổ chức sở hữu đất.
+ Thực tế: Trong lĩnh vực bất động sản, địa tô thể hiện qua việc các nhà đầu tư phát triển dự án (ví dụ: xây dựng nhà ở, khu công
nghiệp) phải thuê đất từ chính quyền hoặc chủ đất tư nhân. Địa tô tại Việt Nam cũng tăng lên do giá trị đất đai tăng mạnh, đặc
biệt ở các khu vực đô thị hóa và phát triển du lịch. Trong nông nghiệp, các hợp đồng thuê đất giữa nông dân và chủ đất cũng là
biểu hiện rõ nét của địa tô tư bản chủ nghĩa.
13. Phân biệt: Lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, lợi nhuận bình quân, tỷ suất lợi nhuận bình quân, giá cả sản xuất. (Tránh sự
nhầm lẫn giữa tỷ suất lợi nhuận và tỷ suất giá trị thặng dư.)
Lợi nhuận
Lợi nhuận là số tiền còn lại sau khi trừ đi tất cả các chi phí từ doanh thu. Đây là khoản tiền mà doanh
nghiệp kiếm được sau khi đã thanh toán tất cả các chi phí hoạt động, bao gồm cả chi phí sản xuất, quản lý,
tiền lương, và các khoản khác.
(là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và chi phí sản xuất của một doanh nghiệp. Đây là phần giá trị thặng
dư mà nhà tư bản chiếm đoạt được sau khi bán hàng hóa.)
Công thức:
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí sản xuất. (P=G-K)
Chi phí sản xuất ở đây bao gồm chi phí cho nguyên vật liệu, máy móc (tư bản bất biến) và tiền
lương lao động (tư bản khả biến).
Tỷ suất lợi
nhuận
Tỷ suất lợi nhuận là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và toàn bộ tư bản ứng trước
Tỷ suất lợi nhuận là chỉ số đo lường tỷ lệ lợi nhuận so với doanh thu tổng của doanh nghiệp. Nó cho biết
doanh nghiệp kiếm được bao nhiêu lợi nhuận từ mỗi đồng doanh thu. Tỷ suất lợi nhuận càng cao, chứng tỏ
doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả.
(là tỷ lệ giữa lợi nhuận thu được và tổng tư bản đầu tư, thể hiện khả năng sinh lời của tư bản.)
Công thức:
Tỷ suất lợi nhuận = ( Lợi nhuận / Tổng tư bản đầu tư ) × 100%.
o
Tổng tư bản đầu tư bao gồm cả tư bản bất biến (vốn cho máy móc, nguyên liệu) và tư bản khả
biến (vốn cho lao động).
Phân biệt với tỷ suất giá trị thặng dư:
Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ lợi nhuận so với tổng tư bản đầu tư (cả tư bản bất biến và tư bản khả
biến).
Tỷ suất giá trị thặng dư chỉ so sánh giá trị thặng dư với tư bản khả biến (vốn trả cho lao động).
Nó đo mức độ bóc lột lao động nhưng không phản ánh toàn bộ tư bản đầu tư.
Tỷ suất giá trị thặng dư = ( Giá trị thặng dư / Tư bản khả biến ) × 100%.
Lợi nhuận
Lợi nhuận bình quân là lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đạt được trong một khoảng thời gian cụ thể.
Để tính lợi nhuận bình quân, ta chia tổng lợi nhuận cho số lượng thời kỳ (tháng, quý, năm) tương ứng.
(là mức lợi nhuận trung bình mà các nhà tư bản nhận được khi tư bản dịch chuyển giữa các ngành để tìm
bình quân kiếm mức lợi nhuận cao nhất. Qua quá trình cạnh tranh, lợi nhuận được phân phối lại, và mức lợi nhuận bình
quân sẽ xuất hiện.)
Công thức:
Lợi nhuận bình quân = Tổng lợi nhuận của nền kinh tế / Tổng tư bản đầu tư.
Tỷ suất lợi
nhuận bình
quân
Đây là tỷ suất lợi nhuận tính trung bình trong một khoảng thời gian. Nó được tính bằng cách chia lợi nhuận
bình quân cho số vốn đầu tư hoặc số vốn chủ sở hữu.
(là tỷ lệ lợi nhuận bình quân so với tổng tư bản đầu tư của nền kinh tế, phản ánh mức độ sinh lời chung của
nền kinh tế.)
Công thức:
Tỷ suất lợi nhuận bình quân = ( Lợi nhuận bình quân / Tổng tư bản đầu tư ) × 100%.
Đây là tỷ lệ sinh lời trung bình mà các nhà tư bản mong đợi, sau khi cạnh tranh và điều chỉnh lợi nhuận giữa
các ngành.
Chi phí sản
xuất TBCN
Giá cả sản xuất là tổng chi phí để sản xuất một đơn vị sản phẩm hoặc dịch vụ. Nó bao gồm cả chi phí
nguyên vật liệu, lao động, máy móc, và các chi phí khác liên quan đến quá trình sản xuất.
(là mức giá mà hàng hóa được bán trên thị trường, bao gồm chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận bình quân.
Đây là mức giá sau khi lợi nhuận đã được điều chỉnh qua quá trình cạnh tranh giữa các ngành.)
Công thức:
Giá cả sản xuất = Chi phí sản xuất + Lợi nhuận bình quân.
Giá cả sản xuất giúp đảm bảo các nhà tư bản trong các ngành khác nhau thu được mức lợi nhuận
bình quân, bất kể ngành đó có tỷ lệ giá trị thặng dư cao hay thấp.
Để tránh nhầm lẫn giữa tỷ suất lợi nhuận và tỷ suất giá trị thặng dư, hãy nhớ rằng tỷ suất lợi nhuận liên quan đến lợi nhuận so với
doanh thu, trong khi tỷ suất giá trị thặng dư liên quan đến chênh lệch giữa giá trị sản phẩm tạo ra và giá trị của các yếu tố sản
xuất (như nguyên vật liệu và lao động)
- Liên hệ đến VN:
Trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, các quy luật về lợi nhuận vẫn chi phối mạnh mẽ hoạt động đầu tư và sản xuất, dù có sự
điều tiết của Nhà nước:
1. Tỷ suất lợi nhuận và Hấp dẫn Đầu tư
Tỷ suất lợi nhuận (P′) là yếu tố quyết định sự luân chuyển và phân bổ vốn trong xã hội:
Ngành có P′ cao thu hút vốn: Các ngành công nghệ, dịch vụ số, và tài chính thường có P′ cao hơn do có cấu tạo hữu
cơ của tư bản (tỷ lệ c/v) thấp và tốc độ chu chuyển nhanh. Ví dụ: Lĩnh vực Ngân hàng – Tài chính (thường duy trì P′
cao) và Bất động sản luôn là những ngành có lợi nhuận hấp dẫn nhất, thu hút lượng lớn vốn xã hội.
Ngành có P′ thấp dịch chuyển: Các ngành sản xuất truyền thống, thâm dụng lao động như dệt may, da giày, thường
có P′ thấp hơn và chịu áp lực cạnh tranh về giá, buộc phải chuyển hướng đầu tư vào tư bản bất biến (máy móc, công
nghệ) để tăng năng suất và duy trì tỷ suất lợi nhuận.
2.
Sự hình thành Lợi nhuận bình quân (Pˉ) và Cạnh tranh
Mặc dù thị trường Việt Nam có sự can thiệp của Nhà nước, quy luật hình thành Lợi nhuận bình quân (Pˉ) vẫn hoạt động thông
qua sự dịch chuyển của vốn:
Sự dịch chuyển vốn: Khi một ngành kinh doanh bùng nổ (ví dụ: chuỗi cà phê, bán lẻ công nghệ), P′ ban đầu caosẽ
ngay lập tức thu hút các nhà đầu tư khác (tư bản tư nhân, start-up) tham gia, làm tăng cung và kéo P′ của ngành đó
giảm dần về mức P′ˉ chung của xã hội.
Giá cả sản xuất (GSX): Trong nhiều ngành hàng hóa tiêu dùng cơ bản, giá cả sản xuất đóng vai trò là cơ sở để định
giá. Doanh nghiệp cần xác định GSX của mình (bao gồm chi phí và lợi nhuận hợp lý) để đảm bảo cạnh tranh và thu hút
vốn đầu tư lâu dài.
Số liệu liên hệ (Ví dụ ước tính thực tế):
Theo các báo cáo tổng hợp (nửa đầu năm 2025), Tỷ suất lợi nhuận bình quân (P′ˉ) của các doanh nghiệp niêm yết
trên thị trường chứng khoán Việt Nam thường duy trì ở mức khoảng 10% - 15% (tùy thuộc vào phương pháp tính).
Các ngành có P′ cao hơn mức này (như Công nghệ, Dược phẩm) sẽ tiếp tục thu hút vốn mạnh mẽ, trong khi các ngành
có P′ thấp hơn (như Nông nghiệp, khai khoáng) sẽ đối mặt với thách thức rút vốn.
Việc phân tích các khái niệm lợi nhuận không chỉ giúp đánh giá hiệu quả kinh tế mà còn là cơ sở để Chính phủ điều tiết, khuyến
khích đầu tư vào các ngành then chốt thông qua các chính sách thuế và vốn ưu đãi.
14. Anh chị hãy: So sánh sự giống và khác nhau giữa giá trị thặng dư và lợi nhuận? Những khái niệm đó do ai nêu ra và
nêu ra nhằm mục đích gì? Liên hệ với việc sản xuất giá trị thặng dư trong các công ty tư nhân ở Việt Nam hiện nay.
----------------------------------------
* So sánh lợi nhuận và giá trị thặng dư
- Giống nhau:
+ Về sản xuất: cả lợi nhuận (p) và giá trị thặng dư (m) đều liên quan đến quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ và có chung một
nguồn gốc là kết quả lao động không công của công nhân.
+ Về giá trị: Cả hai khái niệm này đều phản ánh giá trị mà các doanh nghiệp hoặc nhà sản xuất tạo ra từ hoạt động kinh doanh,
buôn bán.
- Khác nhau:
+ Định nghĩa:
Giá trị thặng dư: là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra, là kết quả của lao động không công
của công nhân cho nhà tư bản. (ký hiệu: m)
Lợi nhuận: là số tiền lời mà nhà tư bản thu được do có sự chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và chi phí tư bản. (ký hiệu: p)
+ Nguyên nhân hình thành:
GTTD: Do hao phí sức LĐ tạo ra
Lợi nhuận: Do chi phí mà nhà TB đã bỏ ra để SXHH
+ Về mặt lượng: Lợi nhuận và giá trị thặng dư thường không bằng nhau, lợi nhuận có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị thặng dư
tuỳ thuộc vào giá cả hàng hoá do quan hệ cung - cầu quy định. Nhưng xét trên phạm vi toàn xã hội, tổng số lợi nhuận luôn ngang
bằng tổng số giá trị thặng dư
+ Bản chất:
GTTD: Thể hiện nội dung bên trong; Thể hiện bản chất kinh tế - xã hội, là quan hệ giai cấp giữa người LĐ và người sử dụng
LĐ. Người LĐ làm thuê phải bán sức LĐ cho nhà TB.
Phản ánh đúng bản chất: sự chiếm đoạt lao động không công nhân
Lợi nhuận: Là hình thái thể hiện bên ngoài; Là hình thái biểu hiện của GTTD trên bề mặt nền kinh tế thị trường
Phản ánh sai
lệch bản chất quan hệ sản xuất giữa nhà tư bản và lao động làm thuê. Nó làm cho người ta tưởng rằng giá trị thặng dư không phải
chỉ do lao động làm thuê tạo ra mà là do toàn bộ tư bản ứng trước sinh ra.
+ Nguồn gốc:
GTTD được Karl Marx trình bày trong tác phẩm "Tư bản" (Das Kapital) (1867) nhằm phân tích sự khai thác và mâu thuẫn giữa
lao động và tư bản trong chủ nghĩa tư bản.
Khái niệm lợi nhuận đã được phát triển bởi nhiều nhà kinh tế học khác nhau, bao gồm Adam Smith, David Ricardo, và John
Maynard Keynes, được sử dụng trong lý thuyết kinh tế học cổ điển, tiêu biểu là kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh.
+ Mục đích:
GTTD: Chỉ ra sự bóc lột của giai cấp tư bản đối với giai cấp công nhân; Phân tích các mâu thuẫn nội tại của CNTB; Phân tích sự
bất công trong phân phối giá trị; Giải thích cơ chế mà tư bản tích lũy tài sản
LN: Làm rõ bản chất của LN trong nền KT TBCN; Che đậy bản chất bóc lột của hệ thống TBCN; Phân tích mối quan hệ giữa lợi
nhuận và TB; Giải thích cơ chế phân phối lợi nhuận
* Liên hệ với việc sản xuất GTTD trong các công ty tư nhân VN hiện nay
- Thực trạng: Trong các doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam, đặc biệt là nhóm VPE500 (500 doanh nghiệp lớn nhất), có những tín
hiệu tích cực về tăng năng suất và khả năng tạo ra giá trị thặng dư. Các công ty này đã đạt mức tăng năng suất lao động bình quân
khoảng 9,3% mỗi năm trong giai đoạn 2019-2021, vượt qua mức trung bình của khu vực tư nhân nói chung (6,8%). Những ngành
như tài chính, vận tải, và chế biến đóng góp lớn vào sự tăng trưởng này với mức tăng từ 7-21%/năm. Tuy nhiên, tỉ suất giá trị
thặng dư ở một số ngành cao, do mức lương thấp và thời gian làm việc dài. Các báo cáo cho thấy công nhân trong ngành dệt may
hoặc điện tử đôi khi nhận lương chỉ vừa đủ đáp ứng nhu cầu cơ bản. (VD. May Sài Gòn, Vinawood)
- Các chiến lược SX GTTD: Hiện nay, các công ty tư nhân tại Việt Nam áp dụng nhiều phương thức để tối ưu hóa giá trị thặng
dư theo lý thuyết kinh tế chính trị Mác-Lênin.
+ Đầu tư và cải tiến công nghệ: Trong bối cảnh nền kinh tế mở và sự cạnh tranh khốc liệt từ hàng nhập khẩu giá rẻ, các doanh
nghiệp tư nhân Việt Nam đã phải tìm cách cải tiến liên tục bằng cách tăng năng suất lao động thông qua đầu tư vào máy móc hiện
đại, quy trình sản xuất tự động hóa và quản trị doanh nghiệp hiệu quả hơn. Công nghệ và tự động hóa giúp giảm thời gian lao
động tất yếu, do đó kéo dài thời gian lao động thặng dư mà không vi phạm luật lao động hiện hành
Dẫn chứng:
o
Theo số liệu từ Bộ Công Thương, Việt Nam ghi nhận 30% doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào công nghệ mới
trong năm 2023 nhằm cải thiện năng suất. Đặc biệt, ngành dệt may và điện tử chiếm tỷ trọng đầu tư lớn nhất
để cạnh tranh với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc
o
Báo cáo của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy năng suất lao động của Việt Nam tăng 5-6% mỗi năm trong
giai đoạn 2015-2022, góp phần gia tăng sản xuất giá trị thặng dư tương đối mà không cần kéo dài giờ làm
+ Chuyên môn hóa, tham gia chuỗi cung ứng quốc tế và tối ưu chi phí sản xuất
Việt Nam đã trở thành trung tâm sản xuất cho nhiều công ty đa quốc gia nhờ vào lợi thế lao động giá rẻ và năng suất
cao.
Gia công hàng xuất khẩu trong các lĩnh vực như dệt may và điện tử là ví dụ điển hình của việc áp dụng giá trị thặng dư
siêu ngạch. Doanh nghiệp Việt Nam tập trung vào khâu sản xuất có chi phí thấp hơn các đối thủ quốc tế, từ đó tạo ra lợi
nhuận dựa trên chênh lệch giá trị sản phẩm trên thị trường quốc tế
Dẫn chứng:
o
Năm 2022, xuất khẩu của Việt Nam đạt 372 tỷ USD, trong đó các sản phẩm gia công từ các công ty tư nhân
như dệt may, điện tử chiếm hơn 60% tổng kim ngạch xuất khẩu.
o
Ngoài ra, các doanh nghiệp công nghệ như Samsung Việt Nam đã đóng góp đáng kể vào GDP, với hơn
50.000 lao động và sản lượng xuất khẩu đạt 60 tỷ USD mỗi năm.
