TỘI PHẠM HỌC
BÀI 1: KHÁI QUÁT CHUNG
Tội phạm học được ví như triết học về tội phạm, trong đó tội phạm ma tuý tử hình vẫn còn nhiều
nhất. Giải pháp đầu tiên trong ngăn ngừa tội phạm là đừng để bị tội phạm, giải pháp thứ 2 là can
thiệp sâu, khắc phục tình trạng người nguy phạm tội, giải pháp thứ 3 là xử lý người phạm
tội.
I. Khái niệm tội phạm học và đối tượng nghiên cứu của tội phạm học
1. Khái niệm tội phạm học
- Tội phạm hiện tượng hội tồn tại khách quan, tính nguy hiểm cao nên cần các
biện pháp phòng chống. thế nhà nước ở các thời kì lịch sử đã quy định trong pháp luật những
hành vi nào tội phạm cùng với một hệ thống hình phạt, và khi một tội phạm được thực hiện sẽ
sở pháp để trừng phạt, răn đe. Mặt khác, để tất cả các tội phạm được thực hiện đều bị
phát hiện, xử lý kịp thời, nhà nước còn quy định các biện pháp phát hiện, ngăn chặn, điều tra, xét
xử tội phạm cải tạo người phạm tội. Nghiên cứu về tội phạm và phòng chống tội phạm ở khía
cạnh pháp hình sự tính cưỡng chế này nhiệm vụ trọng tâm của các ngành khoa học
pháp lý: khoa học luật hình sự, khoa học luật tố tụng hình sự, khoa học cải tạo... Tuy nhiên, thực
tế không phải tất cả các tội phạm được thực hiện đều bị phát hiện, xử lý cũng như không phải bất
kỳ người nào có ý định phạm tội cũng e ngại bị áp dụng hình phạt, vì thế tình hình tội phạm cũng
như tái phạm tội vẫn tồn tại. Như vậy, công tác phòng chống tội phạm cần được mở rộng theo
một hướng khác: hướng "ngăn ngừa" tội phạm.
- Phòng ngừa kết hợp với phát hiện, xử lý tội phạm, trong đó lấy công tác phòng ngừa làm trọng
tâm sẽ đảm bảo hơn việc đạt được mục tiêu hạn chế loại trừ tội phạm ra khỏi xã hội. Nghiên
cứu tội phạm phòng chống tội phạm khía cạnh này nhiệm vụ của một ngành khoa học,
độc lập với các khoa học pháp lý khác, đó là tội phạm học.
- Tội phạm học được xác định đã ra đời từ giữa thế kỷ XVIII với những nghiên cứu của hai
học giả tinh thần cải cách Cesare Beccaria (1738 - 1794) (ông đưa ra tư tưởng phải phân
hoá TNHS làm sao cho hình phạt đạt hiệu quả tốt, như vậy phòng ngừa tội phạm đạt được
hiệu quả tốt => thuyết duy lý) Jeremy Bentham (1748 - 1832) ngày nay được biết đến
với tên gọi Tội phạm học cổ điển (Classical Criminology). Tác phẩm kinh điển đánh dấu sự ra
đời của tội phạm học cổ điển tên "Tội phạm hình phạt" ("Dei delitti e delle pene"),
Tiếng Anh: "On Crimes and Punishments"), xuất bản năm 1764 của Beccaria. Cho đến năm
1885, giáo luật người Ý tên Raffaele Garofalo lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ "Tội phạm
học" (tiếng Ý: Criminologia) đặt tên cho tác phẩm của mình. Người thứ hai nhà nhân chủng
học Paul Topinard đã sử dụng thuật ngữ này lần đầu Pháp vào năm 1887 (tiếng Pháp:
Criminologie). Thuật ngữ "Tội phạm học" đã nhanh chóng được chấp nhận trên toàn thế giới và
trở thành môn học được giảng dạy tại nhiều trường đại học.
1
- Thuật ngữ "Tội phạm học" thích hợp với việc chỉ một khoa học (hay học thuyết) nghiên cứu về
tội phạm. nguồn gốc từ tiếng La tinh: "Crimen" - nghĩa tội phạm tiếng Hy Lạp:
"Logos" - nghĩa học thuyết, luận. Ngày nay, tội phạm học phát triển thành một khoa học
tên tiếng Anh "Criminology", tiếng Đức là "Kriminologie". Tuy nhiên, nếu dừng lại ở mức
độ giải thích trực tiếp ngữ nghĩa thì khó có thể nhận thức đầy đủ tinh thần của tội phạm học. Hơn
nữa, khi định nghĩa chi tiết hơn về tội phạm học, quan điểm của các nhà nghiên cứu cũng không
có sự thống nhất. Có thể chia thành ba nhóm: giáo trình tr. 09.
+ Nhóm I: Tội phạm học khoa học nghiên cứu về tội phạm hay Tội phạm học sự
nghiên cứu về nguyên nhân của tội phạm (PGS.TS Thị Sơn) hay Tội phạm học khoa học
nghiên cứu tội phạm đề ra các biện pháp đấu tranh phòng chống. (TS. Can Ueda - Nhật Bản)
=> Không chỉ ra được đối tượng nghiên cứu cụ thể của TPH là gì
+ Nhóm II: Tội phạm học lĩnh vực tri thức về tội phạm như một hiện tượng hội.
Phạm vi nghiên cứu của nó bao gồm các quá trình làm luật, sự vi phạm luật và sự phản ứng trước
các vi phạm pháp luật...(Edwin Sutherland and Donald Cressey) hay Tội phạm học ngành
khoa học nghiên cứu về tình hình tội phạm, nguyên nhân điều kiện tình hình tội phạm, nhân
thân người phạm tội các biện pháp phòng ngừa tội phạm. => đưa ra đối tượng nghiên cứu cụ
thể, tuy nhiên chưa chỉ ra được bản chất của TPH là gì
+ Nhóm III: “Tội phạm học ngành khoa học pháp lý - xã hội (độc lập) học nghiên cứu
nguồn gốc, bản chất các hình thức biểu hiện của tình hình tội phạm, các nguyên nhân, điều
kiện quy luật xuất hiện, tồn tại thay đổi của tình hình tội phạm các biểu hiện của nó;
nhân thân người phạm tội, các biện pháp, phương pháp phòng ngừa khắc phục tình hình tội
phạm xảy ra trong hội.” => thống nhất chọn quan điểm này => Tội phạm học liên quan
mật thiết với các khoa học hội các khoa học pháp lý. Tội phạm học không hoàn toàn
khoa học pháp hoặc hội học, vừa có tính chất pháp lý, vừa có tính xã hội. Tính chất
liên ngành của tội phạm học chủ yếu trong phạm vi các khoa học pháp lý và các khoa học xã hội.
