



Preview text:
Bài cuối kỳ PLĐC Câu 1
Kiểu pháp luật là tổng thể những dấu hiệu, đặc thù cơ bản của Pháp luật thể hiện bản
chất của giai cấp cà điều kiện tồn tại của pháp luật trong một hình thái kinh tế, xã hội
nhất định. Và có bao nhiêu kiểu nhà nước thì có bấy nhiêu kiểu Pháp luật. Như vậy trong
lịch sử đã tồn tại 4 kiểu pháp luật là pháp luật chủ nô, pháp luật phong kiến, pháp luật tư
sản và pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Thế nhưng xét về tổng thể thì pháp luật xã hội chủ nghĩa là khác biệt nhất so với các kiểu pháp luật khác.
Về kinh tế, ba kiểu pháp luật chủ nô, phong kiến và tư sản đều là những kiểu pháp
luật bóc lột được xây dựng trên cơ sở của chế độ tư hữu về tư liệu sản suất. Bởi thế mà
chúng đều có một đặc điểm chung đó là thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội
và ưu tiên lợi ích của giai cấp này. Không giống với các kiểu pháp luật trên, pháp luật xã
hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ sở của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.
Về xã hội, các kiểu pháp luật này phân chia rõ rệt ra các giai cấp đối nghịch nhau.
Trong xã hội của kiểu pháp luật chủ nô thì chia thành hai giai cấp là chủ nô và nô lệ. Với
pháp luật phong kiến thì chia thành giai cấp địa chủ và nông dân .Và đến pháp luật tư sản
thì xã hội phân chia 2 giai cấp là tư sản và vô sản. Còn pháp luật xã hội chủ nghĩa chỉ có
giai cấp công-nông và tầng lớp khác.
Về bản chất, các kiểu pháp luật khác củng cố và bảo về chế độ tư hữu về tư liệu
sản xuất, công khai thừa nhận bất bình đẳng trong xã hội . Đồng thời còn bảo vệ quyền
lợi cho giai cấp thống trị. Lấy kiểu pháp luật chủ nô ra làm một ví dụ. Pháp luật chủ nô là
do giai cấp chủ nô tạo ra nên họ luôn xem xét tập quán nào có lợi cho giai cấp này thì
mới đề ra. Để bảo vệ quyền lợi và tài sản của chủ nô thì bất cứ ai vi phạm vào đất đai,
ruộng lúa của chủ nô thì đều bị xử phát rất nghiêm trọng.Thế nhưng sang đến pháp luật
xã hội chủ nghĩa không còn sự bất bình đẳng bởi mục đích của kiểu pháp luật này là thủ
tiêu mọi hình thức áp bức bóc lột và xây dựng một xã hội bình đẳng và tự do. Không thể
hiện ý chí của giai cấp thống trị mà pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí, bảo vệ lợi
ích của đại đa số dân cư trong xã hội, cụ thể là giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Đây là nét khác biệt căn bản giữa pháp luật xã hội chủ nghĩa với các kiểu pháp luật trước đó.
Ngoài ra, nếu như ở các kiểu pháp luật tồn tại trước đó đều có đặc điểm chung là có
những hệ thống hình phạt rất hà khắc, tàn bạo và dã man như tru di tam tộc, bêu đầu,…
Hay ở pháp luật phong kiến còn chứa đựng những quy định mang tính chất tôn giáo như
“Vua là thiên tử, thay trời trị dân” hay “Quan thì xử theo lễ, dân thì xử theo luật”. Nhưng
sang đến pháp luật xã hội chủ nghĩa thì không còn những hình phạt như vậy nữa mà thay
vào đó là sử dụng biện pháp cưỡng chế kết hợp với giáo dục thuyết phục. Điều này có thể
thấy rõ trong quá trình vận động người dân tiên vaccine covid-19 của nước ta. Trong tình
hình dịch bệnh căng thẳng thì việc tiêm vaccine là hết sức cần thiết. Nhưng có nhiều
người dân không đồng ý tiêm và pháp luật cũng không hề bắt ép họ. Nên cách tốt nhất là
tuyên truyền qua từng thôn, xóm.
Bàn về kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa thì học thuyết Mác- Lênin có khẳng định đây
là kiểu pháp luật cuối cùng trong lịch sử xã hội loài người. Sở dị học thuyết khẳng định
như vậy là bởi cùng với sự phát triển của xã hội thì sự thay đổi kiểu pháp luật này bằng
một kiểu pháp luật khác tiến bộ hơn là quy luật tất yếu. Pháp luật chủ nô ra đời trước tiên
nên vẫn tồn tại nhiều sự lạc hậu. Tiếp đến là kiểu pháp luật phong kiến ra đời cùng với sự
ra đời của nhà nước phong kiến. Kiểu pháp luật này thay thế và có nhiều tiến bộ hơn
pháp luật chủ nô. Pháp luật tư sản ra đời để thay thế cho pháp luật phong kiến. Có thể
thấy rõ những điểm tiến bộ của kiểu pháp luật này so với hai kiểu pháp luât trước là bảo
đảm quyền tự do, dân chủ cá nhân về pháp lý; nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trước
pháp luật được thiết lập. Xong cũng chỉ mang tính hình thức. Chính vì vậy mà kiểu pháp
luật xã hội chủ nghĩa ra đời. Có thể nói đây là kiểu pháp luật hoàn chỉnh nhất từ trước đến
nay, và luôn được xây dựng để hoàn thiện thêm.Qua đây ta có thể thấy rõ sự tiến bộ của
các kiểu pháp luật. Vì vậy, pháp luật chủ nghĩa xã hội có thể coi là kiểu pháp luật cuối
cùng. Dù tương lai nó có thể tiêu vong nhưng cũng sẽ không có kiểu pháp luật nào có thể thay thế. Bài 2
1a. Các yếu tố cấu thành có trong quy phạm pháp luật trên gồm có:
Thứ nhất là giả định giản đơn được thể hiện qua ý “đối với hành vi bẻ khóa, trộm
cắp, sử dụng mật khẩu, khóa mật mã và thông tin của tổ chức, cá nhân khác trên môi trường mạng”.