+ Linh hoạt hóa hợp đồng và tối ưu chi phí nhân công
Một số doanh nghiệp tư nhân áp dụng các hình thức lao động linh hoạt như hợp đồng ngắn hạn, lao động thời vụ để tối
ưu chi phí nhân công. Điều này cho phép doanh nghiệp giảm thiểu chi phí cố định và tăng thời gian làm thêm giờ, qua
đó tối đa hóa giá trị thặng dư.
Dẫn chứng:
o
Theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), hơn 35% doanh nghiệp tư nhân áp
dụng hợp đồng thời vụ và các mô hình lao động linh hoạt nhằm cắt giảm chi phí
các công ty tối đa hóa thời
gian lao động thặng dư trong khi vẫn tuân thủ luật pháp hiện hành
o
Mặc dù luật lao động Việt Nam giới hạn thời gian làm việc tối đa 48 giờ/tuần, nhưng nhiều công ty đã tận
dụng tối đa 200 giờ làm thêm mỗi năm theo quy định, cho phép tăng sản lượng mà không cần tăng quy mô
nhân sự.
+ Giá trị thặng dư siêu ngạch: Các doanh nghiệp cũng nhắm đến việc tạo ra giá trị thặng dư siêu ngạch bằng cách nâng cao năng
suất lao động cá biệt—đưa giá thành sản phẩm xuống thấp hơn giá thị trường chung. Chiến lược này được áp dụng để cạnh tranh
với hàng nhập khẩu giá rẻ từ nước ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc. Những công ty sử dụng công nghệ hiện đại và tối ưu hoá quy
trình sản xuất có lợi thế trong việc đạt được loại giá trị thặng dư này
+ Chuyển đổi mô hình quản lý và chuyên môn hóa:
Sau giai đoạn Đổi mới năm 1986, các doanh nghiệp tư nhân và nhà nước tại Việt Nam đã chuyển đổi từ hình thức sản xuất bao
cấp sang nền kinh tế thị trường. Các công ty tập trung vào chuyên môn hóa, phân công lao động chi tiết hơn và áp dụng các mô
hình quản lý hiệu quả để tạo ra nhiều giá trị thặng dư. Việc chuyên môn hóa này không chỉ giúp tăng năng suất mà còn tối ưu hóa
chi phí sản xuất, cải thiện khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế
+ Nhà nước: Nhà nước có thể tăng lương tối thiểu, cải thiện phúc lợi, kiểm soát giờ làm việc và giám sát việc thực thi luật lao
động. Đồng thời, cần hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất qua công nghệ và đào tạo, giảm phụ thuộc vào lao động giá rẻ. Các
chính sách này giúp bảo vệ người lao động và đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững.
Kết luận, sản xuất giá trị thặng dư trong các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam hiện đại không chỉ dừng lại ở việc kéo dài thời
gian lao động mà tập trung nhiều hơn vào cải thiện năng suất và quản lý. Điều này thể hiện sự linh hoạt trong việc vận dụng học
thuyết giá trị thặng dư của Marx vào thực tiễn trong bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay.
15. So sánh sự khác nhau giữa tỷ suất giá trị thặng dư và tỷ suất lợi nhuận? Các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay có
những thuận lợi và khó khăn gì trong việc nâng cao tỷ suất lợi nhuận? Lấy dẫn chứng trong thực tiễn để chứng minh.
-----------------------------------------------
- Định nghĩa:
+ Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến.
+ Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận và toàn bộ giá trị của tư bản ứng trước.
- So sánh sự khác nhau:
+ Về lượng: Tỷ suất lợi nhuận luôn nhỏ hơn tỷ suất giá trị thặng dư.
+ Về chất: Tỷ suất giá trị thặng dư biểu hiện mức độ bóc lột của tư bản đối với lao động, còn tỷ suất lợi nhuận chỉ nói lên mức
doanh lợi của việc đầu tư, là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn đầu tư của đơn vị sản xuất kinh doanh. Bởi vậy, nó là
động lực kích thích các chủ thể sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.
- Các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay có những thuận lợi và khó khăn gì trong việc nâng cao tỷ suất lợi nhuận:
+ Thuận lợi:
Thị trường tiềm năng: Việt Nam có dân số trẻ và thị trường tiêu dùng lớn, đa dạng, tạo môi trường thuận lợi cho các
doanh nghiệp phát triển kinh doanh. Quỹ Tiền tệ Quốc tế dự báo Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam theo
sức mua tương đương (PPP) sẽ đạt gần 2.343 tỷ USD vào năm 2029, vượt qua Australia và Ba Lan, xếp thứ 20 trên thế
giới. Ngân hàng Thế giới cũng nhận định kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 5,5% trong năm 2024 và tăng dần lên 6,0%
vào năm 2025. Những số liệu trên cho thấy tiềm năng phát triển to lớn của thị trường Việt Nam.
Chính sách hỗ trợ từ chính phủ: Các chính sách hỗ trợ tài khóa và tiền tệ trực tiếp giúp doanh nghiệp giảm chi phí sản
xuất (K), làm tăng lợi nhuận (P) và tỷ suất lợi nhuận (P′).
Ưu đãi Thuế Thu nhập Doanh nghiệp (TNDN) cho dự án mới: Luật Thuế TNDN sửa đổi (có hiệu lực từ
năm 2025) tiếp tục mở rộng các hình thức miễn, giảm thuế cho các dự án đầu tư mới thuộc lĩnh vực/địa bàn
ưu đãi.
Dẫn chứng (Theo Luật TNDN 2025): Các dự án đầu tư mới thuộc lĩnh vực, địa bàn đặc biệt ưu
đãi có thể được miễn thuế tối đa 4 nămgiảm 50% thuế lên tới 9 năm tiếp theo. Điều này giúp
DN giữ lại một phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư, qua đó tăng P′.
Giảm Thuế Giá trị gia tăng (VAT): Chính phủ tiếp tục áp dụng chính sách giảm thuế VAT 2% đối với một
số nhóm hàng hóa, dịch vụ thông thường.
Dẫn chứng: Chính sách này, được áp dụng đến ít nhất 30/6/2025 (từ mức 10% xuống 8%), giúp
kích thích cầu tiêu dùnggiảm chi phí đầu vào của DN, trực tiếp thúc đẩy doanh thu và lợi
nhuận.
Hỗ trợ Tín dụng và Vốn: Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chỉ đạo tăng cường cơ hội tiếp cận tín
dụng, bao gồm cả các gói hỗ trợ lãi suất (như gói hỗ trợ lãi suất 2% trước đây) và các chức năng cho vay, đầu
tư khởi nghiệp của Quỹ Phát triển Doanh nghiệp Vừa và Nhỏ (Quỹ ĐT DNNVV).
Tăng cường hội nhập quốc tế: Các hiệp định thương mại tự do (FTA) mở ra cơ hội xuất khẩu và thu hút đầu tư nước
ngoài. Việc mở rộng thị trường ra nước ngoài đem lại nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam. Tính đến tháng
5/2024, Việt Nam đã ký kết, thực thi và đang đàm phán tổng cộng là 19 FTA, trong đó có Khu vực Mậu dịch Tự do
ASEAN (AFTA), 2) Khu vực Thương mại Tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA), 3) Hiệp định Thương mại Tự do
ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA),...
Công nghệ và đổi mới sáng tạo: Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và chuyển đổi số tạo điều kiện cho
doanh nghiệp tăng năng suất sản xuất từ đó tăng tỷ suất giá trị thặng dư, tỷ suất lợi nhuận. Một ví dụ điển hình về việc
tăng năng suất lao động thông qua đổi mới công nghệ là ngành dệt may. Trong những năm gần đây, nhiều công ty may
mặc đã trang bị máy móc hiện đại và tự động hóa một số công đoạn sản xuất, góp phần tăng năng suất và chất lượng
hàng hóa. Chẳng hạn, Tổng Công ty May Bắc Giang LGG và Công ty Cổ phần May Hưng Việt đã ứng dụng trí tuệ
nhân tạo và các hệ thống thiết bị hiện đại vào khâu chuẩn bị sản xuất, giảm 30%-45% thời gian và lao động.
Nguồn lao động dồi dào: Việt Nam có nguồn lao động trẻ, năng động và ngày càng được đào tạo bài bản. Theo Tổng
điều tra dân số năm 2019, Việt Nam ghi nhận tỷ lệ dân số trẻ cao nhất trong lịch sử đất nước, tạo nền tảng tiềm năng
cho lợi tức dân số. Việt Nam có 20,4 triệu thanh thiếu niên trong độ tuổi 10-24 tuổi, chiếm 21% dân số và thời kỳ dân
số vàng dự kiến kéo dài đến năm 2039.
+ Khó khăn:
Cạnh tranh gay gắt: Sự nở rộ của các doanh nghiệp trong và ngoài nước khiến thị trường trở nên cạnh tranh hơn, ảnh
hưởng đến tỷ suất lợi nhuận. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới 9 tháng năm 2024 là hơn 121,9 nghìn doanh
nghiệp, tăng 3,42% so với cùng kỳ năm 2023 với số vốn đăng ký hơn 1.158,5 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ
năm 2023; số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là gần 735,1 nghìn lao động, giảm 3,37% so với
cùng kỳ năm.
Chất lượng sản phẩm và dịch vụ: Nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, dẫn
đến việc khó giữ chân khách hàng. Cho tới nay, nước ta vẫn chưa có một chính sách quốc gia về chất lượng sản phẩm.
Sự thiếu hụt các chính sách, các chiến lược dài hạn về chất lượng sản phẩm dẫn đến sự thiếu định hướng trong phát
triển, nâng cao chất lượng sản phẩm phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế nước ta. Thêm vào đó, việc gia nhập các tổ
chức kinh tế thế giới AFTA, OPEC, hiệp định thương mại Việt Mỹ,... sẽ tạo ra một sức ép rất lớn đối với các doanh
nghiệp trong cạnh tranh trên thị trường.
Khó khăn trong tiếp cận vốn: Mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng việc tiếp cận nguồn vốn vẫn là một thách thức
lớn đối với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. “Một số nhóm khách hàng có nhu cầu nhưng
chưa đáp ứng điều kiện vay vốn, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa do quy mô vốn nhỏ, năng lực hạn chế, thiếu phương
án kinh doanh khả thi; các giải pháp tăng tiếp cận tín dụng thông qua Quỹ Bảo lãnh tín dụng, Quỹ Phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa,... chưa phát huy được nhiều hiệu quả.” là những nguyên nhân được Phó Thống đốc Thường trực
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đào Minh Tú đưa ra tại Hội nghị “Triển khai nhiệm vụ điều hành chính sách tiền tệ
năm 2024, tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô” diễn ra
vào 14/3 khi lý giải nguyên nhân 2 tháng đầu năm tăng trưởng tín dụng âm.
Rủi ro từ thị trường toàn cầu: Biến động kinh tế thế giới và các yếu tố bên ngoài như dịch bệnh, chiến tranh thương mại
có thể tác động xấu đến hoạt động kinh doanh. Chiến tranh Nga - Ukraine đã gây nên cho Việt Nam áp lực không nhỏ,
trong đó có thiếu hụt nguồn cung (xăng dầu, nickel, palladium,...), mất đi nhiều đơn hàng do lệnh cấm vận của các
nước đối với Nga, gia tăng áp lực lạm phát,...
Hạ tầng yếu kém: Mặc dù có cải thiện, nhưng cơ sở hạ tầng giao thông và logistics vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu, làm
tăng chi phí vận chuyển và lưu kho. Theo Báo cáo Kết quả thực hiện Quyết định số 200/QĐ-TTg, ngày 14/02/2017 của
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt
Nam đến năm 2025 của Bộ Công Thương (2022), do điều kiện địa hình có đến 39% mạng lưới quốc lộ nằm trong khu
vực đồi núi và nhiều tuyến được quy hoạch là quốc lộ, song chưa được nâng cấp, chưa đạt yêu cầu quy hoạch.
16. Phân tích quá trình hình thành lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất? Theo anh chị Việt Nam cần xây dựng chiến
lược giá cả như thế nào để hàng hoá Việt Nam có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế?
*Phân tích
Khái niệm: Lợi nhuận bình quân SGK/ 69 và Giá cả sản xuất: là mức giá mà hàng hóa hoặc dịch vụ được bán ra trên
thị trường, bao gồm tổng chi phí sản xuất (như chi phí nguyên vật liệu, lao động, và chi phí cố định) cộng với lợi nhuận
bình quân mà doanh nghiệp mong muốn đạt được.
Phân tích SGK/ 56, 5
*Liên hệ:
Để hàng hóa Việt Nam có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, cần xây dựng một chiến lược giá cả hiệu quả và bền vững.
Trước hết, doanh nghiệp cần định giá cạnh tranh bằng cách nghiên cứu thị trường để xác định mức giá hợp lý, đồng thời giảm chi
phí sản xuất thông qua tối ưu hóa quy trình và nguyên vật liệu. Việc nâng cao chất lượng sản phẩm cũng rất quan trọng; doanh
nghiệp nên đầu tư vào công nghệ và đạt các chứng nhận quốc tế để tăng uy tín. Thêm vào đó, xây dựng thương hiệu mạnh thông
qua các chiến dịch marketing hiệu quả và khuyến mãi sẽ giúp thu hút khách hàng. Nhà nước cũng nên hỗ trợ doanh nghiệp xuất
khẩu bằng chính sách tài chính ưu đãi và giảm thuế cho các ngành hàng chiến lược. Ngoài ra, việc đa dạng hóa sản phẩm và
nhanh chóng đáp ứng nhu cầu thị trường cũng là yếu tố then chốt. Cuối cùng, doanh nghiệp cần tăng cường hợp tác quốc tế để
mở rộng kênh phân phối và tận dụng các hiệp định thương mại tự do, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên
thị trường toàn cầu.
→ VD
: Một ví dụ điển hình về doanh nghiệp Việt Nam có chiến lược giá cả và chất lượng hiệu quả là Công ty Cổ phần Thế Giới
Di Động (MWG). Công ty này thường xuyên nghiên cứu và điều chỉnh giá cả để duy trì tính cạnh tranh, đồng thời áp dụng chính

Preview text:

CHƯƠNG 3
1. Các thuộc tính của hàng hóa sức lao động (tránh nhầm lẫn với thuộc tính của hàng hóa thông thường). Liên hệ với việc
phát triển thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay.

- 2 Thuộc tính: Gtri và gtri sdung (sgk/49,50 bản Hanu 2025) - Liên hệ: +
Giá trị hàng hóa sức lao động ở Việt Nam, được xác định bởi chi phí tái sản xuất (gồm chi phí sinh hoạt,
đào tạo), đang có sự cải thiện rõ rệt nhưng vẫn còn khoảng cách. Việc tăng cường chất lượng nguồn nhân
lực thông qua đào tạo là một ưu tiên. Theo số liệu 9 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có
bằng, chứng chỉ là 29,1%, tăng 1,0 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Sự gia tăng này cho thấy
nhà nước và doanh nghiệp đang chú trọng hơn vào chi phí đào tạo, trực tiếp nâng cao giá trị của sức lao
động Việt Nam trên thị trường. +
Thu nhập bình quân của người lao động tăng lên là dấu hiệu cho thấy chi phí tái sản xuất sức lao động (tức
Giá trị của hàng hóa sức lao động) đang được thị trường ghi nhận cao hơn. Trong 6 tháng đầu năm
2025, thu nhập bình quân tháng đạt 8,3 triệu đồng, tăng 760 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước. Tuy
nhiên, sự chênh lệch rõ rệt giữa thành thị (10,0 triệu đồng) và nông thôn (7,2 triệu đồng) phản ánh sự
khác biệt trong yêu cầu về chi phí sinh hoạt và trình độ lao động, dẫn đến sự phân hóa về Giá trị của hàng
hóa sức lao động giữa các vùng. +
Thị trường lao động Việt Nam đang dịch chuyển theo hướng tìm kiếm Giá trị sử dụng cao hơn, tức là sức
lao động có khả năng tạo ra giá trị thặng dư lớn. Các ngành kinh tế trọng điểm như Công nghiệp chế biến -
chế tạo, Bất động sản & Xây dựng, và Logistics đều ghi nhận nhu cầu tuyển dụng tăng mạnh trong đầu năm
2025 (tăng trên 40% ở một số ngành). Tuy nhiên, hầu hết các ngành đều khát nhân lực tay nghề cao, cho
thấy sự mất cân đối giữa cầu về sức lao động có khả năng tạo giá trị thặng dư lớn và cung cấp từ thị trường. +
Mặc dù thị trường lao động có nhiều tín hiệu tích cực, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (15-24 tuổi) vẫn ở
mức cao 8,06%
(6 tháng đầu năm 2025). Tình trạng này phản ánh việc một bộ phận lớn sức lao động có
giá trị sử dụng tiềm năng chưa được khai thác hiệu quả. Điều này là một thách thức lớn, bởi nó không chỉ
gây lãng phí nguồn lực mà còn cản trở khả năng tạo ra giá trị mới và giá trị thặng dư cho toàn bộ nền kinh tế quốc gia.