Sự liên quan này bắt nguồn từ tính chất mối quan hệ về đối tượng nghiên cứu, phương pháp
nghiên cứu của tội phạm học với hai nhóm ngành khoa học trên.
Lưu ý: TPH ngành khoa học xh-pl độc lập chứ không phải nhánh của ngành khoa học khác
bởi TPH mục tiêu nghiên cứu nguyên nhân + biện pháp phòng ngừa trước khi tội phạm xảy ra
=> điều này làm phân biệt TPH vs các ngành khoa học khác như khoa học pháp lý hình sự cũng
nghiên cứu về tội phạm hình phạt nhưng nghiên cứu thế nào tội phạm, dấu hiệu tội phạm
trong cấu thành tội phạm quy định trong điều luật, trách nhiệm hình sự đối với các chủ thể,
hình phạt.
Lưu ý: Tính hội tính pháp lý đều thấy rõ ở trong 4 đối tượng nghiên cứu. Tội phạm không
phải tự nhiên xuất hiện nguyên nhân đến từ hội => Tội phạm là hiện tượng xã hội tồn tại
khách quan từ đó chúng ta tìm hiểu nguyên nhân điều kiện để hạn chế nó và phòng ngừa tốt hơn.
- Tội phạm là hiện tượng xã hội tồn tại khách quan, có tính nguy hiểm cao.
2
- Nghiên cứu về tội phạm và phòng chống tội phạm ở khía cạnh pháp lý hình sự và có tính cưỡng
chế này là nhiệm vụ trọng tâm của các ngành khoa học pháp lý.
- Thuật ngữ “Tội phạm học” thích hợp với việc chỉ một khoa học nghiên cứu về các vấn đề
hội của tội phạm
- Khía cạnh lịch sử: TPH được biết đến với tư cách khoa học từ giữa TK XVIII, gắn với tên tuổi
của Cesare Beccaria - Tác phẩm “Về tội phạm và hình phạt”.
- Hoàn cảnh lịch sử ảnh hưởng của thuyết duy lý và vị lợi: Trước cách mạng Pháp 1789, hơn
200 hình phạt tử hình Châu Âu, bg trộm vặt 5silling. Tư tưởng của Beccaria được tiếp tục bởi
BLHS Pháp 1791, Nữ hoàng Nga Catherine II, Vua Phổ Frederick II, Hoàng đế Úc Joseph II
(1787). Năm 1820-1961: Nghị Samuel Romilly tiếp thu sửa luật hình sự của Anh, số lượng
hình phạt tử hình giảm từ 222 xuống còn 3 hpth (tội giết người, phản quốc, cướp biển)
- Tác giả đầu tiên đặt tên tác phẩm “Tội phạm học”: Raffaele Garofalo
- Giải thích khái niệm “Tội phạm học” trực tiếp bằng ngữ nghĩa:
+ Tiếng Việt: Khoa học/Học thuyết nghiên cứu về tội phạm
+ Nghĩa gốc được ghép từ “Crimen” (Latin) và “Logos” (Hy Lạp)
+ Tiếng Anh là “Criminology”
Khái niệm: Tội phạm học khoa học hội - pháp nghiên cứu về tình hình tội phạm,
nguyên nhân điều kiện tình hình tội phạm, nhân thân người phạm tội và các biện pháp phòng
ngừa tội phạm.
=> Như vậy, gồm 4 vấn đề cơ bản là nghiên cứu về tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện
tình hình tội phạm, nhân thân người phạm tội và các biện pháp phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên
ngoài 4 vấn đề cơ bản thì vẫn còn các vấn đề khác như lịch sử về các học thuyết TPH, TPH nước
ngoài, nạn nhân học (lấy nạn nhân làm trung tâm đối tượng nghiên cứu), hợp tác quốc tế trong
phòng chống tội phạm.
+ Lịch sử hình thành và phát triển tội phạm học. Khía cạnh lịch sử của tội phạm học phản
ánh "dòng chảy" tưởng về tội phạm phòng ngừa tội phạm xuyên suốt các thời kỳ lịch sử
cùng với các thành tựu cũng như những hạn chế của nó. Nghiên cứu lịch sử là để kế thừa và định
hướng phát triển tội phạm học. Mặt khác, những sáng kiến, kinh nghiệm được rút ra từ lịch sử tội
phạm học thể được vận dụng trong thực tiễn phòng chống tội phạm. Ngày nay, tri thức về lịch
sử của tội phạm học có vị trí quan trọng trong hệ thống tội phạm học.
+ Nạn nhân học. Nạn nhân của tội phạm cũng là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học.
Nếu đặt vấn đề sao một người phạm tội tìm hiểu nhân thân người phạm tội, thì ngược lại,
cũng cần đặt câu hỏi sao một người trở thành nạn nhân của tội phạm tất yếu phải nghiên
cứu khía cạnh nạn nhân của tội phạm. Nạn nhân được nghiên cứu trong tội phạm học không hạn
chế việc giải thích các tình huống phạm tội liên quan đến nạn nhân còn giải quyết nhiều
3
nhiệm vụ luận thực tiễn khác về phòng ngừa tội phạm (nghiên cứu được giải nguyên
nhân điều kiện => từ đó gợi ý cho những ng có nguy cơ thành nạn nhân chú ý hơn như chú ý bảo
vệ tài sản). Tri thức về nạn nhân của tội phạm (nạn nhân học) còn được xem như phần phụ
(sub-area) của tội phạm học. => Nạn nhân cũng một bộ phận trong tình huống khách quan,
nạn nhân cũng có vai trò trong cơ chế tâm lý xã hội của hành vi phạm tội
+ Tội phạm học nước ngoài. Ngày nay, tội phạm học phát triển mạnh ở nhiều quốc gia và
những đóng góp đáng kể cho hoạt động phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, quan điểm về tội
phạm phòng ngừa tội phạm trong luận thực tiễn của các nước thể những điểm
tương đồng khác biệt cần được tham khảo, đặc biệt tội phạm học của những nước có trình
độ phát triển. Một hướng tiếp cận khác đối với tội phạm học nước ngoài là nghiên cứu ở góc độ
so sánh - gọi "Tội phạm học so sánh" (Comparative Criminology)?. Như vậy, tội phạm học
nước ngoài cũng một đối tượng nghiên cứu đồng thời một lĩnh vực tri thức của Tội phạm
học.