Thứ hai là quy định. Quy định không được nêu rõ trong quy phạm pháp luật đã cho
mà thay vào đó là quy định ngần. Theo đó, quy định trong trường hợp này là không được
bẻ khóa, trộm cắp, sử dụng mật khẩu, khóa mật mã và thông tin của tổ chức, cá nhân
khác trên môi trường mạng.
Thứ ba là chế tài. Chế tài trong quy phạm pháp luật này là chế tài không cố định,
được thể hiện qua “phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng”.
Các yếu tố cấu thành đó có một số vai trò như sau
Giả định là phần nêu lên những điều kiện, hoàn cảnh có thể áp dụng các biện pháp
tác động của nhà nước. Đồng thời cũng giúp cho các cơ quan nhà nưới biết rằng khi nào
họ cần áp dụng các biện pháp tác động của nhà nước được quy định trong quy phạm, đối
với ai, đối tượng nào và tỏng điều kiện nào. Cụ thể trong quy phạm pháp luật này, hành
vi cần áp dụng các biện pháp tác động của nhà nước là “bẻ khóa, trộm cắp, sử dụng mật
khẩu, khóa mật mã và thông tin của tổ chức, cá nhân khác trên môi trường mạng”.
Quy định ở đây tuy không được nói rõ nhưng nó có vai trò chỉ cho mọi người
biết ý chí, mong muốn, mục đích của nhà nước khi điều chỉnh quan hệ đó là không được
bẻ khóa, trộm cắp, sử dụng mật khẩu, khóa mật mã và thông tin của tổ chức, cá nhân
khác trên môi trường mạng.
Chế tài chỉ ra những hậu quả mà người vi phạm có thể gánh chịu. Vì thế chế tài có
vai trò răn đe, phòng ngừa các hành động vi phạm pháp luật và cũng là để trừng phạt
những cá nhân vi phạp pháp luật
1b. Loại vi phạm pháp luật ở đây là vi phạm hành chính. Trách nhiệm pháp luật là trách
nhiệm hành chính, hình thức xử phạt là phạt tiền. Phần 2
Thông qua việc tìm hiểu các quy định pháp luật về an toàn, an ninh mạng, tôi nhận thấy
cách xử sự trên môi trường mạng rất quan trọng, nó giúp bảo đảm lợi ích chính đáng của
bản thân và cộng đồng.
Điều quan trọng nhất đó chính là tuân thủ các quy định và hướng dẫn về bảo vệ an
toàn và bảo mật thông tin mà nhà nước đã đề ra. Không được cung cấp thông tin cá nhân
của bản thân cho người lạ , không nhấp vào các đường link lạ và không tin tưởng người
quen biết qua mạng. Hiện nay các hành vi lấy cắp thông tin người dùng mạng rất tinh vi
nên ta phải luôn cảnh giác bởi hậu quả của nó mang lại không chỉ ảnh hưởng đến bản
thân ta mà còn ảnh hưởng đến nhiều người khác. Dạo gần đây có rất nhiều tài khoản
facebook bị tin tặc hack sau đó dùng chính tài khoản đó nhắn hỏi vay mượn tiền những
người mà chủ tài khoản biết. Qua cách này mà chúng đã lừa đảo, chiếm đoạt được rất
nhiều tiền. Vậy nên chúng ta cần hết sức cảnh giác.
Thêm vào nữa, cần tuân thủ pháp luật của đất nước, tôn trọng quyền và lợi ích
chính đáng của tổ chức, cá nhân. Và phải chịu trách nghiệm về các hành vi của bản thân,
phối hợp với các cơ quan chức năng nếu cần thiết. Không đưa thông tin của người khác
khi chưa nhận được sự cho phép của người đó. Không nên chia sẻ các thông tin sai sự
thật, các thông tin chưa được kiểm chứng. Bởi hành động này gây ảnh hưởng rất nhiều
đến người khác và chính bản thân bạn cũng sẽ bị xử phạt theo luật pháp. Đồng thời, khi ta
gặp phải những trường hợp vi phạm an ninh mạng cũng cần báo cho cơ quan công an để
họ tiến hành ngăn chặn các hành vi đó kịp thời, tránh hảnh hưởng đến nhiều người khác.
Trong quá trình tham gia mạng xã hội, cần có các cách xử sự phù hợp với các giá
trị đạo đức, văn hóa của dân tộc Việt Nam. Đừng vì cách xử sự thiếu văn minh của bản
thân mà tạo ra cái nhìn không hay của người nước ngoài đối với con người và đất nước Việt Nam.
Hãy xử sự đúng mực và là một người dùng văn minh!