+ Để phát triển thị trường hàng hóa sức lao động bền vững, Việt Nam cần đồng thời nâng cao cả hai thuộc
tính. Cụ thể, cần tiếp tục đầu tư vào đào tạo, gắn kết với nhu cầu thị trường để nâng cao Giá trị sức lao
động, đồng thời hoàn thiện hệ thống kết nối cung-cầu, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh để tối ưu hóa
Giá trị sử dụng của nguồn nhân lực, đặc biệt là lao động chất lượng cao và lao động trẻ.
2. Phân tích sự chuyển hóa tiền thành tư bản và ý nghĩa của việc phát hiện ra hàng hóa sức lao động trong việc giải quyết
mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản?

Sự chuyển hóa tiền thành tư bản là quá trình tiền được sử dụng để tạo ra một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu,
thể hiện qua công thức T – H – T'. Tuy nhiên, sự vận động này chứa đựng một mâu thuẫn căn bản: Nếu việc mua
bán diễn ra theo nguyên tắc ngang giá trong lưu thông, thì không thể có sự tăng thêm giá trị (m); nhưng nếu loại bỏ
lưu thông, quá trình tư bản cũng không thể khởi động và hoàn thành. Mâu thuẫn được tóm gọn: tư bản phải phát
sinh trong lưu thông và đồng thời không thể phát sinh trong lưu thông.
Mác đã giải quyết mâu thuẫn này bằng việc phát hiện ra hàng hóa sức lao động. Sức lao động trở thành hàng hóa
khi người lao động tự do nhưng bị tước đoạt tư liệu sản xuất, buộc phải bán khả năng lao động. Sức lao động là hàng
hóa đặc biệt vì giá trị sử dụng của nó có khả năng tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn chính giá trị của nó.
Quá trình chuyển hóa tiền thành tư bản là sự thống nhất giữa lưu thông và sản xuất. Trong giai đoạn lưu thông ban
đầu (T→H), nhà tư bản mua tư liệu sản xuất và sức lao động theo nguyên tắc ngang giá. Giá trị thặng dư chưa phát
sinh ở đây. Giai đoạn then chốt là sản xuất (H→H′), diễn ra ngoài lưu thông. Trong quá trình tiêu dùng sức lao
động, công nhân tạo ra giá trị mới, bao gồm phần giá trị bù đắp lại giá trị sức lao động (lao động cần thiết) và phần
giá trị dôi ra giá trị thặng dư (m) (lao động thặng dư). Cuối cùng, giai đoạn lưu thông sau cùng (H′→T′) chỉ là quá
trình thực hiện hóa giá trị thặng dư đã được tạo ra trong sản xuất.
Ý nghĩa của việc phát hiện ra hàng hóa sức lao động là vô cùng to lớn. Nó đã giải quyết triệt để mâu thuẫn trong
công thức chung: giá trị thặng dư không vi phạm quy luật lưu thông ngang giá, vì nó không phát sinh từ việc mua
bán, mà phát sinh từ quá trình bóc lột lao động thặng dư của công nhân trong sản xuất. Phát hiện này đã vạch trần
bản chất kinh tế của chủ nghĩa tư bản, chứng minh rằng lợi nhuận (tức giá trị thặng dư) có nguồn gốc từ lao động
không công của người lao động
3. Hệ thống lại các cặp khái niệm: tư bản bất biến và tư bản khả biến, tư bản cố định và tư bản lưu động theo các tiêu chí:
căn cứ phân chia; mục đích và ý nghĩa phân chia các loại tư bản này. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.

Note: Trong đó, nghiên cứu cặp phạm trù TBBB – TBKB cần liên hệ với vai trò của máy móc và công nghệ hiện đại trong quá
trình tạo ra giá trị và giá trị thặng dư; đối với TBCĐ – TBLĐ, cần vận dụng để hiểu được vấn đề khẩu hao máy móc và cách
thức phân chia tư bản ứng trước một cách hiệu quả trong quá trình đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp.

Định nghĩa tư bản o
Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Mục đích lưu thông tư bản là sự lớn lên của giá trị, là giá trị thặng
dư, nên sự vận động của tư bản là không có giới hạn, vì sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn. Đây là
một định nghĩa rất chung về tư bản, nó bao trùm cả tư bản cổ xưa lẫn tư bản hiện đại. o
Nhưng sau khi nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư, có thể định nghĩa chính xác tư bản là giá trị
mang lại giá trị thặng dư, có thể thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê. o
Như vậy bản chất của tư bản là thể hiện quan hệ sản xuất xã hội mà trong đó giai cấp tư sản chiếm đoạt giá trị
thặng sư do giai cấp công nhân sáng tạo tạo ra, là một phạm trù lịch sử chỉ tồn tại trong CNTB (bác bỏ quan
điểm cho rằng tư bản là máy móc thiết bị)
Cơ sở phân chia các cặp khái niệm Tư bản bất biến Tư bản khả biến Định nghĩa
Là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị
Là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái sức lao động
được lao động cụ thể của công nhân làm thuê bảo toàn và chuyển
không tái hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng
nguyên vẹn vào giá trị sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi trong của công nhân làm thuê mà tăng lên, tức là biến đổi về
quá trình sản xuất (ký hiệu: c).
số lượng trong quá trình sản xuất (ký hiệu: v).
Về mặt hiện vật, tư bản bất biến gồm:
● Máy móc, thiết bị, nhà xưởng... (C1)
● Nguyên, nhiên vật liệu…(C2)
⇒ Máy móc, nguyên nhiên vật liệu đều là điều kiện để cho quá
trình để cho quá trình làm tăng giá trị diễn ra
Mối quan hệ TBBB - TBKB
(Note: Không viết cũng được, tùy thuộc vào đề bài)
Cả 2 đều là hai bộ phận cấu thành tổng tư bản của doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa. Trong đó, tổng tư bản = C + V
Tbbb Là điều kiện vật chất cho quá trình sản xuất
Tbkb Là yếu tố tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản
Sự thay đổi về lượng của tư bản bất biến không làm thay đổi giá trị Sự thay đổi về lượng của tư bản khả biến trong quá
thặng dư mà chỉ ảnh hưởng đến lượng giá trị chuyển dịch vào sản
trình sản xuất sẽ làm thay đổi quy mô giá trị thặng dư và phẩm
tỷ suất giá trị thặng dư 1.
Vai trò trong quá trình SX
Đại diện cho các yếu tố sản xuất vật chất như nguyên liệu thô, máy Là khoản tư bản được dùng để trả công cho lao động.
móc, thiết bị và nhà xưởng. Nó cung cấp điều kiện vật chất để sản
Trong sản xuất, sức lao động không chỉ tái tạo giá trị
xuất diễn ra, nhưng không thay đổi giá trị của mình trong quá trình
của tư bản khả biến mà còn tạo ra thêm một giá trị thặng
sản xuất. Tư bản bất biến chỉ đơn thuần "truyền" giá trị ban đầu
dư, giúp nhà tư bản có lợi nhuận. Vì vậy, lao động đóng
của mình vào sản phẩm mới.
vai trò trung tâm trong việc tăng trưởng giá trị. .
Đóng góp vào giá trị sản phẩm
TBBB không làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm cuối cùng
TBKB có thể tạo ra nhiều giá trị hơn giá trị của chính
nó thông qua quá trình làm việc của công nhân
Ví dụ: nếu máy móc được sử dụng trong sản xuất trị giá 100 đơn
Ví dụ, nếu công nhân được trả lương 100 đơn vị nhưng
vị, giá trị của nó sẽ không thay đổi qua quá trình sản xuất mà chỉ
tạo ra sản phẩm có giá trị 200 đơn vị, thì 100 đơn vị
truyền nguyên vẹn vào sản phẩm. Điều này nghĩa là tư bản bất
chênh lệch chính là giá trị thặng dư. Điều này có nghĩa
biến không tạo ra lợi nhuận cho nhà tư bản.
là lao động, và từ đó tư bản khả biến, là nguồn gốc của lợi nhuận. .
Tầm quan trọng đối với việc bóc lột lao động
Mối quan hệ giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến minh họa quá trình bóc lột lao động trong hệ thống tư bản chủ nghĩa. Tư
bản bất biến chỉ là phương tiện vật chất để sản xuất, nhưng chính sự kết hợp của tư bản khả biến (lao động) với tư bản bất biến
mới tạo ra sản phẩm và giá trị thặng dư. Nhà tư bản không thể tự tạo ra giá trị thặng dư từ tư bản bất biến mà phải dựa vào lao
động (tư bản khả biến).
Nhà tư bản luôn tìm cách tối đa hóa giá trị thặng dư bằng cách tăng cường bóc lột lao động, hoặc kéo dài thời gian lao động,
hoặc giảm lương của công nhân. Tuy nhiên, bất kể chiến lược nào, điểm chung là sự gia tăng giá trị thặng dư chỉ có thể đạt
được thông qua tư bản khả biến – yếu tố liên quan trực tiếp đến lao động.
Căn cứ phân chia
Dựa vào vai trò của từng bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư TBBB bảo toàn giá trị
TBKB có khả năng biến đổi và làm tăng thêm giá trị.
TBBB không tạo ra giá trị thặng dư nhưng là điều kiện cần thiết để TBKB là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư. Tư bản khả
quá trình tạo ra giá trị thặng dư được diễn ra.
biến có vai trò quyết định trong quá trình đó vì nó chính
là bộ phận tư bản đã lớn lên. Mục đích
Giúp C.Mác làm rõ quá trình sản xuất giá trị thặng dư và khẳng định rằng nguồn gốc của giá trị thặng dư không phải do TBBB
mà là do TBKB mang lại (bác bỏ quan điểm cho rằng tư bản là máy móc thiết bị)
Cho thấy rằng việc tạo ra giá trị thặng dư là quá trình bóc lột lao động, khi nhà tư bản chỉ
trả cho công nhân giá trị của sức lao động mà họ cung cấp, nhưng lại chiếm đoạt toàn
bộ sản phẩm lao động mà công nhân tạo ra Ý nghĩa
Việc phân chia thành TBBB và TBKB đã vạch rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư là do lao động làm thuê của công nhân tạo ra
và bị nhà tư bản chiếm không ⇒ chỉ ra sự bất công trong việc phân phối giá trị giữa nhà tư bản và công nhân
⇒ C.Mác lý giải và phê phán sâu sắc bản chất của chủ nghĩa tư bản là dựa trên sự bóc lột lao động và giá trị thặng dư.
Giải thích cơ chế tạo ra lợi nhuận: Lợi nhuận không đến từ sự đầu tư vào tư bản
bất biến (máy móc, nhà xưởng) mà đến từ sức lao động bị bóc lột.
Tư bản bất biến tuy không trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư nhưng nó có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, quyết định
năng suất lao động của công nhân.
Cơ sở lý luận cho đấu tranh giai cấp: Việc Marx làm rõ lao động là nguồn gốc của giá trị thặng dư và bị bóc lột bởi nhà tư bản
tạo ra cơ sở lý luận cho phong trào đấu tranh giai cấp.
⇒ Công nhân có quyền đấu tranh đòi lại phần giá trị mà họ đã tạo ra nhưng bị nhà tư bản chiếm đoạt.
Phân tích kinh tế học sâu sắc hơn: Phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến giúp Marx đưa ra một phân tích sâu hơn về
cách thức vận hành của nền kinh tế tư bản, vượt qua các lý thuyết kinh tế trước đó không phân biệt được các yếu tố khác nhau trong tư bản. Tư bản cố định Tư bản lưu động Định nghĩa
Là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới hình thái tư liệu lao động
Là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới hình thái sức lao
tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất nhưng giá trị của nó chỉ
động (nguyên nhiên vật liệu, vật liệu phụ, tiền lương
chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm theo mức độ hao mòn
cho lao động), giá trị của nó được chuyển một lần, toàn
(máy móc, thiết bị, nhà xưởng, công trình hạ tầng, v.v) gồm:
phần vào giá trị sản phẩm khi kết thúc từng quá trình sản xuất.
● hao mòn hữu hình (sự mất mát về giá trị sử dụng và giá
trị) do sử dụng và tác động của tự nhiên gây ra
Ví dụ: Nguyên liệu sản xuất như thép, gỗ, vải sẽ được sử
dụng hết trong một chu kỳ sản xuất và toàn bộ giá trị

● hao mòn vô hình (sự mất giá thuần túy) do
của nó sẽ chuyển vào giá trị của sản phẩm cuối cùng. o
sự tăng lên của năng suất lao động sản xuất tư liệu lao động o
sự xuất hiện của những thế hệ tư liệu lao động
mới có năng suất cao hơn. Đặc điểm
(Đây chỉ là tổng hợp lại từ phần định nghĩa với các ý được chia rõ ràng hơn)
● Là phần tư bản được đầu tư các tư liệu sản xuất lâu bền
● Là phần tư bản được đầu tư vào những yếu tố
như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, công trình hạ tầng
có tính chất tiêu hao nhanh chóng trong quá
trình sản xuất, như nguyên liệu, nhiên liệu và
● Không bị tiêu thụ hết trong một chu kì sản xuất mà
tiền lương cho lao động.
chuyển dần giá trị vào sản phẩm thông qua khấu hao
trong suốt vòng đời của nó
● Tư bản lưu động chuyển toàn bộ giá trị của nó
vào sản phẩm trong mỗi chu kỳ sản xuất. Sau
● Hỗ trợ trực tiếp trong quá trình sản xuất nhưng không bị
một chu kỳ, các yếu tố của tư bản lưu động
biến đổi thành hàng hóa ngay lập tức
(nguyên liệu thô, tiền lương) sẽ bị tiêu hao
hoàn toàn và cần phải được tái đầu tư để sản
● Không chuyển đổi trực tiếp và nhanh chóng thành hàng xuất tiếp tục.
hóa hoặc giá trị lưu thông trên thị trường
Mối quan hệ TBCĐ - TBLĐ
Mối quan hệ tương hỗ trong quá trình sản xuất.
● TBCĐ tạo ra cơ sở vật chất, máy móc và thiết bị để sản xuất
● TBLĐ cung cấp các yếu tố đầu vào như nguyên liệu và lao động để sản xuất có thể diễn ra.
● Nếu không có tư bản lưu động (nguyên liệu, nhiên liệu), tư bản cố định sẽ không thể hoạt động vì máy móc sẽ
không có nguyên liệu để sản xuất ra sản phẩm.
● Nếu thiếu tư bản cố định, quá trình sản xuất sẽ không diễn ra hiệu quả và không thể tăng năng suất sản xuất.
Tư bản cố định và tư bản lưu động bổ sung cho nhau trong quá trình sản xuất
● TBCĐ đảm bảo cơ sở vật chất để sản xuất
● TBLĐ là những yếu tố trực tiếp tạo ra giá trị mới trong mỗi chu kì sản xuất
⇒ Là hai phần cần thiết để quá trình sản xuất diễn ra trọn vẹn trong hệ thống tư bản chủ nghĩa
Căn cứ phân chia 1.
Phương thức chu chuyển giá trị của tư bản sản xuất vào giá trị sản phẩm
Giá trị của tư bản cố định được chuyển dần dần qua quá trình khấu
Giá trị của tư bản lưu động chuyển hoàn toàn vào sản hao.
phẩm trong mỗi chu kỳ sản xuất. Nguyên liệu, nhiên
liệu và lao động được tiêu hao hoàn toàn trong quá trình
⇒ Một phần giá trị của tư bản cố định được tính vào chi phí sản
sản xuất, do đó toàn bộ giá trị của chúng sẽ được
xuất mỗi chu kỳ cho đến khi giá trị của tài sản cố định được
chuyển vào sản phẩm cuối cùng.
chuyển hết vào sản phẩm. .