+ Hợp tác quốc tế về phòng chống tội phạm. Nếu xem xét vấn đề một cách độc lập thì
hợp tác quốc tế phòng chống tội phạm diễn ra ba hướng chính. Một là, hợp tác thông qua lập
pháp hình sự, trong đó các quốc gia thống nhất về các dấu hiệu pháp hình sự đối với các tội
phạm tính chất quốc tế (như khủng bố, rửa tiền, buôn bán người,...) và tinh thần áp dụng các
biện pháp chế tài đối với các tội phạm đó. Hai là, các quốc gia thỏa thuận nội dung, cách thức
tương trợ pháp hình sự (theo dõi, điều tra tội phạm, dẫn độ, chuyển giao phạm nhân thi hành
hình phạt tủ,...). Thực chất đây hợp tác khía cạnh tố tụng hình sự. Ba là, hợp tác trong việc
trao đổi thông tin về tội phạm tính chất quốc tế, nguyên nhân xu hướng của nó; hợp tác
trong việc áp dụng các biện pháp kiểm soát tội phạm và phòng ngừa tội phạm giữa các quốc gia,
giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế; hợp tác trong đào tạo cán bộ, hỗ trợ phương tiện kỹ
thuật, tài chính,... Hợp tác quốc tế về phòng chống tội phạm ở khía cạnh này là đối tượng nghiên
cứu của tội phạm học.
Phân biệt: TPH và LHS:
=> Tội phạm học nghiên cứu nhóm tội phạm, nhóm người, hành vi ra sao, phương thức thế nào,
nghiên cứu bản án tình hình thế nào…Tội phạm học ngành khoa học nghiên cứu tội phạm có
thực xảy ra trong xã hội.
=> LHS chỉ tập trung quan tâm nghiên cứu thế nào tội phạm, dấu hiệu tội phạm trong cấu
thành tội phạm có quy định trong điều luật, trách nhiệm hình sự đối với các chủ thể, hình phạt.
=> Luật hình sự nghiên cứu tội phạm mức độ hành vi. Hành vi phạm tội có những thuộc tính,
dấu hiệu đặc trưng khác với những hành vi hội khác. Tuy nhiên, tội phạm được tội phạm học
nghiên cứu ở các mức độ tồn tại khác nhau, không chỉ ở mức độ hành vi mà còn ở mức độ chung
nhất, khái quát nhất, đó là "tình hình tội phạm". Và chỉ khi có sự nghiên cứu tội phạm từ mức độ
hành vi sang mức độ khái quát như vậy thì mới thể nhận thức được đầy đủ "bức tranh" tình
4
hình tội phạm, từ đó định ra một chiến lược, chương trình phòng ngừa tội phạm đồng bộ các
cấp độ.
=> Phân biệt LHS: nghiên cứu con người nhưng chỉ nghiên cứu chủ thể, độ tuổi, năng lực
chịu TNHS, lỗi, nghiên cứu vài tình tiết nhân thân để xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ để quyết
định hình phạt.
- Phạm vi, mức độ nghiên cứu nhân thân người phạm tội: Nhân thân người phạm tội được Tội
phạm học nghiên cứu
+ Tội phạm học chỉ nghiên cứu những đặc điểm nhân thân liên quan đến tội phạm
phòng ngừa THTP
+ Nghiên cứu nhân thân theo 4 nhóm (sinh học, tâm lý, xã hội, pháp lý)
- Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự chỉ phòng ngừa tội phạm ở mức độ rất hẹp, nó chỉ đợi cho tội
phạm xảy ra thì mới xử (đã xảy ra thiệt hại) chủ yếu “trừng phạt - răn đe” người phạm
tội.
=> TPH giải quyết triệt để hơn bằng việc nghiên cứu nguyên nhân + biện pháp phòng ngừa trước
khi tội phạm xảy ra sau khi tội phạm xảy ra thì nghiên cứu biện pháp xử hình sự + tố
tụng hình sự, chế hội, thiết chế xã hội có đủ để phòng ngừa tội phạm (Gọi chung là phòng
ngừa tội phạm sau khi tội phạm xảy ra) => Phòng ngừa theo nghĩa rộng.
*Kết luận: TPH nghiên cứu gần như tất cả những liên quan đến việc phát hiện ra nguyên
nhân của tội phạm và ảnh hưởng của các phương pháp khác nhau trong xử lí tội phạm.
Câu hỏi: phải đối tượng nghiên cứu của tội phạm học cũng là đối tượng nghiên cứu của các
ngành khoa học khác?
Như đã biết, Tội phạm học ngành khoa học đối tượng nghiên cứu riêng. Nếu chỉ nhìn bề
ngoài, những đối tượng nghiên cứu của Tội phạm học cũng đối tượng nghiên cứu của các
ngành khoa học khác.
Chẳng hạn như Tội phạm học, khoa học hình sự, khoa học tố tụng hình sự đều nghiên cứu về "độ
tuổi". Tuy nhiên, cùng nghiên cứu về độ tuổi nhưng các ngành khoa học khác nhau sẽ nghiên
cứu dưới các góc độ khác nhau. Trong khi khoa học hình sự nghiên cứu về độ tuổi để quyết định
trách nhiệm hình sự, định tội danh hay khoa học tố tụng hình sự nghiên cứu về độ tuổi để xác
định trình tự, thủ tục tố tụng phù hợp thì Tội phạm học nghiên cứu về độ tuổi để xác định nguyên
nhân và định hướng phòng ngừa tội phạm ứng với từng độ tuổi cụ thể.
2. Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học
Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là những vấn đề (sự vật, hiện tượng) mà ngành khoa học
này nghiên cứu trong những phạm vi, mức độ nghiên cứu cụ thể nhằm đạt được mục đích của
nó. Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học Việt Nam gồm bốn vấn đề cơ bản sau đây:
5
a. Tình hình tội phạm
Để sở phòng chống tội phạm trước hết phải hiểu bản chất của nó. Luật hình sự nghiên cứu
tội phạm mức độ hành vi. Hành vi phạm tội những thuộc tính, dấu hiệu đặc trưng khác với
những hành vi xã hội khác. Tuy nhiên, tội phạm được tội phạm học nghiên cứu ở các mức độ tồn
tại khác nhau, không chỉ mức độ hành vi còn mức độ chung nhất, khái quát nhất, đó
"tình hình tội phạm". chỉ khi có sự nghiên cứu tội phạm từ mức độ hành vi sang mức độ khái
quát như vậy thì mới thể nhận thức được đầy đủ "bức tranh" tình hình tội phạm, từ đó định ra
một chiến lược, chương trình phòng ngừa tội phạm đồng bộ ở các cấp độ.
góc độ hội, tội phạm học quan niệm tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội được hình
thành từ những xử sự tính hội. góc độ pháp lý, tình hình tội phạm được tạo thành từ
những hành vi bị luật hình sự coi tội phạm. Như vậy, tội phạm học đã tiếp cận tình hình tội
phạm khía cạnh xã hội - pháp lý. Tình hình tội phạm tồn tại khách quan và có những đặc điểm,
thuộc tính riêng của nó. Dựa vào các thuộc tính, đặc điểm này có thể biết được tính chất của tình
hình tội phạm phân biệt với các hiện tượng khác hiện diện trong hội. vậy, những
thuộc tính, dấu hiệu của tình hình tội phạm là nội dung đầu tiên của tình hình tội phạm được tội
phạm học nghiên cứu. Mặt khác, các thông số của tình hình tội phạm cũng được tội phạm học
làm sáng tỏ để sở đánh giá sự tồn tại, phổ biến của tình hình tội phạm đã xảy ra. Như vậy,
các thuộc tính, đặc điểm tình hình tội phạm các thông số tình hình tội phạm hai nội dung
đầu tiên, quan trọng cần nhận thức về tình hình tội phạm.