Tốc độ chu chuyển
● Sau khi đầu tư vào tư bản cố định (ví dụ: mua máy móc,
● Tư bản lưu động cần phải được tái đầu tư liên
xây dựng nhà xưởng), tư bản này sẽ không cần phải tái
tục sau mỗi chu kỳ sản xuất. đầu tư thường xuyên.
● Nguyên liệu thô bị tiêu hao hoàn toàn trong
● Tư bản cố định có thể được sử dụng qua nhiều chu kỳ
quá trình sản xuất, và lao động cần phải được
sản xuất trước khi cần phải thay thế hoặc sửa chữa.
trả lương sau mỗi chu kỳ, vì vậy tư bản lưu
động phải luôn được cung cấp và tái đầu tư để
đảm bảo sản xuất không bị gián đoạn
Tóm lại: Trong quá trình sản xuất của tư bản, các bộ phận tư bản chu chuyển không giống nhau. Căn cứ vào tính chất
chuyển giá trị của tư bản sản xuất vào giá trị sản phẩm mà tư bản được chia thành hai bộ phận: tư bản cố định và tư bản lưu động. Mục đích 1.
Hiểu rõ quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa
● Việc phân chia tư bản thành cố định và lưu động giúp chúng ta hiểu rõ hơn cách thức mà tư bản vận hành trong nền
sản xuất tư bản chủ nghĩa. Mỗi loại tư bản có tính chất vận động khác nhau, nhưng cả hai đều đóng vai trò quan
trọng trong việc tạo ra giá trị thặng dư.
● Tư bản cố định cung cấp cơ sở hạ tầng và công nghệ cho quá trình sản xuất, trong khi tư bản lưu động đảm bảo cung
cấp các yếu tố đầu vào cần thiết cho sản xuất hàng hóa. .
Quản lý và tối ưu hóa sản xuất
● Phân chia tư bản thành cố định và lưu động giúp các nhà quản lý doanh nghiệp có thể tính toán và quản lý nguồn lực
của mình một cách hiệu quả hơn. Nhà quản lý có thể xác định được cần phải đầu tư bao nhiêu vào tư bản cố định và
tư bản lưu động để đảm bảo sản xuất diễn ra liên tục và tối ưu hóa lợi nhuận.
● Nếu đầu tư quá nhiều vào tư bản cố định mà thiếu tư bản lưu động, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc
duy trì sản xuất. Ngược lại, nếu đầu tư quá nhiều vào tư bản lưu động mà không đủ tư bản cố định, năng suất và hiệu
quả sản xuất sẽ không được tối ưu. Ý nghĩa 1.
Tốc độ quay vòng của tư bản
● Tư bản lưu động có tốc độ quay vòng nhanh hơn vì giá trị của nó chuyển vào sản phẩm trong mỗi chu kỳ sản xuất.
Điều này giúp doanh nghiệp tái đầu tư nhanh chóng và mở rộng quy mô sản xuất.
● Tư bản cố định quay vòng chậm hơn, do đó doanh nghiệp cần có kế hoạch sử dụng hiệu quả các tài sản này để tối đa hóa giá trị. .
Hiệu quả kinh tế và lợi nhuận
● Việc phân chia tư bản giúp doanh nghiệp tối ưu hóa đầu tư giữa tư bản cố định và lưu động, từ đó gia tăng năng suất và lợi nhuận.
● Doanh nghiệp cần cân nhắc giữa việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng và việc duy trì sản xuất liên tục thông qua tư bản lưu động. .
Vai trò của lao động trong việc tạo ra giá trị thặng dư
● Tư bản lưu động, đặc biệt là phần chi trả cho lao động, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra giá trị và giá trị
thặng dư. Theo lý thuyết của Marx, giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt được đến từ phần chênh lệch giữa giá
trị mà lao động tạo ra và mức lương mà lao động nhận được.
● Điều này làm nổi bật tầm quan trọng của việc quản lý tư bản lưu động để tối ưu hóa năng suất lao động và gia tăng giá trị thặng dư. -
Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam:
Việc phân biệt tư bản bất biến (giá trị không đổi) và tư bản khả biến (giá trị thay đổi và tạo ra giá trị mới) là cơ sở để
Việt Nam tập trung vào việc nâng cao chất lượng lao động sống và điều chỉnh chính sách phân phối. Trên thực tế,
Chính phủ và doanh nghiệp đang tăng cường đầu tư vào tư bản khả biến (v) thông qua các chương trình đào tạo,
nhằm tăng giá trị sức lao động và khả năng tạo ra giá trị thặng dư (m) cao hơn. Cụ thể, theo số liệu 9 tháng đầu
năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đã đạt 29,1%, tăng 1,0 điểm phần trăm so với cùng kỳ
năm trước. Sự gia tăng này không chỉ làm tăng phần v (chi phí tái sản xuất sức lao động) mà còn định hướng tăng
năng suất, góp phần tăng m. Đồng thời, việc phân tích v và m cũng là căn cứ để điều chỉnh thu nhập bình quân của
người lao động (đạt 8,3 triệu đồng/tháng trong 6 tháng đầu năm 2025), đảm bảo hài hòa lợi ích giữa nhà đầu tư và
người lao động, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Việc phân biệt tư bản cố định và lưu động giúp các doanh nghiệp Việt Nam quản lý hiệu quả quá trình chu chuyển
vốn. Đầu tư vào tư bản cố định (nhà xưởng, máy móc) phản ánh nỗ lực hiện đại hóa sản xuất, nâng cao sức cạnh
tranh. Tuy nhiên, thách thức lớn là quản lý quá trình khấu hao và tránh lạc hậu công nghệ nhanh chóng trong bối
cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Đối với tư bản lưu động (nguyên vật liệu, tiền lương), mục tiêu là tăng tốc
độ chu chuyển
để giảm chi phí, thu hồi vốn nhanh, đặc biệt quan trọng trong các ngành công nghiệp chế biến - chế
tạo và logistics đang tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2025. Sự quản lý hiệu quả hai loại tư bản này giúp các doanh
nghiệp tối ưu hóa tổng mức đầu tư và cải thiện hiệu suất sử dụng vốn, từ đó nâng cao lợi nhuận và khả năng cạnh
tranh trên thị trường quốc tế.
4. Phân tích mối quan hệ giữa giá trị của hàng hoá sức lao động với tiền công trong xã hội tư bản chủ nghĩa? Liên hệ với
vấn đề tiền công trong các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hiện nay.

- Mối quan hệ giữa giá trị của hàng hoá sức lao động với tiền công trong xã hội tư bản chủ nghĩa
Giá trị hàng hóa sức lao động được xác định bởi thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động,
bao gồm các chi phí sinh hoạt vật chất và tinh thần của người lao động và gia đình họ, cùng chi phí đào tạo. Đây là cơ sở kinh tế,
là nội dung
của tiền công.
Tiền công (hay tiền lương) là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động. Trong xã hội tư bản, tiền công
mang vẻ ngoài là giá cả của lao động, làm cho người lao động lầm tưởng rằng họ được trả công cho toàn bộ thời gian lao động.
Tuy nhiên, trên thực tế, tiền công là giá cả của hàng hóa sức lao động, và người lao động chỉ được trả công cho một phần thời
gian lao động (lao động cần thiết), còn phần thời gian lao động còn lại (lao động thặng dư) là không được trả và bị nhà tư bản
chiếm đoạt dưới hình thức giá trị thặng dư.
Giá trị hàng hóa sức lao động quyết định mức trầnxu hướng vận động cơ bản của tiền công. Tiền công phải đủ lớn để người
lao động có thể tái sản xuất sức lao động một cách bình thường. Tuy nhiên, trên thực tế, tiền công lại chịu sự chi phối của quy
luật cung cầu và cạnh tranh trên thị trường lao động. Tiền công thường có xu hướng vận động xung quanh giá trị sức lao động, có
thể cao hơn hoặc thấp hơn: ●
Tiền công tối thiểu: Phải đảm bảo đủ chi phí sinh hoạt thiết yếu để người lao động duy trì sự sống. ●
Tiền công thực tế: Thường được quyết định bởi quan hệ cung – cầu sức lao động, trình độ tay nghề, và sức mạnh đấu
tranh của công nhân. Nhà tư bản luôn tìm cách giảm tiền công xuống mức thấp nhất có thể để tối đa hóa giá trị thặng dư.
- Liên hệ với vấn đề tiền công trong các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hiện nay:
Trong các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam, vấn đề tiền công thể hiện rõ những đặc điểm của quan hệ lao động trong xã hội tư bản, bao gồm: 1.
Chênh lệch giữa giá trị sức lao động và tiền công: Ở nhiều doanh nghiệp tư nhân, mức lương người lao động nhận được
thường không phản ánh đầy đủ giá trị sức lao động của họ. Đặc biệt trong các ngành sử dụng nhiều lao động như sản
xuất công nghiệp, may mặc, hay xây dựng, người lao động thường phải làm việc với cường độ cao, giờ làm việc kéo
dài nhưng tiền công nhận được không tương xứng với mức độ đóng góp. Đây là một hiện tượng phổ biến ở các doanh
nghiệp thuê mướn lao động giá rẻ. 2.
Tăng cường khai thác sức lao động: Để tối đa hóa lợi nhuận, nhiều doanh nghiệp tư nhân áp dụng các biện pháp nhằm
tăng cường khai thác sức lao động như ép công nhân làm thêm giờ, hoặc không đảm bảo các quyền lợi cơ bản như bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Điều này dẫn đến việc người lao động không được bảo vệ đầy đủ, dễ gặp rủi ro về sức khỏe và kinh tế. 3.
Tranh chấp lao động và điều chỉnh chính sách: Vấn đề tiền công thấp thường dẫn đến tranh chấp lao động, đình công,
nhất là khi lạm phát gia tăng hoặc điều kiện làm việc không đảm bảo. Nhà nước Việt Nam đã và đang cố gắng đưa ra
các chính sách về lương tối thiểu để bảo vệ quyền lợi người lao động, tuy nhiên, các biện pháp này vẫn còn nhiều hạn
chế trong việc đảm bảo mức sống cho người lao động, nhất là ở các vùng có mức sống cao như TP. Hồ Chí Minh hay Hà Nội. 4.
Khoảng cách thu nhập giữa lao động và quản lý: Trong các doanh nghiệp tư nhân, sự chênh lệch thu nhập giữa các cấp
quản lý và người lao động thường rất lớn. Điều này không chỉ phản ánh rõ sự bất công trong phân phối giá trị mà còn
có thể gây ra tình trạng bất mãn và giảm động lực làm việc của người lao động. 5.
Vai trò của pháp luật: Nhà nước Việt Nam có quy định về mức lương tối thiểu, bảo hiểm xã hội và các chế độ phúc lợi
khác để bảo vệ quyền lợi của người lao động. Tuy nhiên, việc thực thi pháp luật vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt ở các
doanh nghiệp nhỏ và vừa.
=> Giải pháp: Cần thường xuyên điều chỉnh mức lương tối thiểu cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và đảm bảo cuộc
sống cho người lao động. Cần tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật lao động, xử lý nghiêm các hành vi vi
phạm. Đầu tư vào đào tạo nghề, nâng cao năng lực cạnh tranh của người lao động để họ có thể đòi hỏi mức lương cao hơn. Tăng
cường vai trò của công đoàn và các tổ chức đại diện khác để bảo vệ quyền lợi của người lao động trong quá trình đàm phán tiền lương.
5. Tuần hoàn và chu chuyển của tư bản: khái niệm, các giai đoạn của tuần hoàn tư bản; các yếu tố tạo nên thời gian chu
chuyển của tư bản ý nghĩa thực tiễn trong việc tăng hiệu quả hoạt động của tư bản.

Khái niệm: SGK/ 54,55 gt hanu 2025
Các giai đoạn của tuần hoàn tư bản:
Giai đoạn thứ nhất - giai đoạn lưu thông: Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường các yếu tố sản xuất để mua tư liệu sản
xuất và sức lao động. Quá trình lưu thông đó được biểu thị như sau:
Giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản tiền tệ, chức năng giai đoạn này là mua các yếu tố cho quá trình sản
xuất, tức là biến tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất.
Giai đoạn thứ hai - giai đoạn sản xuất:
Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản sản xuất (TBSX), có chức năng thực hiện sự kết hợp hai yếu tố
tư liệu sản xuất và sức lao động để sản xuất ra hàng hóa là trong giá trị của nó có giá trị thặng dư. Trong các giai đoạn
tuần hoàn của tư bản thì giai đoạn sản xuất có ý nghĩa quyết định nhất, vì nó gắn trực tiếp với mục đích của nền sản
xuất tư bản chủ nghĩa. Kết thúc của giai đoạn thứ hai là tư bản sản xuất chuyển hóa thành tư bản hàng hóa.
Giai đoạn thứ ba - giai đoạn lưu thông: H' - T'
Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản hàng hóa, chức năng là thực hiện giá trị của khối lượng hàng
hóa đã sản xuất ra trong đó đã bao hàm một lượng giá trị thặng dư. Trong giai đoạn này, nhà tư bản trở lại thị
trường với tư cách là người bán hàng. Hàng hóa của nhà tư bản được chuyển hóa thành tiền. Kết thúc giai đoạn thứ ba,
tư bản hàng hóa chuyển hóa thành tư bản tiền tệ. Đến đây, mục đích của nhà tư bản đã được thực hiện, tư bản quay trở
lại hình thái ban đầu trong tay chủ của nó nhưng với số lượng lớn hơn trước.
Các yếu tố tạo nên thời gian chu chuyển của tư bản:
Ở đây nói ngắn gọn thì có hai yếu tố chính tạo nên thời gian chu chuyển là thời gian sản xuất và thời gian lưu thông thông qua
công thức: Thời gian chu chuyển = Thời gian sản xuất + Thời gian lưu thông -
Thời gian sản xuất là khoảng thời gian cần thiết để chuyển đổi nguyên liệu và tài nguyên thành sản phẩm hoàn chỉnh.
Nó bao gồm tất cả các giai đoạn từ khi bắt đầu quy trình sản xuất cho đến khi sản phẩm được hoàn thiện và sẵn sàng để tiêu thụ. -
Thời gian lưu thông là khoảng thời gian mà hàng hóa cần để di chuyển từ giai đoạn sản xuất đến khi đến tay người tiêu
dùng hoặc điểm tiêu thụ. Thời gian này bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến việc vận chuyển, phân phối và tiêu thụ hàng hóa.
[Ngoài ra, còn có hai yếu tố tác động đến thời gian chu chuyển (phần này trả lời đan xen nếu có thi vào): Chu kỳ sản xuất: Các
chu kỳ sản xuất khác nhau (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn) ảnh hưởng đến tốc độ chu chuyển tư bản. Chu kỳ dài có thể kéo dài thời
gian thu hồi vốn. Yếu tố thị trường: Sự biến động của thị trường, nhu cầu và cung cầu hàng hóa cũng có thể ảnh hưởng đến thời
gian chu chuyển tư bản. Nếu thị trường biến động mạnh, chu chuyển có thể bị chậm lại.]
Ý nghĩa thực tiễn trong việc tăng hiệu quả hoạt động của tư bản
Tăng hiệu quả hoạt động của tư bản mang lại nhiều ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Trước hết, việc tối ưu hóa quy trình sản xuất
giúp giảm thời gian và chi phí, từ đó nâng cao năng suất lao động và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Điều này cũng tạo ra khả
năng cạnh tranh mạnh mẽ hơn trên thị trường, cho phép doanh nghiệp cung cấp sản phẩm chất lượng cao với giá cả hợp lý. Bên
cạnh đó, đầu tư vào công nghệ hiện đại và đổi mới quy trình sản xuất không chỉ cải thiện hiệu quả mà còn nâng cao chất lượng
sản phẩm, tăng sự hài lòng của khách hàng và xây dựng thương hiệu vững mạnh. Quản lý nguồn lực hiệu quả giúp giảm lãng phí
và tối đa hóa lợi nhuận, đồng thời góp phần vào phát triển bền vững khi doanh nghiệp có thể sử dụng tài nguyên hợp lý và giảm
thiểu tác động đến môi trường. Doanh nghiệp hoạt động hiệu quả còn có khả năng thích ứng tốt với biến động của thị trường, duy
trì vị thế cạnh tranh lâu dài, và cải thiện đời sống người lao động thông qua việc trả lương cao hơn và tạo ra môi trường làm việc
tích cực. Tóm lại, việc tăng hiệu quả hoạt động của tư bản không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn góp phần vào sự
phát triển toàn diện của nền kinh tế và xã hội.