Tội phạm học nghiên cứu tình hình tội phạm ba mức độ: tình hình tội phạm chung (bao gồm
tất cả các tội phạm), loại tội phạm (bao gồm những tội phạm có cùng đặc điểm, tính chất) và tội
phạm cụ thể. Mỗi mức độ tồn tại đều quy loại luật riêng giữa chúng mối quan hệ biện
chứng tuân theo nhóm quy luật của cặp phạm trù cái chung - cái riêng của phép biện chứng duy
vật. Tình hình tội phạm cũng được tội phạm học nghiên cứu những phạm vi địa bàn hoặc
ngành - lĩnh vực khác nhau và trong những giai đoạn, thời điểm khác nhau.
thể nói tình hình tội phạm khái niệm bản, trung tâm trong tội phạm học. Những hiểu
biết ban đầu về tình hình tội phạm sẽ mở ra những nội dung nghiên cứu khác liên quan như
nguyên nhân phạm tội, dự báo tình hình tội phạm, phòng ngừa tội phạm
,.
- Tình hình tội phạm học là một hiện tượng xã hội được hình thành từ những tội phạm xảy ra trên
thực tế. góc độ hội, tình hình tội phạm học một hiện tượng hội được hình thành từ
những xử sự tính hội. góc độ pháp lý, tình hình tội phạm được tạo thành từ những hành
vi bị luật hình sự coi là tội phạm.
- Nội dung nghiên cứu về THTP:
+ Các thuộc tính, đặc điểm của THTP
+ Các thông số của THTP: tỷ lệ tội phạm trên đơn vị dân cư/diện tích/thời gian → Loại
tội phạm nào phạm tội nhiều nhất?
6
- Tội phạm học nghiên cứu tình hình tội phạm ở ba mức độ: tình hình tội phạm chung (bao gồm
tất cả các tội phạm), loại tội phạm (bao gồm những tội phạm có cùng đặc điểm, tính chất) và tội
phạm cụ thể
=> Mỗi mức độ tồn tại đều có quy loại luật riêng và giữa chúng có mối quan hệ biện chứng tuân
theo quy luật của cặp phạm trù cái chung - cái riêng của phép biện chứng duy vật.
- Tình hình tội phạm cũng được tội phạm học nghiên cứu ở những phạm vi địa bàn hoặc ngành -
lĩnh vực khác nhau trong những giai đoạn, thời điểm khác nhau. Phạm vi nghiên cứu: THTP
trong phạm vi quốc gia, địa phương, ngành.
- thể nói tình hình tội phạm khái niệm bản, trung tâm trong tội phạm học. Những hiểu
biết ban đầu về tình hình tội phạm sẽ mở ra những nội dung nghiên cứu khác liên quan như
nguyên nhân phạm tội, dự báo tình hình tội phạm, phòng ngừa tội phạm.
- Ý nghĩa của việc nghiên cứu THTP
+ Nhận thức được bản chất của THTP qua các thuộc tính, đặc điểm của THTP.
+ Nhận thức được sự tồn tại của THTP trên thực tế qua các thông số của THTP.
+ sở giải thích được nguyên nhân của THTP/TP cụ thể qua đặc điểm, quy luật của
THTP.
+ sở để dự báo tội phạm phòng ngừa TP qua thực trạng nguyên nhân của
THTP.
b. Nguyên nhân và điều kiện (NN&ĐK) của THTP
- NN&ĐK của THTP được Tội phạm học nghiên cứu là những hiện tượng tác động lẫn nhau làm
phát sinh, tồn tại tình hình tội phạm. => Chính giải thích nguyên nhân tạo ra nhiêu trường phái
TPH. VD: nguyên nhân bẩm sinh, di truyền
=> Sự tồn tại tình hình tội phạm luôn luôn nguyên nhân điều kiện. Nhu cầu nhận thức về
tình hình tội phạm tất yếu đưa đến việc tìm hiểu các nguyên nhân và điều kiện của nó. Mặt khác,
hoạt động phòng ngừa tội phạm hướng đến loại các nguyên nhân điều kiện. Như vậy,
nguyên nhân điều kiện của tình hình tội phạm là nội dung quan trọng thuộc đối tượng nghiên
cứu của tội phạm học.
- Nội dung nghiên cứu:
+ Các hiện tượng có khả năng làm phát sinh THTP.
+ Quan hệ nhân quả giữa THTP với các hiện tượng đó.
- Phạm vi nghiên cứu: NN&ĐK của THTP trong phạm vi quốc gia, địa phương, ngành…
- Mức độ nghiên cứu: NN&ĐK của TP cụ thể > NN&ĐK của Loại/nhóm TP > NN&ĐK của
THTP.
7
- Ý nghĩa của việc nghiên cứu NN&ĐK của THTP
+ Nhận thức được quy luật hình thành, thay đổi, xu hướng của THTP.
+ Giải thích được sự tồn tại của THTP trong xã hội; vì sao một người phạm tội; một tình
huống, hoàn cảnh nào có thể làm phát sinh tội phạm.
+ sở để dự báo THTP và phòng ngừa THTP trên cơ sở loại bỏ, khắc phục các nguyên
nhân và điều kiện của THTP.
- Sự tồn tại tình hình tội phạm luôn luôn có nguyên nhân và điều kiện. Nhu cầu nhận thức về tình
hình tội phạm tất yếu đưa đến việc tìm hiểu các nguyên nhân và điều kiện của nó. Mặt khác, hoạt
động phòng ngừa tội phạm hướng đến loại bỏ các nguyên nhân điều kiện. Như vậy, nguyên
nhân điều kiện của tình hình tội phạm là nội dung quan trọng thuộc đối tượng nghiên cứu của
tội phạm học.
- Nội dung yêu cầu nghiên cứu là làm sáng tỏ những hiện tượng, quá trình nào có vai trò làm
phát sinh, tồn tại tình hình tội phạm cũng như mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng trong
cơ chế đó. Vấn đề quan trọng là chứng minh được mối quan hệ nhân quả để thấy được tình hình
tội phạm là kết quả tất yếu của một số nguyên nhân và điều kiện nhất định.
- Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm được nghiên cứu ở phạm vi và mức độ chung
nhất (nguyên nhân điều kiện của tình hình tội phạm), phạm vi mức độ loại tội phạm
(nguyên nhân và điều kiện của loại tội phạm), ở phạm vi và mức độ tội phạm cụ thể.
c. Nhân thân người phạm tội
- Nhân thân người phạm tội được Tội phạm học nghiên cứu những đặc điểm thuộc về người
phạm tội, phản ánh bản chất của người phạm tội, có vai trò đối với việc thực hiện tội phạm, có ý
nghĩa trong phòng ngừa tội phạm.
- Nội dung nghiên cứu nhân thân người PT
+ Nguồn gốc đặc điểm nhân thân người phạm tội: bẩm sinh hay do học hỏi có. VD:
lứa tuổi là bẩm sinh, ý thức là học tập, thông qua nhận thức xã hội, đặc điểm tâm lý giới tính. Tội
phạm có nguyên nhân tâm lý, xã hội thì mới đặt ra biện pháp giáo dục, cải tạo.
+ Sự ảnh hưởng của đặc điểm nhân thân trong cơ chế hành vi phạm tội.
+ Mối quan hệ giữa các đặc điểm sinh học và đặc điểm xã hội của người phạm tội,
+ Phân loại chia nhóm người phạm tội dựa vào đặc điểm nhân thân
- Phân biệt LHS: nghiên cứu con người nhưng chỉ nghiên cứu chủ thể, độ tuổi, năng lực chịu
TNHS, lỗi, nghiên cứu vài tình tiết nhân thân để xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ để quyết định
hình phạt.
- Phạm vi, mức độ nghiên cứu nhân thân người phạm tội: Nhân thân người phạm tội được Tội
phạm học nghiên cứu
8
+ Tội phạm học chỉ nghiên cứu những đặc điểm nhân thân liên quan đến tội phạm
phòng ngừa THTP
+ Nghiên cứu nhân thân theo 4 nhóm (sinh học, tâm lý, xã hội, pháp lý)
- Ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội
+ Đánh giá đầy đủ hơn về THTP (đặc điểm THTP + đặc điểm người phạm tội)
+ Giải thích nguyên nhân, điều kiện tội phạm từ đặc điểm của người phạm tội.
+ Dự báo tội phạm từ đặc điểm người phạm tội.
+ Phòng ngừa tội phạm thông qua tác động làm thay đổi, khắc phục các đặc điểm nhân
thân người phạm tội.
Tội phạm do con người thực hiện, do đó muốn tìm hiểu bản chất tội phạm (hoặc tình hình tội
phạm) cần nghiên cứu con người phạm tội, mà cụ thể là làm sáng tỏ các đặc điểm nhân thân. Mặt
khác, các biện pháp phòng chống tội phạm chủ yếu tác động đến con người phạm tội và các mối
quan hệ hội của con người. Do đó, nhân thân người phạm tội trở thành đối tượng nghiên cứu
của tội phạm học.
Nhân thân người phạm tội được tội phạm học nghiên cứu bao gồm các đặc điểm đặc trưng, điển
hình phản ánh bản chất người phạm tội. Những đặc điểm này vai trò trong chế hành vi
phạm tội, góp phần làm phát sinh tội phạm.
Nội dung nghiên cứu nhân thân người phạm tội, trước hết tìm hiểu nguồn gốc hình thành các
đặc điểm nhân thân, sau đó phân tích để làm sáng tỏ đặc điểm, tính chất và mức độ tác động các
đặc điểm nhân thân đó trong chế tâm hội của hành vi phạm tội. Mặt khác, mối quan hệ
biện chứng giữa các đặc điểm sinh học các đặc điểm hội của người phạm tội cũng là một
chủ đề quan trọng của tội phạm học. Vấn đề phân loại (kiểu hóa) người phạm tội cũng được tiến
hành sau khi tìm hiểu các đặc điểm nhân thân người phạm tội.
Những đặc điểm nhân thân người phạm tội được nghiên cứu các khía cạnh sinh học, tâm
lý, hội pháp lý. Tất nhiên, không phải tất cả các đặc điểm nhân thân của người phạm
tội đều đối tượng nghiên cứu của tội phạm học chỉ những đặc điểm nhân thân nào
ý nghĩa đối với việc thực hiện tội phạm phòng chống tội phạm mới được tội phạm học
nghiên cứu.
=> Nếu nguyên nhân bẩm sinh thì nhà tù cũng không giải quyết được
Chỉ khi nào nhận thức một cách đầy đủ, sâu sắc về con người phạm tội thông qua các đặc điểm
nhân thân của họ mới thể "giải mã" được sao một người phạm tội phạm tội này chứ
không phạm tội khác. khi đó thể dự báo được tội phạm phòng ngừa tội phạm hiệu
quả.
9
d. Phòng ngừa tội phạm
=>Phòng ngừa tội phạm mục tiêu, đồng thời cũng đối tượng nghiên cứu của tội phạm học.
Kết quả của quá trình nhận thức về tội phạm và con người phạm tội sẽ đem lại nhiều ý nghĩa nếu
được vận dụng vào thực tiễn phòng ngừa tội phạm.
- Là nghiên cứu việc áp dụng biện pháp nhằm hạn chế, loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.
- Nội dung nghiên cứu phòng ngừa tội phạm
+ Các biện pháp phòng ngừa tội phạm
+ Các nguyên tắc phòng ngừa tội phạm
+ Các chủ thể phòng ngừa tội phạm
+ Dự báo và lập kế hoạch phòng ngừa tội phạm
- Phạm vi nghiên cứu: phương diện hội pháp lý; phòng ngừa toàn bộ tội phạm nói chung,
phòng ngừa loại tội phạm tội phạm cụ thể; phòng ngừa theo chủ thể chịu tác động của biện
pháp; phòng ngừa tội phạm ở phạm vi quốc gia, địa phương, ngành và lĩnh vực hoạt động xã hội.
II. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Tội phạm học
Câu hỏi: Cơ sở lý luận để tiếp cận vấn đề nghiên cứu như thế nào?
Câu hỏi: Phương pháp, cách thức nào để thu thập, phân tích, xử thông tin về vấn đề nghiên
cứu cụ thể?
hệ thống các cách thức, biện pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để thu thập, phân tích và
xử lý thông tin về những vấn đề cần nghiên cứu.
Vai trò: trực tiếp thu thập, phân tích, xử thông tin để chứng minh các vấn đề nghiên cứu cụ
thể.
1. Phương pháp luận
a. Khái niệm
- Phương pháp luận của Tội phạm học là hệ thống các khái niệm, nguyên tắc, phạm trù nhận thức
cho phép chủ thể, tiếp cận, lý giải, đánh giá về những vấn đề mà tội phạm học nghiên cứu. => Có
vai trò định hướng quá trình nghiên cứu các vấn đề của TPH => PP luận định hướng pp nghiên
cứu.