6. Phân tích quá trình sản xuất giá trị thặng dư trong xã hội tư bản chủ nghĩa (khái niệm, nguồn gốc, bản chất) và đưa ra
các ví dụ phân tích. Nêu ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu vấn đề/ Từ nguồn gốc, bản chất của GTTD →
hiểu được quan điểm của C. Mác khi giải thích về nguồn gốc của cải trong xã hội tư bản.

- Khái niệm giá trị thặng dư/ 52.
- Khái niệm quá trình SX GTTD (SGK/51)
- Nguồn gốc của giá trị thặng dư: sgk/51. Ta có thể hiểu rằng: Để sản xuất, nhà tư bản đã mua hàng hóa sức lao động và tư liệu
sản xuất, người công nhân(người được mua sức lao động) sẽ làm việc và tạo ra sản phẩm cho nhà tư bản. Bằng lao động cụ thể
của mình, công nhân sử dụng tư liệu sản xuất để bảo tồn và chuyển nguyên vẹn vào giá trị vào sản phẩm( tư bản bất biến); bằng
lao động trừu tượng, công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động( tư bản khả biến), phần lớn hơn đó là giá trị thặng dư
- Bản chất của giá trị thặng dư: Giá trị thặng dư là kết quả của sự hao phí sức lao động. Mục đích của nhà tư bản là giá trị thặng
dư, người lao động làm thuê phải bán sức lao động cho nhà tư bản. Trong điều kiện ngày nay, quan hệ đó vẫn diễn ra nhưng với
trình độ và mức độ rất khác Nhà tư bản bóc lột sức lao động của công nhân để tạo nhiều thặng dư cho bản thân. Bóc lột càng
nhiều thì giá trị thặng dư càng cao. Vì vậy người giàu thì vẫn giàu, người nghèo thì vẫn nghèo.
- Ví dụ phân tích/ 51
- Ý nghĩa lý luận và thực tiễn:
+ Ý nghĩa lý luận:Việc nghiên cứu GTTD có ý nghĩa quan trọng trong lý luận kinh tế chính trị học của Marx: Làm rõ bản chất
bóc lột trong xã hội tư bản: GTTD cho thấy sự bất công trong việc phân phối giá trị lao động. Nhà tư bản chỉ trả công cho người
lao động phần giá trị thấp hơn nhiều so với giá trị họ thực sự tạo ra.Giải thích sự tích luỹ tư bản: GTTD là nguồn gốc của quá
trình tích luỹ tư bản. Nhờ GTTD, nhà tư bản có thể gia tăng vốn và mở rộng sản xuất, qua đó củng cố vị thế của mình trong nền
kinh tế. Lý giải nguồn gốc của cải trong xã hội tư bản: Marx đã chỉ ra rằng của cải trong xã hội tư bản không đến từ việc sản xuất
của cải tự nhiên hay trao đổi hàng hóa một cách bình đẳng, mà đến từ sự bóc lột sức lao động của người công nhân.
+ Ý nghĩa thực tiễn: Cải thiện điều kiện lao động và tiền lương: Hiểu về GTTD giúp các chính sách về lao động và lương bổng
trở nên công bằng hơn. Việc công nhận sự đóng góp của người lao động và chia sẻ hợp lý giá trị thặng dư sẽ giúp tạo ra môi
trường làm việc tốt hơn, thúc đẩy sản xuất và nâng cao đời sống công nhân. Thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh: Trong nền kinh tế
thị trường hiện đại, việc nghiên cứu GTTD giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là trong các nước đang phát triển, hiểu rõ về tầm
quan trọng của việc đảm bảo công bằng trong phân phối lợi nhuận. Điều này có thể giúp ngăn chặn sự bóc lột lao động và thúc
đẩy một môi trường kinh doanh bền vững hơn.
- Từ nguồn gốc, bản chất của GTTD → Quan điểm của C. Mác: Marx đã chỉ rõ rằng nguồn gốc của của cải trong xã hội tư bản
chủ nghĩa không đến từ việc trao đổi hàng hóa, mà từ quá trình sản xuất GTTD. Trong đó, sự bóc lột sức lao động của công nhân
là nền tảng cho việc tích luỹ của cải. Nhà tư bản không tạo ra của cải bằng lao động của chính họ, mà nhờ vào việc mua sức lao
động và khai thác phần lao động thặng dư. Marx phê phán mạnh mẽ sự bất công này, và cho rằng quá trình này chỉ làm giàu cho
nhà tư bản, trong khi người lao động bị thiệt thòi.
7. Phân biệt các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư?
Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này trong hoạt động kinh tế hiện nay?
Tìm hiểu về phương pháp, thủ đoạn khai thác sức lao động làm thuê nhằm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
------------------------------------------------------------------------------------- - Phân biệt: Ví dụ minh hoạ:
​+ Giá trị thặng dư tuyệt đối : SGK/ 60
+ Giá trị thặng dư tương đối : SGK/ 60,61 -
Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này trong hoạt động kinh tế hiện nay: Việc nghiên cứu 2 phương pháp nói trên,
khi gạt bỏ mục đích và tính chất của chủ nghĩa tư bản thì các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, nhất là phương pháp
sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch có thể vận dụng trongcác doanh nghiệp ở nước ta nhằm
kích thích sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kỹ thuật mới, cải tiến tổ chức quản lý, tiết kiệm chi phí sản
xuất. Đối với quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân của nước ta, việc nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư gợi mở cho
các nhà hoạch định chính sách phương thức làm tăng của cải, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong điều kiện điểm xuất
phát của nước ta còn thấp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cần tận dụng triệt để các nguồn lực, nhất là lao động và sản
xuất kinh doanh. Về cơ bản lâu dài, cần phải coi trọng việc tăng năng suất lao động xã hội, coi đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là giải pháp cơ bản để tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. -
Tìm hiểu về phương pháp, thủ đoạn khai thác sức lao động làm thuê nhằm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
+ Tăng giờ làm việc: Nhiều doanh nghiệp yêu cầu người lao động làm thêm giờ để tăng sản lượng mà không tăng tương ứng chi
phí. Thậm chí, họ có thể không trả thêm tiền cho giờ làm thêm hoặc chỉ trả ở mức thấp hơn. Việc này không chỉ gia tăng lợi
nhuận mà còn có thể dẫn đến sự kiệt sức và giảm năng suất của lao động trong dài hạn.
+ Đơn giá sản phẩm thấp: Doanh nghiệp có thể giảm đơn giá sản phẩm để cắt giảm chi phí sản xuất. Điều này đồng nghĩa với
việc họ có thể trả mức lương thấp hơn cho người lao động mà vẫn đạt được sản lượng cao. Tuy nhiên, việc này có thể ảnh hưởng
tiêu cực đến đời sống và tinh thần của nhân viên.
+ Kích thích sản xuất: Các doanh nghiệp thường áp dụng các chương trình thưởng theo hiệu suất để khuyến khích người lao
động làm việc nhiều hơn. Mặc dù điều này có thể tạo ra động lực tạm thời, nhưng nó cũng có thể dẫn đến áp lực cao, khiến nhân
viên không thể duy trì hiệu suất trong thời gian dài mà không được điều chỉnh lương cơ bản.
+ Giảm quyền lợi và phúc lợi: Việc cắt giảm quyền lợi như bảo hiểm, nghỉ phép có lương và các phúc lợi khác là một phương
pháp phổ biến để giảm chi phí cho doanh nghiệp. Khi quyền lợi của người lao động bị giảm, doanh nghiệp có thể giữ lại một
phần lợi nhuận, nhưng điều này cũng có thể tạo ra sự bất mãn và giảm động lực làm việc của nhân viên.
+ Hợp đồng lao động tạm thời: Sử dụng lao động theo hình thức hợp đồng ngắn hạn hoặc tạm thời giúp doanh nghiệp tránh
được trách nhiệm về phúc lợi lâu dài. Mặc dù điều này giảm áp lực tài chính cho doanh nghiệp, nhưng cũng có thể khiến người
lao động cảm thấy không an toàn về công việc và thiếu động lực cống hiến.
+ Đào tạo và phát triển hạn chế: Nhiều doanh nghiệp hạn chế đầu tư vào đào tạo và phát triển kỹ năng cho người lao động
nhằm tiết kiệm chi phí. Điều này không chỉ làm giảm năng suất lao động mà còn khiến nhân viên khó khăn trong việc nâng cao
kỹ năng và thăng tiến trong công việc, dẫn đến sự chán nản.
+ Thay đổi công việc liên tục: Doanh nghiệp có thể thay đổi công việc hoặc giao nhiệm vụ khác nhau cho cùng một lao động mà
không tăng lương hoặc hỗ trợ tương ứng. Việc này nhằm duy trì áp lực và khai thác sức lao động hiệu quả hơn, nhưng có thể
khiến nhân viên cảm thấy không ổn định và mất động lực.
+ Giảm giá trị lao động: Doanh nghiệp có thể thiết lập mức lương thấp hơn so với thị trường và sử dụng lý do như tình hình
kinh tế khó khăn để biện minh cho việc này. Khi giá trị lao động bị giảm, người lao động có thể cảm thấy bị lợi dụng và thiếu
động lực để làm việc hiệu quả.
8. Hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy của tư bản, từ đó tìm hiểu
Mục đích và ý nghĩa của việc tích luỹ tư bản?
Các biện pháp làm tăng quy mô của tích luỹ như: khai thác lực lượng lao động xã hội, tăng năng suất lao động,
sử dụng triệt để năng lực của máy móc, thiết bị và tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu…
Ở Việt Nam hiện nay có những thuận lợi và khó khăn gì trong việc tích luỹ vốn đầu tư. -
Nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản: SGK/ 63,64 -
Mục đích của tích lũy tư bản là tạo ra lợi nhuận tối đa từ các hoạt động kinh doanh. -
Ý nghĩa: (phần hệ quả SGK/ 64,65) - Giải pháp:
+ Khai thác lực lượng lao động xã hội: Tăng cường tuyển dụng và sử dụng lực lượng lao động hiện có bằng cách cải
thiện điều kiện làm việc, đào tạo và phát triển kỹ năng cho nhân viên. Việc này không chỉ gia tăng số lượng lao động mà còn
nâng cao chất lượng công việc, từ đó tăng sản lượng và lợi nhuận.
+ Tăng năng suất lao động: Áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại, như quản lý sản xuất tinh gọn (lean production)
và cải tiến quy trình làm việc, giúp tối ưu hóa thời gian và công sức của người lao động. Điều này có thể đạt được thông qua
việc áp dụng công nghệ tự động hóa, từ đó tăng cường hiệu suất làm việc mà không cần tăng thêm số lượng lao động.
+ Sử dụng triệt để năng lực của máy móc, thiết bị: Tối ưu hóa quy trình sản xuất bằng cách sử dụng tối đa năng lực của
máy móc và thiết bị hiện có. Việc bảo trì thường xuyên và nâng cấp công nghệ giúp giảm thời gian chết và tăng cường hiệu suất sản xuất.
+ Tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu: Đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng, công nghệ và thiết bị hiện đại để tạo ra một
nền tảng vững chắc cho sản xuất. Việc này không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn tạo ra khả năng mở rộng quy mô sản xuất trong tương lai.
+ Nâng cao chất lượng sản phẩm: Cải thiện chất lượng sản phẩm để thu hút khách hàng và tăng doanh thu. Việc này có
thể giúp doanh nghiệp tăng giá bán sản phẩm, từ đó gia tăng lợi nhuận và tích lũy thêm vốn.
+ Mở rộng thị trường tiêu thụ: Tìm kiếm và thâm nhập vào các thị trường mới, cả trong và ngoài nước, để gia tăng
doanh thu. Việc mở rộng thị trường giúp doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm với quy mô lớn hơn, từ đó tăng tích lũy. -
Liên hệ thuận lợi và khó khăn:
+ Thuận lợi: Việt Nam đã duy trì được mức tăng trưởng kinh tế ổn định trong những năm qua, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc huy động vốn. Chính phủ cũng đã triển khai nhiều chính sách khuyến khích đầu tư, bao gồm các ưu đãi thuế cho các dự
án trong và ngoài nước, giúp thu hút thêm nguồn lực. Hệ thống cơ sở hạ tầng đang dần được cải thiện, từ giao thông đến
điện và thông tin liên lạc, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài ra, Việt Nam có một lực lượng lao
động trẻ, dồi dào và đang được đào tạo, giúp tiết kiệm chi phí và tăng hiệu quả sản xuất. Việc hội nhập kinh tế quốc tế thông
qua nhiều hiệp định thương mại tự do cũng mở ra nhiều cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, chính phủ đang nỗ
lực cải thiện môi trường đầu tư bằng cách giảm thiểu thủ tục hành chính và nâng cao tính minh bạch, từ đó tăng niềm tin của
nhà đầu tư. Cuối cùng, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và đổi mới sáng tạo đã tạo ra nhiều cơ hội trong các lĩnh vực
như công nghệ thông tin và sản xuất
+ Khó khăn: Thực tế cho thấy tiềm năng trong dân còn rất lớn nhưng tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư còn thấp, nhiều hộ gia đình và
không ít những doanh nghiệp còn đầu tư chưa có hiệu quả, nguồn vốn vẫn không luân chuyển được từ nơi thừa đến nơi
thiếu. Đầu tư của Nhà nước tuy đã tăng lên nhưng còn dàn trải, còn lãng phí, thị trường tiền tệ, thị trường vốn còn chậm phát
triển, lãi suất tín dụng chưa phù hợp với việc đẩy mạnh quá trình tích tụ và tập trung vốn, vì thế còn hạn chế đầu tư phát
triển. Các hình thức tích tụ và tập trung vốn chưa tạo ra sức hấp dẫn với người có vốn và hệ số sử dụng vốn trong nền kinh
tế còn thấp. Việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư còn phân tán, không tập trung tối đa vốn tiền mặt cũng như nhân tài vật lực
để giải quyết với tốc độ nhanh cáccông trình thiết yếu mang tính chất “xương sống” của nền kinh tế, vẫn còn nhiều lãng phí và kém hiệu quả.
9. Tìm hiểu về hệ quả của tích lũy TB?
Note: Hệ quả lớn nhất là nạn thất nghiệp – bần cùng hoá tương đối và tuyệt đối giai cấp công nhân. -
Thứ nhất, tích lũy tư bản làm tăng cấu tạo hữu cơ tư bản.
+ Cấu tạo hữu cơ của tư bản (ký hiệu c/v) là cấu tạo giá trị được quyết định bởi cấu tạo kỹ thuật và phản ánh sự biển đổi của cấu
tạo kỹ thuật của tư bản. C.Mác cho rằng, nền sản xuất có thể được quan sát qua hình thái hiện vật cũng có thể quan sát qua hình
thái giá trị. Nếu quan sát qua hình thái hiện vật thì mối quan hệ tỷ lệ giữa số lượng tư liệu sản xuất và số lượng sức lao động được
coi là cấu tạo kỹ thuật. VD: 1 máy dệt/công nhân
+ Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học kỹ thuật, cấu tạo kỹ thuật của tư bản có xu hướng ngày càng
tăng lên. Tự động hóa sự xuất hiện Cấu tạo kỹ thuật: 2 máy dệt/công nhân: Cấu tạo kỹ thuật này, nếu quan sát qua hình thái giá
trị phản ánh ở mối quan hệ tỷ lệ giữa tư bản bất biến với tư bản khả biến. Tỷ lệ giá trị này được gọi là cấu tạo hữu cơ. Cấu tạo
hữu cơ luôn có xu hướng tăng do cấu tạo kỹ thuật cũng vận động theo xu hướng tăng lên về lượng
VD: Tư bản bất biến: c=80 000$; Tư bản khả biến: v= 20 000$; 1 máy dệt/công nhân Cấu tạo giá trị: c/v=80 000/20 000=4/1
Nếu: 2 máy dệt/công nhân Cấu tạo giá trị: c/v=160 000/20 000=8/1
=> Điều đó có nghĩa là cùng với sự gia tăng của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, sẽ có một bộ phận người lao động bị thất nghiệp do máy móc thay thế. -
Thứ hai, tích luỹ tư bản làm tăng tích tụ và tập trung tư bản: Trong quá trình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa, quy mô của
tư bản cá biệt tăng lên thông qua quá trình tích tụ và tập trung tư bản.
+ Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách tư bản hóa giá trị thặng dư. Tích tụ tư bản làm tăng quy mô
tư bản cá biệt đồng thời làm tăng quy mô tư bản xã hội do giá trị thặng dư được biến thành tư bản phụ thêm. Tích tụ tư bản là kết
quả trực tiếp của tích luỹ tư bản
VD : Năm thứ nhất, tư bản ứng trước 100.000$ vào đầu tư ; năm thứ hai, tư bản thu được giá trị thặng dư và tiếp tục dùng
10.000$ để tái sản xuất. Tư bản đầu tư tăng lên 110,000$; Năm thứ ba, tư bản đầu tư tăng lên 120.000$. Tương tự như vậy, dần
dần tư bản cá biệt không ngừng lớn lên. Đó là quá trình tích tụ của tư bản
+ Tập trung tự bản là sự tăng lên của quy mô tư bản cả biệt mà không làm tăng quy mô tư bản xã hội do hợp nhất các tư bản cá
biệt vào một chỉnh thể tạo thành một tư bản cá biệt lớn hơn.Tập trung tư bản có thể được thực hiện thông qua sáp nhập các tư bản cá biệt với nhau
VD: Tư bản cá biệt A có thư hàn đầu tư 100 000$; Tư bản cá biệt B có tư bản đầu tư 200 000$; Tư bản cá biệt C có tư bản đầu tư
300 000$ Sự tập trung tư bản diễn ra, khi hợp nhất 3 tư bản cá biệt thành tư bản D có quy mô lớn hơn bằng 600 000$ -
Thứ ba, quá trình tích luỹ tư bản không ngừng làm tăng chênh lệch giữa thu nhập của nhà tư bản với thu nhập của
người lao động làm thuê cả tuyệt đối lẫn tương đối.
+ Quá trình tích luỹ tư bản có tính hai mặt, một mặt thể hiện sự tích luỹ sự giàu sang về phía giai cấp tư sản, và mặt khác tích lũy
sự bần cùng về phía giai cấp công nhân làm thuê. Bần cùng hóa giai cấp công nhân làm thuê biểu hiện dưới hai hình thái là bần
cùng hoá tương đối và bần cùng hóa tuyệt đối.
+ Bần cùng hóa tương đối là cũng với đà tăng trưởng lực lượng sản xuất, phần sản phẩm phân phối cho giai cấp công nhận làm
thuê tuy có tăng tuyệt đối, nhưng lại giảm tương đối so với phần dành cho giai cấp tư sản
VD: Sau chu kỳ sản xuất: Thu nhập của giai cấp tư bản tăng 5%; Thu nhập của công nhân có thể tăng chỉ 2% Mặc dù, có thể thu
nhập của giai cấp công nhân tăng tuyệt đối nhưng tăng chậm hơn nhiều so với thu nhập giai cấp tư sản Khoảng cách chênh lệch
giàu nghèo ngày càng gia tăng
+ Bần cùng hóa tuyệt đối thể hiện sự sụt giảm tuyệt đối về mức sống của giai cấp công nhân làm thuê. Bần cùng hóa tuyệt đối
thường xuất hiện đối với bộ phận giai cấp công nhân làm thuê đang thất nghiệp và đối với toàn bộ giai cấp công nhân làm thuê
trong các điều kiện kinh tế khó khăn, đặc biệt trong khủng hoảng kinh tế.
VD: Thu nhập của người công nhân không tăng; Tiền sinh hoạt trước đây 500$ có thể tiêu dùng cho gia đình trong 1 tháng
Nhưng khi tiền mất giá, thì 500$ không thể tiêu dùng được trong 1 tháng như trước nữa.
10. Lý luận về địa tô của C. Mác, có ý nghĩa gì đối với quá trình quản lý, sử dụng đất đai ở Việt Nam hiện nay? -
Lý luận về địa tô của Các-Mác:
+ Khái niệm và bản chất của địa tô:Kn, nguồn gốc/ 72
Trong chủ nghĩa tư bản, người thực sự canh tác ruộng đất không phải là chủ tư bản mà là những người lao động làm thuê. Nhà tư
bản thuê đất của địa chủ để kinh doanh, coi nông nghiệp là một lĩnh vực đầu tư kinh doanh. Số tiền mà nhà tư bản trả cho người
sở hữu ruộng đất theo hợp đồng để được sử dụng đất trong một thời gian nhất định là địa tô tư bản chủ nghĩa. Nó phản ánh quan
hệ ba giai cấp, tức là phản ánh quan hệ giữa địa chủ và tư bản kinh doanh nông nghiệp trong việc chia nhau giá trị thặng dư do
công nhân nông nghiệp tạo ra và quan hệ giữa địa chủ với lao động làm thuê trong nông nghiệp. Như vậy, địa tô gắn liền với
quyền sở hữu ruộng đất. Nhà tư bản muốn kéo dài thời gian sử dụng đất để thu lợi nhuận nhiều hơn. Tuy nhiên chủ đất luôn tìm
cách khống chế nhà tư bản bằng cách tăng khoản địa tô hoặc rút ngắn thời gian sử dụng đất. Tóm lại, địa tô tư bản chủ nghĩa là
một phần giá trị thặng dư, là phần lợi nhuận siêu ngạch, còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân của nhà tư bản kinh doanh ruộng đất. -
Các hình thức địa tô tư bản:
+ Địa tô chênh lệch: Địa tô chênh lệch là lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân được hình thành trên những
ruộng đất có điều kiện kinh doanh trung bình và thuận lợi (độ màu mỡ của đất đai tốt hơn, vị trí gần thị trường, gần đường hơn,
hoặc ruộng đất để đầu tư để thâm canh). Địa tô chênh lệch = Giá cả sản xuất chung – Giá cả sản xuất cá biệt. Thực chất của địa tô
chênh lệch là lợi nhuận siêu ngạch. Để cho một phần lợi nhuận có thể chuyển hóa thành địa tô, tức là một phần trong giá cả hàng
hóa lại có thể rơi vào tay địa chủ, cần phải xuất hiện lợi nhuận siêu ngạch bằng số chênh lệch giữa giá cả sản xuất cá biệt của
những người sản xuất có những điều kiện thuận lợi hơn với giá cả sản xuất chung. Địa tô chênh lệch gắn với chế độ độc quyền
kinh doanh ruộng đất theo lối tư bản chủ nghĩa. Có 2 loại địa tô chênh lệch: Địa tô chênh lệch (I): là địa tô chênh lệch thu được
trên những ruộng đất có độ màu mỡ tự nhiên thuộc loại trung bình và tốt, có vị trí gần thị trường hoặc gần đường giao thông. Địa
tô chênh lệch (II)
: là địa tô chênh lệch thu được do thâm canh mà có. Thâm canh là việc đầu tư thêm tư bản vào một đơn vị diện
tích ruộng đất để nâng cao chất lượng canh tác của đất, nhằm tăng độ màu mỡ trên thửa ruộng đó, nâng cao sản lượng trên một đơn vị diện tích.
+ Địa tô tuyệt đối: Địa tô tuyệt đối là loại địa tô mà tất cả các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp đều phải nộp cho địa chủ, cho
dù ruộng đất là tốt hay xấu. Đây là loại địa tô thu trên mọi thứ đất. Địa tô tuyệt đối do độc quyền tư hữu ruộng đất. Địa tô tuyệt
đối được hình thành do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp luôn thấp hơn cấu tạo hữu cơ của tư bản trong công nghiệp,
do đó giá trị thị trường của nông sản cao hơn giá cả sản xuất của nó. Ngoài những loại địa tô trên thì còn có các loại địa tô khác
như: địa tô về cây đặc sản, địa tô về hầm mỏ, địa tô về các bãi cá, địa tô về đất rừng, thiên nhiên,…C.Mác đã khẳng định: “Giá cả
ruộng đất chẳng qua chỉ là địa tô tư bản hóa” và vạch rõ giá cả ruộng đất là do các quan hệ sản xuất của phương thức sản xuất tư
bản sinh ra. C.Mác đã chỉ ra công thức tính giá cả ruộng đất: Giá cả ruộng đất = địa tô/Tỷ suất lợi tức nhận gửi của ngân hàng
Ý nghĩa của lý luận địa tô của Các Mác trong quá trình quản lý, sử dụng đất đai ở Việt Nam: Lý luận địa tô tư bản chủ
nghĩa của C.Mác không những chỉ rõ bản chất quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp mà còn là cơ sở khoa học để
Đảng, Nhà nước ta ban hành Luật đất đai, xây dựng các chính sách kinh tế liên quan đến thuế, đến điều tiết địa tô… nhằm kết
hợp hài hòa các lợi ích, khuyến khích thâm canh, sử dụng đất đai tiết kiệm. Nghiên cứu về các hình thức địa tô của C.Mác, nhất
là địa tô chênh lệch là cơ sở lý luận để Đảng, Nhà nước ban hành chính sách giá đất đối với kinh doanh, dịch vụ; với xây dựng
kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh. Là cơ sở để giao khoán ruộng đất lâu dài cho các hộ nông dân, khuyến
khích họ đầu tư thâm canh, phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa bền vững. Đồng thời, nghiên cứu lý luận địa tô tư bản chủ
nghĩa của C.Mác cung cấp cơ sở khoa học để nhận thức chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là sự thống nhất và là sự tách rời tương
đối quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai thể hiện ở Luật đất đai. Hiện nay địa tô vẫn còn tồn tại nhưng về bản chất thì hoàn
toàn khác so với địa tô phong kiến và địa tô tư bản chủ nghĩa. Nếu như trong xã hội phong kiến và tư bản chủ nghĩa, người sử
dụng đất phải nộp tô cho địa chủ thì ngày nay tô hay còn nói các khác là thuế đất, thuế nhà, tiền thuê đất đều được nộp vào ngân
sách nhà nước.Nguồn ngân sách đó lại được dung vào những công việc nhằm xây dựng đấy nước. Nếu đối với đất ở thì người
dân chỉ phải nộp một khoản tiền thuê đất rất nhỏ so với thu nhập của họ. Còn đối với đất để làm nông nghiệp thì người dân phải
nộp thuế nhưng họ có thể tự do kinh doanh trên đất của mình sao cho thu được lợi nhuận cao nhất. Chẳng hạn như có vùng trồng
lúa, có vùng lại trồng đay và có vùng lại trồng cà phê, điều, bông,... Sự khác biệt lớn nhất của việc quản lý đất đai và thu thuế bây
giờ so với giai đoạn tư bản chủ nghĩa là đất đai là của dân. Nhà nước trực tiếp quản lý và điều hành, nhà nước giao đất cho dân
làm nông nghiệp, thu thuế nhưng tạo mọi điều kiện cho người dân sản xuất. Tuy nhiên trong việc sử dụng lý luận địa tô của
C.Mác trong việc quản lý đất đai vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Chẳng hạn như nhà nước thu đất của nông dân với giá rất rẻ sau
đó quy hoạch xây dựng nhà ở và cho thuê với giá rất cao. Đây là vấn đề cần được kiến nghị lên cấp có thẩm quyền nhằm có sự
đền bù thỏa đáng cho dân.
11. Nhận định sau là đúng hay sai và giải thích: Thực chất nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp là từ mua rẻ và bán đắt.
- Về bản chất của lợi nhuận thương nghiệp thì nhận định trên là sai.
- Theo lý thuyết kinh tế Mác Lê-nin, lợi nhuận không chỉ đơn giản là từ mua rẻ bán đắt, mà còn từ việc khai thác giá trị thặng dư
của lao động. Ta cần hiểu rõ một vài khái niệm có liên quan đến lợi nhuận thương nghiệp. Cụ thể giá trị thặng dư là bộ phận giá
trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra, là kết quả của lao động không công của công nhân cho
nhà tư bản.
Và giá trị thặng dư là nguồn gốc thực sự của lợi nhuận. Thực chất, lợi nhuận thương nghiệp chính là một phần giá trị
thặng dư
mà nhà tư bản sản xuất đã trả cho nhà tư bản thương nghiệp do nhà tư bản thương nghiệp đã thực hiện thay việc tiêu thụ hàng hoá.
Ví dụ cụ thể: Một công ty A sản xuất áo thun và bán chúng trên thị trường. Để sản xuất một chiếc áo, công ty cần các nguyên
liệu như vải, chỉ và công lao động của công nhân. Chi phí sản xuất sẽ bao gồm tiền nguyên liệu 15k, công lao động 10k, chi phí
khác (điện, nước, máy móc,...) 5k. Tổng chi phí sản xuất là 30k. Cty A quyết định bán chiếc áo này cho thương nhân với giá 50k.
Sau đó các thương nhân bán ra ngoài thị trường với giá 60k.
Phân tích ví dụ trên
Giá trị thặng dư: Công nhân sản xuất chiếc áo thun này được trả 10k, nhưng giá trị do lao động của họ tạo ra vượt quá con số đó,
do công ty bán chiếc áo thun với giá sỉ là 50k/c. Phần chênh lệch giữa giá trị do lao động tạo ra và tiền lương thực nhận của công
nhân là giá trị thặng dư và phần chênh lệch giữa giá bán cho thương nhân và giá bán ra thị trường là lợi nhuận thương nghiệp (ở đây là 10k/c)
Vậy lợi nhuận thương nghiệp là kết quả của sự bóc lột giá trị thặng dư trong quá trình sản xuất mà tư bản công nghiệp phải
nhường cho tư bản thương nghiệp.
12. Phân tích nguồn gốc và bản chất của: lợi tức, lợi nhuận thương nghiệp, địa tô tư bản chủ nghĩa? Biểu hiện của các
phạm trù này trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
*kn: -
Lợi nhuận thương nghiệp/ 70 - Lợi tức/ 70 -
Địa tô tư bản chủ nghĩa/72
*Nguồn gốc và bản chất: - Lợi tức
+ Nguồn gốc: Lợi tức là một phần của giá trị thặng dư, xuất hiện khi nhà tư bản cho vay tiền (tư bản cho vay) để những nhà tư
bản khác đầu tư và sinh lợi. Lợi tức được trả từ lợi nhuận mà người vay kiếm được từ việc sử dụng vốn vay trong quá trình sản xuất.
+ Bản chất: Lợi tức là một phần của giá trị thặng dư được tạo ra bởi lao động của công nhân nhưng không được giữ lại bởi người
trực tiếp thuê lao động mà chuyển sang tay người sở hữu tư bản cho vay. Người cho vay không trực tiếp tham gia vào quá trình
sản xuất, nhưng họ vẫn nhận được lợi ích dưới dạng lợi tức do sự sở hữu tư bản của mình. -
Lợi nhuận thương nghiệp
+ Nguồn gốc: Lợi nhuận thương nghiệp xuất hiện khi các nhà tư bản thương mại (những người không sản xuất trực tiếp nhưng
tham gia vào việc lưu thông hàng hóa) mua hàng từ các nhà tư bản sản xuất và bán chúng ra thị trường với giá cao hơn.
+ Bản chất: Lợi nhuận thương nghiệp cũng là một phần của giá trị thặng dư do công nhân tạo ra trong quá trình sản xuất, nhưng
nó không trực tiếp xuất phát từ quá trình sản xuất mà từ sự chênh lệch giá cả trong quá trình lưu thông hàng hóa. Nhà tư bản
thương mại kiếm được lợi nhuận bằng cách mua hàng với giá thấp hơn và bán ra với giá cao hơn, nhưng bản chất của lợi nhuận
thương nghiệp vẫn là giá trị thặng dư từ lao động. -
Địa tô tư bản chủ nghĩa
+ Nguồn gốc: Địa tô tư bản chủ nghĩa xuất hiện khi nhà tư bản thuê đất để sản xuất (ví dụ: trong nông nghiệp) và trả tiền thuê đất
cho chủ đất. Chủ đất không tham gia trực tiếp vào sản xuất nhưng thu về một phần giá trị thặng dư dưới dạng địa tô.
+ Bản chất: Địa tô tư bản chủ nghĩa là một phần của giá trị thặng dư do lao động của người lao động tạo ra trên đất đai. Địa tô
phản ánh quyền sở hữu của chủ đất đối với một phần giá trị thặng dư, mà lẽ ra nhà tư bản sản xuất có thể giữ lại nếu không phải
thuê đất. Sự phân chia giá trị thặng dư giữa nhà tư bản sản xuất và chủ đất thể hiện quyền lực kinh tế của chủ đất trong hệ thống tư bản.
* Biểu hiện trong nền kinh tế thị trường Việt Nam: - Lợi tức:
+ Biểu hiện: Lợi tức trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay xuất hiện thông qua các hoạt động cho vay và tín dụng ngân hàng, các
khoản vay tiêu dùng, vay đầu tư, và các hoạt động tài chính khác. Các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng đóng vai trò
như nhà tư bản cho vay, thu lợi từ việc cho vay vốn với lãi suất nhất định.
+ Thực tế: Tỷ lệ lãi suất tại Việt Nam phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, cũng như tình hình cung cầu
vốn trong nền kinh tế. Các doanh nghiệp và cá nhân vay vốn để đầu tư, kinh doanh hoặc tiêu dùng đều phải trả lợi tức (lãi suất)
cho ngân hàng hoặc tổ chức tài chính, đây là biểu hiện rõ nét của lợi tức trong nền kinh tế thị trường hiện đại.
- Lợi nhuận thương nghiệp:
+ Biểu hiện: Lợi nhuận thương nghiệp xuất hiện thông qua các hoạt động mua bán và phân phối hàng hóa, dịch vụ trên thị
trường. Các công ty thương mại và nhà bán lẻ tại Việt Nam đóng vai trò là trung gian giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, và
kiếm lợi nhuận từ sự chênh lệch giá giữa giá mua vào và giá bán ra.
+ Thực tế: Với sự phát triển của thương mại điện tử, các sàn giao dịch trực tuyến (như Shopee, Lazada, Tiki) ngày càng phổ biến,
góp phần gia tăng lợi nhuận thương nghiệp. Các doanh nghiệp thương mại không trực tiếp sản xuất hàng hóa nhưng tạo ra giá trị
thông qua việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ tới người tiêu dùng với giá cả cao hơn so với giá nhập hàng từ nhà sản xuất.
- Địa tô tư bản chủ nghĩa
+ Biểu hiện: Địa tô tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay chủ yếu xuất hiện trong các ngành có liên quan đến đất đai như nông
nghiệp, bất động sản, và cho thuê đất. Các nhà đầu tư và doanh nghiệp phải trả tiền thuê đất cho chính quyền địa phương hoặc
các cá nhân/tổ chức sở hữu đất.
+ Thực tế: Trong lĩnh vực bất động sản, địa tô thể hiện qua việc các nhà đầu tư phát triển dự án (ví dụ: xây dựng nhà ở, khu công
nghiệp) phải thuê đất từ chính quyền hoặc chủ đất tư nhân. Địa tô tại Việt Nam cũng tăng lên do giá trị đất đai tăng mạnh, đặc
biệt ở các khu vực đô thị hóa và phát triển du lịch. Trong nông nghiệp, các hợp đồng thuê đất giữa nông dân và chủ đất cũng là
biểu hiện rõ nét của địa tô tư bản chủ nghĩa.
13. Phân biệt: Lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, lợi nhuận bình quân, tỷ suất lợi nhuận bình quân, giá cả sản xuất. (Tránh sự
nhầm lẫn giữa tỷ suất lợi nhuận và tỷ suất giá trị thặng dư.)

Lợi nhuận là số tiền còn lại sau khi trừ đi tất cả các chi phí từ doanh thu. Đây là khoản tiền mà doanh
nghiệp kiếm được sau khi đã thanh toán tất cả các chi phí hoạt động, bao gồm cả chi phí sản xuất, quản lý,
tiền lương, và các khoản khác.
(là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và chi phí sản xuất của một doanh nghiệp. Đây là phần giá trị thặng
dư mà nhà tư bản chiếm đoạt được sau khi bán hàng hóa.) ● Công thức: Lợi nhuận
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí sản xuất. (P=G-K)
Chi phí sản xuất ở đây bao gồm chi phí cho nguyên vật liệu, máy móc (tư bản bất biến) và tiền
lương lao động (tư bản khả biến).
Tỷ suất lợi nhuận là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và toàn bộ tư bản ứng trước
Tỷ suất lợi nhuận là chỉ số đo lường tỷ lệ lợi nhuận so với doanh thu tổng của doanh nghiệp. Nó cho biết
doanh nghiệp kiếm được bao nhiêu lợi nhuận từ mỗi đồng doanh thu. Tỷ suất lợi nhuận càng cao, chứng tỏ
doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả.
(là tỷ lệ giữa lợi nhuận thu được và tổng tư bản đầu tư, thể hiện khả năng sinh lời của tư bản.) ● Công thức:
Tỷ suất lợi nhuận = ( Lợi nhuận / Tổng tư bản đầu tư ) × 100%. o
Tổng tư bản đầu tư bao gồm cả tư bản bất biến (vốn cho máy móc, nguyên liệu) và tư bản khả Tỷ suất lợi nhuận
biến (vốn cho lao động).
Phân biệt với tỷ suất giá trị thặng dư:
Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ lợi nhuận so với tổng tư bản đầu tư (cả tư bản bất biến và tư bản khả biến).
Tỷ suất giá trị thặng dư chỉ so sánh giá trị thặng dư với tư bản khả biến (vốn trả cho lao động).
Nó đo mức độ bóc lột lao động nhưng không phản ánh toàn bộ tư bản đầu tư.
Tỷ suất giá trị thặng dư = ( Giá trị thặng dư / Tư bản khả biến ) × 100%.
Lợi nhuận bình quân là lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đạt được trong một khoảng thời gian cụ thể.
Để tính lợi nhuận bình quân, ta chia tổng lợi nhuận cho số lượng thời kỳ (tháng, quý, năm) tương ứng. Lợi nhuận
(là mức lợi nhuận trung bình mà các nhà tư bản nhận được khi tư bản dịch chuyển giữa các ngành để tìm bình quân
kiếm mức lợi nhuận cao nhất. Qua quá trình cạnh tranh, lợi nhuận được phân phối lại, và mức lợi nhuận bình quân sẽ xuất hiện.) ● Công thức:
Lợi nhuận bình quân = Tổng lợi nhuận của nền kinh tế / Tổng tư bản đầu tư.
Đây là tỷ suất lợi nhuận tính trung bình trong một khoảng thời gian. Nó được tính bằng cách chia lợi nhuận
bình quân cho số vốn đầu tư hoặc số vốn chủ sở hữu.
(là tỷ lệ lợi nhuận bình quân so với tổng tư bản đầu tư của nền kinh tế, phản ánh mức độ sinh lời chung của nền kinh tế.) Công thức: Tỷ suất lợi
Tỷ suất lợi nhuận bình quân = ( Lợi nhuận bình quân / Tổng tư bản đầu tư ) × 100%. nhuận bình
Đây là tỷ lệ sinh lời trung bình mà các nhà tư bản mong đợi, sau khi cạnh tranh và điều chỉnh lợi nhuận giữa quân các ngành.
Giá cả sản xuất là tổng chi phí để sản xuất một đơn vị sản phẩm hoặc dịch vụ. Nó bao gồm cả chi phí
nguyên vật liệu, lao động, máy móc, và các chi phí khác liên quan đến quá trình sản xuất. Chi phí sản
(là mức giá mà hàng hóa được bán trên thị trường, bao gồm chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận bình quân. xuất TBCN
Đây là mức giá sau khi lợi nhuận đã được điều chỉnh qua quá trình cạnh tranh giữa các ngành.) ● Công thức:
Giá cả sản xuất = Chi phí sản xuất + Lợi nhuận bình quân.
Giá cả sản xuất giúp đảm bảo các nhà tư bản trong các ngành khác nhau thu được mức lợi nhuận
bình quân, bất kể ngành đó có tỷ lệ giá trị thặng dư cao hay thấp.
Để tránh nhầm lẫn giữa tỷ suất lợi nhuận và tỷ suất giá trị thặng dư, hãy nhớ rằng tỷ suất lợi nhuận liên quan đến lợi nhuận so với
doanh thu, trong khi tỷ suất giá trị thặng dư liên quan đến chênh lệch giữa giá trị sản phẩm tạo ra và giá trị của các yếu tố sản
xuất (như nguyên vật liệu và lao động) - Liên hệ đến VN:
Trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, các quy luật về lợi nhuận vẫn chi phối mạnh mẽ hoạt động đầu tư và sản xuất, dù có sự
điều tiết của Nhà nước:
1. Tỷ suất lợi nhuận và Hấp dẫn Đầu tư
Tỷ suất lợi nhuận (P′) là yếu tố quyết định sự luân chuyển và phân bổ vốn trong xã hội: ●
Ngành có P′ cao thu hút vốn: Các ngành công nghệ, dịch vụ số, và tài chính thường có P′ cao hơn do có cấu tạo hữu
cơ của tư bản (tỷ lệ c/v) thấp và tốc độ chu chuyển nhanh. Ví dụ: Lĩnh vực Ngân hàng – Tài chính (thường duy trì P′
cao) và Bất động sản luôn là những ngành có lợi nhuận hấp dẫn nhất, thu hút lượng lớn vốn xã hội. ●
Ngành có P′ thấp dịch chuyển: Các ngành sản xuất truyền thống, thâm dụng lao động như dệt may, da giày, thường
có P′ thấp hơn và chịu áp lực cạnh tranh về giá, buộc phải chuyển hướng đầu tư vào tư bản bất biến (máy móc, công
nghệ) để tăng năng suất và duy trì tỷ suất lợi nhuận.
2. Sự hình thành Lợi nhuận bình quân (Pˉ) và Cạnh tranh
Mặc dù thị trường Việt Nam có sự can thiệp của Nhà nước, quy luật hình thành Lợi nhuận bình quân (Pˉ) vẫn hoạt động thông
qua sự dịch chuyển của vốn: ●
Sự dịch chuyển vốn: Khi một ngành kinh doanh bùng nổ (ví dụ: chuỗi cà phê, bán lẻ công nghệ), P′ ban đầu caosẽ
ngay lập tức thu hút các nhà đầu tư khác (tư bản tư nhân, start-up) tham gia, làm tăng cung và kéo P′ của ngành đó
giảm dần về mức P′ˉ chung của xã hội. ●
Giá cả sản xuất (GSX​): Trong nhiều ngành hàng hóa tiêu dùng cơ bản, giá cả sản xuất đóng vai trò là cơ sở để định
giá. Doanh nghiệp cần xác định GSX​ của mình (bao gồm chi phí và lợi nhuận hợp lý) để đảm bảo cạnh tranh và thu hút vốn đầu tư lâu dài.
Số liệu liên hệ (Ví dụ ước tính thực tế):
Theo các báo cáo tổng hợp (nửa đầu năm 2025), Tỷ suất lợi nhuận bình quân (P′ˉ) của các doanh nghiệp niêm yết
trên thị trường chứng khoán Việt Nam thường duy trì ở mức khoảng 10% - 15% (tùy thuộc vào phương pháp tính). ●
Các ngành có P′ cao hơn mức này (như Công nghệ, Dược phẩm) sẽ tiếp tục thu hút vốn mạnh mẽ, trong khi các ngành
có P′ thấp hơn (như Nông nghiệp, khai khoáng) sẽ đối mặt với thách thức rút vốn.
Việc phân tích các khái niệm lợi nhuận không chỉ giúp đánh giá hiệu quả kinh tế mà còn là cơ sở để Chính phủ điều tiết, khuyến
khích đầu tư vào các ngành then chốt thông qua các chính sách thuế và vốn ưu đãi.
14. Anh chị hãy: So sánh sự giống và khác nhau giữa giá trị thặng dư và lợi nhuận? Những khái niệm đó do ai nêu ra và
nêu ra nhằm mục đích gì? Liên hệ với việc sản xuất giá trị thặng dư trong các công ty tư nhân ở Việt Nam hiện nay.

----------------------------------------
* So sánh lợi nhuận và giá trị thặng dư - Giống nhau:
+ Về sản xuất: cả lợi nhuận (p) và giá trị thặng dư (m) đều liên quan đến quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ và có chung một
nguồn gốc là kết quả lao động không công của công nhân.
+ Về giá trị: Cả hai khái niệm này đều phản ánh giá trị mà các doanh nghiệp hoặc nhà sản xuất tạo ra từ hoạt động kinh doanh, buôn bán. - Khác nhau: + Định nghĩa:
Giá trị thặng dư: là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra, là kết quả của lao động không công
của công nhân cho nhà tư bản. (ký hiệu: m)
Lợi nhuận: là số tiền lời mà nhà tư bản thu được do có sự chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và chi phí tư bản. (ký hiệu: p)
+ Nguyên nhân hình thành:
GTTD: Do hao phí sức LĐ tạo ra
Lợi nhuận: Do chi phí mà nhà TB đã bỏ ra để SXHH
+ Về mặt lượng: Lợi nhuận và giá trị thặng dư thường không bằng nhau, lợi nhuận có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị thặng dư
tuỳ thuộc vào giá cả hàng hoá do quan hệ cung - cầu quy định. Nhưng xét trên phạm vi toàn xã hội, tổng số lợi nhuận luôn ngang
bằng tổng số giá trị thặng dư + Bản chất:
GTTD: Thể hiện nội dung bên trong; Thể hiện bản chất kinh tế - xã hội, là quan hệ giai cấp giữa người LĐ và người sử dụng
LĐ. Người LĐ làm thuê phải bán sức LĐ cho nhà TB. ⇒ Phản ánh đúng bản chất: sự chiếm đoạt lao động không công nhân
Lợi nhuận: Là hình thái thể hiện bên ngoài; Là hình thái biểu hiện của GTTD trên bề mặt nền kinh tế thị trường ⇒ Phản ánh sai
lệch bản chất quan hệ sản xuất giữa nhà tư bản và lao động làm thuê. Nó làm cho người ta tưởng rằng giá trị thặng dư không phải
chỉ do lao động làm thuê tạo ra mà là do toàn bộ tư bản ứng trước sinh ra. + Nguồn gốc:
GTTD được Karl Marx trình bày trong tác phẩm "Tư bản" (Das Kapital) (1867) nhằm phân tích sự khai thác và mâu thuẫn giữa
lao động và tư bản trong chủ nghĩa tư bản.
Khái niệm lợi nhuận đã được phát triển bởi nhiều nhà kinh tế học khác nhau, bao gồm Adam Smith, David Ricardo, và John
Maynard Keynes, được sử dụng trong lý thuyết kinh tế học cổ điển, tiêu biểu là kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh. + Mục đích:
GTTD: Chỉ ra sự bóc lột của giai cấp tư bản đối với giai cấp công nhân; Phân tích các mâu thuẫn nội tại của CNTB; Phân tích sự
bất công trong phân phối giá trị; Giải thích cơ chế mà tư bản tích lũy tài sản
LN: Làm rõ bản chất của LN trong nền KT TBCN; Che đậy bản chất bóc lột của hệ thống TBCN; Phân tích mối quan hệ giữa lợi
nhuận và TB; Giải thích cơ chế phân phối lợi nhuận
* Liên hệ với việc sản xuất GTTD trong các công ty tư nhân VN hiện nay
- Thực trạng: Trong các doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam, đặc biệt là nhóm VPE500 (500 doanh nghiệp lớn nhất), có những tín
hiệu tích cực về tăng năng suất và khả năng tạo ra giá trị thặng dư. Các công ty này đã đạt mức tăng năng suất lao động bình quân
khoảng 9,3% mỗi năm trong giai đoạn 2019-2021, vượt qua mức trung bình của khu vực tư nhân nói chung (6,8%). Những ngành
như tài chính, vận tải, và chế biến đóng góp lớn vào sự tăng trưởng này với mức tăng từ 7-21%/năm. Tuy nhiên, tỉ suất giá trị
thặng dư ở một số ngành cao, do mức lương thấp và thời gian làm việc dài. Các báo cáo cho thấy công nhân trong ngành dệt may
hoặc điện tử đôi khi nhận lương chỉ vừa đủ đáp ứng nhu cầu cơ bản. (VD. May Sài Gòn, Vinawood)
- Các chiến lược SX GTTD: Hiện nay, các công ty tư nhân tại Việt Nam áp dụng nhiều phương thức để tối ưu hóa giá trị thặng
dư theo lý thuyết kinh tế chính trị Mác-Lênin.