=> Như vậy phương pháp luận tồn tại dưới dạng học thuyết chủ nghĩa, trong đó đúc kết những
phạm trù quy luật trên sở đó cho phép chúng ta tiếp cận vấn đề, giải vấn đề, đánh giá vấn
đề.
VD: Lombroso đã tiếp cận học thuyết tiến hoá của Dawin để tiếp cận bề ngoài sinh học của con
người để giải thích rằng người phạm tội là do loài giống.
10
VD: Nếu nghiên cứu tội phạm theo quan điểm của triết học duy tâm thì tội phạm có nguyên nhân
từ kiếp trước, nằm ngoài con người, thần thánh.
VD: Phương pháp luận của Tội phạm học phương pháp luận triết học Mác-lênin. Sử dụng
phương pháp luận duy vật biện chứng - duy vật lịch sử, cụ thể:
+ Sử dụng nguyên về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển => từ đó lý giải
các vấn đề về sự vận động phát triển của TTTP trong hội sự thay đổi TTTP theo tiến
trình lịch sử của nó
+ Quy luật thống nhất đấu tranh giữa các mặt đối lập => hiểu được quá trình nghiên
cứu về tội phạm và phòng ngừa tội phạm đã được đặt ra từ lâu => các học thuyết khác nhau cũng
có kết luận khác nhau về thế nào là tội phạm
+ 6 cặp phạm trù triết học (Cái chung cái riêng (Mối quan hệ giữa tội phạm và TTTP,
trong đó tội phạm cụ thể đơn nhất, nhỏ nhất); Bản chất hiện tượng; Tất nhiên ngẫu
nhiên; Nguyên nhân và kết quả; Nội dung và hình thức; Khả năng và hiện thực) => các cặp phạm
trù này đều mối quan hệ biện chứng với nhau, nghĩa mọi sự thay đổi, vận hành của cái
riêng đều ảnh hưởng đến cái chung và ngc lại. => Điều này giải đáp cho câu hỏi tại sao tội phạm
cụ thể thay đổi thì tttp thay đổi. => nhìn từ góc độ quy luật của tội phạm, tội phạm xảy ra trên
thực tế. VD: hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý tăng => cầu tăng dẫn đến cung tăng => hành
vi sản xuất vận chuyển mua bán trái phép chất ma tuý tăng => nhóm tội phạm ma tuý gia tăng
=> hành vi xâm phạm trất tự xh, sở hữu, tính mạng sức khoẻ cx gia tăng => chạy tội => tham
nhũng gia tăng => vậy tttp cx gia tăng. Ngược lại đâu mà TTTP được quản lý chặc chẽ thì tội
phạm cụ thể khó mà gia tăng (ví dụ cướp ở tphcm lộng hành hơn hn)
+ Quan điểm lịch sử - cụ thể: khi nghiên cứu, đánh giá đối tượng nghiên cứu phải đặt nó
trong bối cảnh lịch sử thì mới đánh giá được khách quan nhất. VD: tình hình covid, tội phạm
phải đặt trong hoàn cảnh cụ thể này để xem xét.
Câu hỏi: Phân biệt thuật ngữ Tội phạm trong BLHS với tội phạm trong tội phạm học
=> Tội phạm theo LHS hiểu theo 3 cấp độ: tình hình tội phạm nói chung, nhóm tội phạm, tội
phạm cụ thể. Tội phạm trong LHS mang tính thuyết còn Tội phạm trong TPH ý chỉ hành vi
phạm đã xảy ra trên thực tế. Ngoài ra trong lhs thể hiểu nhóm tội phạm như nhóm tội phạm
xâm phạm sở hữu, tính mạng, sức khoẻ…; trong TPH thì nhóm này hiểu theo chủ đề phân nhóm
của cta như nhóm tội phạm do nam thực hiện, trên 18t (độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp..). Luật
hình sự nghiên cứu tội phạm mức độ hành vi. Hành vi phạm tội có những thuộc tính, dấu hiệu
đặc trưng khác với những hành vi hội khác. Tuy nhiên, tội phạm được tội phạm học nghiên
cứu các mức độ tồn tại khác nhau, không chỉ mức độ hành vi mà còn ở mức độ chung nhất,
khái quát nhất, đó "tình hình tội phạm". Và chỉ khi có sự nghiên cứu tội phạm từ mức độ hành
vi sang mức độ khái quát như vậy thì mới có thể nhận thức được đầy đủ "bức tranh" tình hình tội
phạm, từ đó định ra một chiến lược, chương trình phòng ngừa tội phạm đồng bộ các cấp độ.
tình hình tội phạm học một hiện tượng hội được hình thành từ những tội phạm xảy ra
11
trên thực tế. Ở góc độ xã hội, tình hình tội phạm học là một hiện tượng xã hội được hình thành từ
những xử sự tính hội. góc độ pháp lý, tình hình tội phạm được tạo thành từ những hành
vi bị luật hình sự coi là tội phạm.
Tội phạm học đối tượng nghiên cứu phức tạp. Kết quả nghiên cứu sự phụ thuộc vào
phương pháp luận. Về mặt ngữ nghĩa, phương pháp luận luận về phương pháp. Một hệ
thống luận với các khái niệm, nguyên tắc, phạm trù nhận thức vai trò định hướng chủ thể
nghiên cứu tiếp cận, giải, đánh giá về đối tượng nghiên cứu, đó phương pháp luận. Một
phương pháp luận khoa học đòi hỏi tính khoa học, khách quan toàn diện để thể dựa
vào đó nghiên cứu tội phạm học một cách đúng đắn. Phương pháp luận của tội phạm học có thể
là những thành tựu lý luận của triết học, chính trị học, xã hội học, tâm lý học, sinh vật học...
Mặc không chính thức gọi phương pháp luận, nhưng tưởng của nhà hội học Pháp,
Auguste Comte (1798 - 1857), trong việc sử dụng các phương pháp hiện đại của khoa học tự
nhiên để nghiên cứu hội học học thuyết tiến hóa của Charles Darwin (1809 - 1882) đã ảnh
hưởng đến quan điểm của nhà tội phạm học thực chứng Cesare Lombroso (1835 - 1909). Comte
đã khẳng định rằng không thể một tri thức tin cậy về hiện tượng hội trừ khi được dựa
trên một cách tiếp cận thực chứng (khoa học). Lombroso đã tiếp cận người phạm tội một cách
trực tiếp bằng phương pháp quan sát, đo đạc, so sánh kích thước bề ngoài của họ để đưa ra kết
luận về dấu hiệu của người phạm tội bẩm sinh. Mặt khác, trong tác phẩm Nguồn gốc của giống
loài (Origin of Species) năm 1859, Darwin cho rằng giống loài đã tiến hóa thông qua quá
trình biến đổi thích nghi, chọn lọc tự nhiên và đấu tranh sinh tồn. Năm 1871 ông lại cho xuất
bản quyển sách thứ hai chứng minh rằng loài người nguồn gốc từ một loại động vật bậc cao.