+ Đầu tư và cải tiến công nghệ: Trong bối cảnh nền kinh tế mở và sự cạnh tranh khốc liệt từ hàng nhập khẩu giá rẻ, các doanh
nghiệp tư nhân Việt Nam đã phải tìm cách cải tiến liên tục bằng cách tăng năng suất lao động thông qua đầu tư vào máy móc hiện
đại, quy trình sản xuất tự động hóa và quản trị doanh nghiệp hiệu quả hơn. Công nghệ và tự động hóa giúp giảm thời gian lao
động tất yếu, do đó kéo dài thời gian lao động thặng dư mà không vi phạm luật lao động hiện hành ● Dẫn chứng: o
Theo số liệu từ Bộ Công Thương, Việt Nam ghi nhận 30% doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào công nghệ mới
trong năm 2023 nhằm cải thiện năng suất. Đặc biệt, ngành dệt may và điện tử chiếm tỷ trọng đầu tư lớn nhất
để cạnh tranh với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc​ o
Báo cáo của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy năng suất lao động của Việt Nam tăng 5-6% mỗi năm trong
giai đoạn 2015-2022, góp phần gia tăng sản xuất giá trị thặng dư tương đối mà không cần kéo dài giờ làm​
+ Chuyên môn hóa, tham gia chuỗi cung ứng quốc tế và tối ưu chi phí sản xuất
● Việt Nam đã trở thành trung tâm sản xuất cho nhiều công ty đa quốc gia nhờ vào lợi thế lao động giá rẻ và năng suất cao.
● Gia công hàng xuất khẩu trong các lĩnh vực như dệt may và điện tử là ví dụ điển hình của việc áp dụng giá trị thặng dư
siêu ngạch. Doanh nghiệp Việt Nam tập trung vào khâu sản xuất có chi phí thấp hơn các đối thủ quốc tế, từ đó tạo ra lợi
nhuận dựa trên chênh lệch giá trị sản phẩm trên thị trường quốc tế​ ● Dẫn chứng: o
Năm 2022, xuất khẩu của Việt Nam đạt 372 tỷ USD, trong đó các sản phẩm gia công từ các công ty tư nhân
như dệt may, điện tử chiếm hơn 60% tổng kim ngạch xuất khẩu. o
Ngoài ra, các doanh nghiệp công nghệ như Samsung Việt Nam đã đóng góp đáng kể vào GDP, với hơn
50.000 lao động và sản lượng xuất khẩu đạt 60 tỷ USD mỗi năm.
+ Linh hoạt hóa hợp đồng và tối ưu chi phí nhân công
● Một số doanh nghiệp tư nhân áp dụng các hình thức lao động linh hoạt như hợp đồng ngắn hạn, lao động thời vụ để tối
ưu chi phí nhân công. Điều này cho phép doanh nghiệp giảm thiểu chi phí cố định và tăng thời gian làm thêm giờ, qua
đó tối đa hóa giá trị thặng dư. ● Dẫn chứng: o
Theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), hơn 35% doanh nghiệp tư nhân áp
dụng hợp đồng thời vụ và các mô hình lao động linh hoạt nhằm cắt giảm chi phí ⇒ các công ty tối đa hóa thời
gian lao động thặng dư trong khi vẫn tuân thủ luật pháp hiện hành o
Mặc dù luật lao động Việt Nam giới hạn thời gian làm việc tối đa 48 giờ/tuần, nhưng nhiều công ty đã tận
dụng tối đa 200 giờ làm thêm mỗi năm theo quy định, cho phép tăng sản lượng mà không cần tăng quy mô nhân sự.
+ Giá trị thặng dư siêu ngạch: Các doanh nghiệp cũng nhắm đến việc tạo ra giá trị thặng dư siêu ngạch bằng cách nâng cao năng
suất lao động cá biệt—đưa giá thành sản phẩm xuống thấp hơn giá thị trường chung. Chiến lược này được áp dụng để cạnh tranh
với hàng nhập khẩu giá rẻ từ nước ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc. Những công ty sử dụng công nghệ hiện đại và tối ưu hoá quy
trình sản xuất có lợi thế trong việc đạt được loại giá trị thặng dư này​
+ Chuyển đổi mô hình quản lý và chuyên môn hóa:
Sau giai đoạn Đổi mới năm 1986, các doanh nghiệp tư nhân và nhà nước tại Việt Nam đã chuyển đổi từ hình thức sản xuất bao
cấp sang nền kinh tế thị trường. Các công ty tập trung vào chuyên môn hóa, phân công lao động chi tiết hơn và áp dụng các mô
hình quản lý hiệu quả để tạo ra nhiều giá trị thặng dư. Việc chuyên môn hóa này không chỉ giúp tăng năng suất mà còn tối ưu hóa
chi phí sản xuất, cải thiện khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế​
+ Nhà nước: Nhà nước có thể tăng lương tối thiểu, cải thiện phúc lợi, kiểm soát giờ làm việc và giám sát việc thực thi luật lao
động. Đồng thời, cần hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất qua công nghệ và đào tạo, giảm phụ thuộc vào lao động giá rẻ. Các
chính sách này giúp bảo vệ người lao động và đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững.
⇒ Kết luận, sản xuất giá trị thặng dư trong các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam hiện đại không chỉ dừng lại ở việc kéo dài thời
gian lao động mà tập trung nhiều hơn vào cải thiện năng suất và quản lý. Điều này thể hiện sự linh hoạt trong việc vận dụng học
thuyết giá trị thặng dư của Marx vào thực tiễn trong bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay.
15. So sánh sự khác nhau giữa tỷ suất giá trị thặng dư và tỷ suất lợi nhuận? Các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay có
những thuận lợi và khó khăn gì trong việc nâng cao tỷ suất lợi nhuận? Lấy dẫn chứng trong thực tiễn để chứng minh.

----------------------------------------------- - Định nghĩa:
+ Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến.
+ Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận và toàn bộ giá trị của tư bản ứng trước.
- So sánh sự khác nhau:
+ Về lượng: Tỷ suất lợi nhuận luôn nhỏ hơn tỷ suất giá trị thặng dư.
+ Về chất: Tỷ suất giá trị thặng dư biểu hiện mức độ bóc lột của tư bản đối với lao động, còn tỷ suất lợi nhuận chỉ nói lên mức
doanh lợi của việc đầu tư, là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn đầu tư của đơn vị sản xuất kinh doanh. Bởi vậy, nó là
động lực kích thích các chủ thể sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.
- Các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay có những thuận lợi và khó khăn gì trong việc nâng cao tỷ suất lợi nhuận: + Thuận lợi:
● Thị trường tiềm năng: Việt Nam có dân số trẻ và thị trường tiêu dùng lớn, đa dạng, tạo môi trường thuận lợi cho các
doanh nghiệp phát triển kinh doanh. Quỹ Tiền tệ Quốc tế dự báo Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam theo
sức mua tương đương (PPP) sẽ đạt gần 2.343 tỷ USD vào năm 2029, vượt qua Australia và Ba Lan, xếp thứ 20 trên thế
giới. Ngân hàng Thế giới cũng nhận định kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 5,5% trong năm 2024 và tăng dần lên 6,0%
vào năm 2025. Những số liệu trên cho thấy tiềm năng phát triển to lớn của thị trường Việt Nam.
● Chính sách hỗ trợ từ chính phủ: Các chính sách hỗ trợ tài khóa và tiền tệ trực tiếp giúp doanh nghiệp giảm chi phí sản
xuất (K), làm tăng lợi nhuận (P) và tỷ suất lợi nhuận (P′). ●
Ưu đãi Thuế Thu nhập Doanh nghiệp (TNDN) cho dự án mới: Luật Thuế TNDN sửa đổi (có hiệu lực từ
năm 2025) tiếp tục mở rộng các hình thức miễn, giảm thuế cho các dự án đầu tư mới thuộc lĩnh vực/địa bàn ưu đãi. ○
Dẫn chứng (Theo Luật TNDN 2025): Các dự án đầu tư mới thuộc lĩnh vực, địa bàn đặc biệt ưu
đãi có thể được miễn thuế tối đa 4 nămgiảm 50% thuế lên tới 9 năm tiếp theo. Điều này giúp
DN giữ lại một phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư, qua đó tăng P′. ●
Giảm Thuế Giá trị gia tăng (VAT): Chính phủ tiếp tục áp dụng chính sách giảm thuế VAT 2% đối với một
số nhóm hàng hóa, dịch vụ thông thường. ○
Dẫn chứng: Chính sách này, được áp dụng đến ít nhất 30/6/2025 (từ mức 10% xuống 8%), giúp
kích thích cầu tiêu dùnggiảm chi phí đầu vào của DN, trực tiếp thúc đẩy doanh thu và lợi nhuận. ●
Hỗ trợ Tín dụng và Vốn: Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chỉ đạo tăng cường cơ hội tiếp cận tín
dụng, bao gồm cả các gói hỗ trợ lãi suất (như gói hỗ trợ lãi suất 2% trước đây) và các chức năng cho vay, đầu
tư khởi nghiệp của Quỹ Phát triển Doanh nghiệp Vừa và Nhỏ (Quỹ ĐT DNNVV).
● Tăng cường hội nhập quốc tế: Các hiệp định thương mại tự do (FTA) mở ra cơ hội xuất khẩu và thu hút đầu tư nước
ngoài. Việc mở rộng thị trường ra nước ngoài đem lại nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam. Tính đến tháng
5/2024, Việt Nam đã ký kết, thực thi và đang đàm phán tổng cộng là 19 FTA, trong đó có Khu vực Mậu dịch Tự do
ASEAN (AFTA), 2) Khu vực Thương mại Tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA), 3) Hiệp định Thương mại Tự do
ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA),...
● Công nghệ và đổi mới sáng tạo: Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và chuyển đổi số tạo điều kiện cho
doanh nghiệp tăng năng suất sản xuất từ đó tăng tỷ suất giá trị thặng dư, tỷ suất lợi nhuận. Một ví dụ điển hình về việc
tăng năng suất lao động thông qua đổi mới công nghệ là ngành dệt may. Trong những năm gần đây, nhiều công ty may
mặc đã trang bị máy móc hiện đại và tự động hóa một số công đoạn sản xuất, góp phần tăng năng suất và chất lượng
hàng hóa. Chẳng hạn, Tổng Công ty May Bắc Giang LGG và Công ty Cổ phần May Hưng Việt đã ứng dụng trí tuệ
nhân tạo và các hệ thống thiết bị hiện đại vào khâu chuẩn bị sản xuất, giảm 30%-45% thời gian và lao động.
● Nguồn lao động dồi dào: Việt Nam có nguồn lao động trẻ, năng động và ngày càng được đào tạo bài bản. Theo Tổng
điều tra dân số năm 2019, Việt Nam ghi nhận tỷ lệ dân số trẻ cao nhất trong lịch sử đất nước, tạo nền tảng tiềm năng
cho lợi tức dân số. Việt Nam có 20,4 triệu thanh thiếu niên trong độ tuổi 10-24 tuổi, chiếm 21% dân số và thời kỳ dân
số vàng dự kiến kéo dài đến năm 2039. + Khó khăn:
● Cạnh tranh gay gắt: Sự nở rộ của các doanh nghiệp trong và ngoài nước khiến thị trường trở nên cạnh tranh hơn, ảnh
hưởng đến tỷ suất lợi nhuận. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới 9 tháng năm 2024 là hơn 121,9 nghìn doanh
nghiệp, tăng 3,42% so với cùng kỳ năm 2023 với số vốn đăng ký hơn 1.158,5 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ
năm 2023; số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là gần 735,1 nghìn lao động, giảm 3,37% so với cùng kỳ năm.
● Chất lượng sản phẩm và dịch vụ: Nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, dẫn
đến việc khó giữ chân khách hàng. Cho tới nay, nước ta vẫn chưa có một chính sách quốc gia về chất lượng sản phẩm.
Sự thiếu hụt các chính sách, các chiến lược dài hạn về chất lượng sản phẩm dẫn đến sự thiếu định hướng trong phát
triển, nâng cao chất lượng sản phẩm phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế nước ta. Thêm vào đó, việc gia nhập các tổ
chức kinh tế thế giới AFTA, OPEC, hiệp định thương mại Việt Mỹ,... sẽ tạo ra một sức ép rất lớn đối với các doanh
nghiệp trong cạnh tranh trên thị trường.
● Khó khăn trong tiếp cận vốn: Mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng việc tiếp cận nguồn vốn vẫn là một thách thức
lớn đối với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. “Một số nhóm khách hàng có nhu cầu nhưng
chưa đáp ứng điều kiện vay vốn, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa do quy mô vốn nhỏ, năng lực hạn chế, thiếu phương
án kinh doanh khả thi; các giải pháp tăng tiếp cận tín dụng thông qua Quỹ Bảo lãnh tín dụng, Quỹ Phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa,... chưa phát huy được nhiều hiệu quả.” là những nguyên nhân được Phó Thống đốc Thường trực
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đào Minh Tú đưa ra tại Hội nghị “Triển khai nhiệm vụ điều hành chính sách tiền tệ
năm 2024, tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô” diễn ra
vào 14/3 khi lý giải nguyên nhân 2 tháng đầu năm tăng trưởng tín dụng âm.
● Rủi ro từ thị trường toàn cầu: Biến động kinh tế thế giới và các yếu tố bên ngoài như dịch bệnh, chiến tranh thương mại
có thể tác động xấu đến hoạt động kinh doanh. Chiến tranh Nga - Ukraine đã gây nên cho Việt Nam áp lực không nhỏ,
trong đó có thiếu hụt nguồn cung (xăng dầu, nickel, palladium,...), mất đi nhiều đơn hàng do lệnh cấm vận của các
nước đối với Nga, gia tăng áp lực lạm phát,...
● Hạ tầng yếu kém: Mặc dù có cải thiện, nhưng cơ sở hạ tầng giao thông và logistics vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu, làm
tăng chi phí vận chuyển và lưu kho. Theo Báo cáo Kết quả thực hiện Quyết định số 200/QĐ-TTg, ngày 14/02/2017 của
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt
Nam đến năm 2025 của Bộ Công Thương (2022), do điều kiện địa hình có đến 39% mạng lưới quốc lộ nằm trong khu
vực đồi núi và nhiều tuyến được quy hoạch là quốc lộ, song chưa được nâng cấp, chưa đạt yêu cầu quy hoạch.
16. Phân tích quá trình hình thành lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất? Theo anh chị Việt Nam cần xây dựng chiến
lược giá cả như thế nào để hàng hoá Việt Nam có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế?
*Phân tích
● Khái niệm: Lợi nhuận bình quân SGK/ 69 và Giá cả sản xuất: là mức giá mà hàng hóa hoặc dịch vụ được bán ra trên
thị trường, bao gồm tổng chi phí sản xuất (như chi phí nguyên vật liệu, lao động, và chi phí cố định) cộng với lợi nhuận
bình quân mà doanh nghiệp mong muốn đạt được. ● Phân tích SGK/ 56, 5 *Liên hệ:
Để hàng hóa Việt Nam có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, cần xây dựng một chiến lược giá cả hiệu quả và bền vững.
Trước hết, doanh nghiệp cần định giá cạnh tranh bằng cách nghiên cứu thị trường để xác định mức giá hợp lý, đồng thời giảm chi
phí sản xuất thông qua tối ưu hóa quy trình và nguyên vật liệu. Việc nâng cao chất lượng sản phẩm cũng rất quan trọng; doanh
nghiệp nên đầu tư vào công nghệ và đạt các chứng nhận quốc tế để tăng uy tín. Thêm vào đó, xây dựng thương hiệu mạnh thông
qua các chiến dịch marketing hiệu quả và khuyến mãi sẽ giúp thu hút khách hàng. Nhà nước cũng nên hỗ trợ doanh nghiệp xuất
khẩu bằng chính sách tài chính ưu đãi và giảm thuế cho các ngành hàng chiến lược. Ngoài ra, việc đa dạng hóa sản phẩm và
nhanh chóng đáp ứng nhu cầu thị trường cũng là yếu tố then chốt. Cuối cùng, doanh nghiệp cần tăng cường hợp tác quốc tế để
mở rộng kênh phân phối và tận dụng các hiệp định thương mại tự do, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường toàn cầu.
→ VD: Một ví dụ điển hình về doanh nghiệp Việt Nam có chiến lược giá cả và chất lượng hiệu quả là Công ty Cổ phần Thế Giới
Di Động (MWG). Công ty này thường xuyên nghiên cứu và điều chỉnh giá cả để duy trì tính cạnh tranh, đồng thời áp dụng chính