Chính thế, Lombroso đã khẳng định người phạm tội là một dạng thấp hơn của loài người, gần
với tổ tiên loài người, đặc điểm thể chất của giống loài giai đoạn đầu thời kỳ phát triển
trước khi họ trở thành con người toàn diện. Rõ ràng, Auguste Comte với Triết học thực chứng và
Charles Darwin với Học thuyết tiến hóa không phải là những nhà tội phạm học. Lombroso đã kết
hợp chủ nghĩa thực chứng của Comte và học thuyết tiến hóa của Darwin cùng với những nghiên
cứu tiên phong khác về mối quan hệ giữa tội phạm thể con người, đã cho ra đời tác phẩm
Con người phạm tội (The Criminal Man) vào năm 1876. Đây một trong những tác phẩm làm
nên học thuyết tội phạm học - thuyết tội phạm bẩm sinh (born criminal Theory).
Một học thuyết khác lĩnh vực tâm học cũng ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển
trường phái tâm lý trong tội phạm học, đó là Phân tâm học (Psychoanalytic psychology) của thầy
thuốc người Áo chuyên chữa bệnh thần kinh, Sigmund Freud (1856 - 1939). Freud không dành
nhiều thời gian để tạo ra thuyết về tội phạm.. Chính Freud cũng định nghĩa: “Phân tâm học là
một phương pháp y học chữa trị những bệnh thần kinh..." trong "Phân tâm học nhập môn"
(1916). Thế nhưng Phân tâm học của ông với hệ thống thuyết về cấu trúc tinh thần (mind),
bao gồm ý thức (conscious), tiền ý thức (preconscious) thức (unconscious) cùng với cấu
trúc nhân cách (personality), bao gồm bản năng (id), bản ngã (ego) và siêu ngã (superego) có thể
áp dụng để giải chế hình thành hành vi phạm tội khía cạnh tâm lý. dụ, với tất cả ba
12
phần của nhân cách, con người từ hoạt động đến kiểm soát hành vi. Trong đó, bản năng (id) có
thể yêu cầu một sự thỏa mãn, chẳng hạn tình dục tiền hôn nhân; cái siêu ngã (superego) cảnh báo
cảm giác tội lỗi vì sự thèm muốn đó; cái ngã (ego) có thể thỏa hiệp, dàn xếp, chẳng hạn họ có thể
hoạt động tình dục nhưng không nên đi "quá xa" hoặc đại loại như vậy, vì có thể gặp rắc rối.
Từ những nhận thức trên cho thấy phương pháp nghiên cứu nói chung và phương pháp luận nói
riêng cũng một trong những vấn đề cần được làm sáng tỏ khi tìm hiểu tội phạm học. Lịch sử
tội phạm học cho thấy các kết quả nghiên cửu có sự khác nhau, hình thành các trường phái (học
thuyết) tội phạm học khác nhau, do một phần các nhà nghiên cứu quan điểm tiếp cận,
đánh giá đối tượng nghiên cứu khác nhau. Trước đây, ý kiến phê phán phương pháp luận
trong tội phạm sản: "Đặc trưng nổi bật nhất trong phương pháp luận của tội phạm học tư sản
không một phương pháp luận thống nhất cho việc nghiên cứu những vấn đề của tội phạm
học. Đặc điểm của phương pháp luận của tội phạm học sản tính đa nguyên tính chiết
trung, tức sự kết hợp của những quan điểm triết học khác nhau, đôi khi đối lập nhau,..
Trong khi đó, việc xây dựng tội phạm học hội chủ nghĩa đã được dựa trên những luận điểm
của chủ nghĩa duy vật biện chứng chủ nghĩa duy vật lịch sử (chủ nghĩa Mác -- Lênin). C.
Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin không phải người xây dựng nên học thuyết về tội phạm học xã
hội chủ nghĩa, nhưng các ông đã tạo các tiền đề, cơ sở lý luận cần thiết cho ngành khoa học này.
b. Phương pháp luận của tội phạm học Việt Nam
- Phương pháp luận TPH VN: Tội phạm học VN sử dụng hệ thống các khái niệm, nguyên lý, quy
luật, phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng chủ nghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp
luận.
Lưu ý: Chủ nghĩa duy vật biện chứng Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống lý luận được sử
dụng trong phương pháp luận của Tội phạm học Việt Nam (trường phái tội phạm học Mác xít),
chứ không phải là phương pháp luận của Tội phạm học Việt Nam.
- Ứng dụng các nguyên lý, quy luật, phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong nghiên
cứu TPH VN:
+ Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển
+ Các quy luật (quy luật lượng - chất, quy luật mâu thuẫn, quy luật phủ định...)
+ Các cặp phạm trù: chung - riêng; nhân - quả, nội dung - hình thức
- Ứng dụng các nguyên lý, quy luật, phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong nghiên cứu
TPH, đánh giá tình hình tội phạm trong mối liên hệ của các hiện tượng xã hội khác như kinh tế,
chính trị, tâm lý học…
+ Học thuyết hình thái kinh tế
+ Bản chất giai cấp (bản chất Nhà nước là giai cấp)
13
+ Bản chất con người (mỗi nền tảng triết học khác nhau bàn về con ng khác nhau). =>
quy luật tiến hoá - phát triển ngôn ngữ => con ng là tổng hòa các quan hệ xã hội.
Việt Nam hiện nay, chủ nghĩa duy vật biện chứng chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng với các
nguyên tắc, phạm trù nhận thức của vai trò định hướng nghiên cứu các sự vật, hiện tượng
trong tự nhiên, trong hội trong duy, trong đó những hiện tượng thuộc đối tượng
nghiên cứu của tội phạm học. Hay nói cách khác, tội phạm học Việt Nam sử dụng hệ thống các
khái niệm, nguyên tắc, quy luật, phạm trù của (chủ nghĩa duy vật biện chứng chủ nghĩa
duy vật lịch sử làm phương pháp luận.
Trước hết, theo của chủ nghĩa duy vật biện chứng, cụ thể là nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến của sự vật, hiện tượng, tội phạm học Việt Nam khẳng định sự tồn tại khách quan của
tình hình tội phạm mối liên hệ, tác động qua lại giữa tình hình tội phạm với các hiện
tượng hội khác. Chỉ khi nào đặt tình hình tội phạm trong mối quan hệ với những hiện tượng
kinh tế, hội đang tồn tại để nghiên cứu thì mới thể hiểu đúng bản chất, quy luật của tình
hình tội phạm.
- VD: Mối liên hệ: tình hình tp mang màu sắc công nghệ vì bối cảnh xh ngày nay. Nhìn sự vật ht
trong bối cảnh của nó.
- Quy luật mâu thuẫn nguyên nhân tội phạm, sở động lực phát triển. Tội phạm suy cho
cùng phản ánh mâu thuẫn, tình hình hội. Mối quan hệ nhân quả để giải thích nguyên nhân
điều kiện của THTP
Với nguyên về sự phát triển của sự vật, hiện tượng, thì tình hình tội phạm không phải
hiện tượng tồn tại bất biến, hình thành, phát triển từ trạng thái này sang trạng thái
khác (xu hướng phát triển từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao) Sự vận động, thay đổi
của tình hình tội phạm khía cạnh lượng -- chất quy luật khách quan của tình hình tội
phạm. Quy luật mâu thuẫn quy luật phủ định của phủ định của phép biện chứng duy vật là cơ
sở để nhận thức nguyên nhân khách quan của sự thay đổi và cách thức thay đổi của tình hình tội
phạm.
Mặt khác, trên sở cặp phạm trù cái chung - cái riêng, cặp phạm trù nội dung - hình thức, cặp
phạm trù nhân - quả, tội phạm học Việt Nam chỉ mối quan hệ biện chứng giữa tình hình tội
phạm - loại tội phạm - tội phạm cụ thể, mối quan hệ giữa bản chất và các hình thức biểu hiện của
tình hình tội phạm, mối quan hệ giữa tình hình tội phạm với những hiện tượng làm phát sinh ra
nó...
Chủ nghĩa duy vật lịch sử định hướng tiếp cận lịch sử về tình hình tội phạm con người
phạm tội. Tình hình tội phạm xuất hiện, thay đổi, tiêu vong gắn với hoàn cảnh, sự kiện lịch sử cụ
thể. nguyên nhân sâu xa từ những xung đột về lợi ích trong xã hội có mâu thuẫn giai cấp.
V.I. Lênin đã chỉ rõ: “Chúng ta biết rằng, nguyên nhân xã hội cơ bản của tội phạm, cần phải tìm
trong sự bóc lột quần chúng, trong sự bần cùng hóa sự đói nghèo của họ. Cùng với sự thanh
toán các nguyên nhân chủ yếu này, tình hình tội phạm ắt sẽ bắt đầu tiêu vong”. Tình hình tội
14
phạm còn phản ánh điều kiện vật chất hội với một hệ tưởng chính trị, pháp tương
ứng (Xã hội xung đột thì tội phạm). Con người phạm tội được tội phạm học nghiên cứu
con người cụ thể, là sản phẩm xã hội, của lịch sử, giai cấp, văn hóa, tôn giáo, truyền thống.
Như vậy, chủ nghĩa duy vật biện chứng chủ nghĩa duy vật lịch sử cụ thể hệ thống các
khái niệm, quy luật, phạm trù của vai trò là nền tảng tư tưởng để nghiên cứu tội phạm học
ở Việt Nam.
2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- hệ thống các cách thức, biện pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để thu thập, phân tích và
xử lý thông tin về những vấn đề cần nghiên cứu
- Vai trò: trực tiếp thu thập, phân tích, xử thông tin để chứng minh các vấn đề nghiên cứu cụ
thể
Câu hỏi: sao không sử dụng phương pháp nghiên cứu của y học để làm phương pháp nghiên
cứu của TPH?
=> Con người được cấu thành bởi quy luật sinh học (phần con và phần người)
Trường phái nghiên cứu phần con quyết định hành vi ứng xử, như vậy nếu ngta đề cao mặt tự
nhiên trong con người thì người ta sẽ dùng phương pháp nghiên cứu tự nhiên bao gồm y học.
=> Trường phái bản chất con người không bị quyết định bởi yếu tố tự nhiên, ứng xử hành vi
trong con người nằm xã hội trong con người, nhận thức, trình độ, đạo đức, ý thức pháp luật =>
xét nghiệm không biết được. Đề cao mặt hội trong con người phải dùng phương pháp xã hội
học. Nếu đề cao phần con trong con người thì phải nghiên cứu bằng phương pháp khác. Do
vậy phương pháp để tiếp cận mặt hội trong con người khác với phương pháp để tiếp cận mặt
tự nhiên, do đó nếu chúng ta đề cao bản chất con người tự nhiên thì có phương pháp tiếp cận
tự nhiên còn nếu đề cao mặt hội thì nghiên cứu bằng phương pháp xã hội học. Sở dĩ phương
pháp nghiên cứu con người khác nhau bởi về mặt phương pháp luận chúng ta quan niệm
con người là khác nhau
=> Quan niệm đối tượng nghiên cứu như thế nào sẽ phương pháp phù hợp. Đây là mối quan
hệ giữa phương pháp nghiên cứu với đối tượng nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu cụ thể và
phương pháp luận.
Các phương pháp nghiên cứu Tội phạm học
- PP thống hình sự: dụ mỗi năm có 20.000 vụ án ma tuý, trong khi tổng số vụ án là 60.000
như vậy vụ án ma tuý chiếm 30%. Trong khi đó điều luật về ma tuý chỉ có 13 điều, còn các điều
luật về tội phạm gồm 314 điều như vậy chiếm tỷ lệ 4,1%. 30%>4.1%
- PP nghiên cứu chọn lọc, nghiên cứu điển hình
- Các PP nghiên cứu XHH
15
+ PP phiếu điều tra
+ PP quan sát
+ PP phỏng vấn: trí tuệ thể hiện qua lời nói.
+ PP thực nghiệm
+ PP chuyên gia
+ PP so sánh các nguồn tài liệu toán học, máy tính
a. Phương pháp thống kê hình sự (phổ biến nhất)
- K/N: phương pháp thu thập thông tin tội phạm bằng kỹ thuật và quy định về thống kê; trong
đó đối tượng thống kê chủ yếu là tội phạm, người phạm tội, thiệt hại,... Quá trình nghiên cứu tình
hình tội phạm cần dựa vào các số liệu thống kê.
- Phương pháp thống nghiên cứu sự phụ thuộc giữa con số thống kê tội phạm với các nhân tố
như nghèo khổ, lứa tuổi, giới tính, khí hậu. Từ đó kết luận rằng xã hội chứ không phải quyết định
nhân của người phạm tội nguyên nhân của hành vi phạm tội. Việt Nam, việc thống
hình sự được tiến hành theo quy định pháp luật, do các cơ quan chức năng (Công an, Viện kiểm
sát, Tòa án) thực hiện hoặc thống kê theo các mục đích riêng của các nhà nghiên cứu.
- góc độ khoa học, phương pháp thống hình sự giải quyết một số nhiệm vụ nghiên cứu cơ
bản như:
+ Thứ nhất, tả tình hình tội phạm bằng con số thống kê. Số liệu thống phản ánh
phần lớn số liệu tội phạm người phạm tội đã bị phát hiện, xử (số tuyệt đối). Do vậy, thông
qua phương pháp thống thể tiếp cận một phần bức tranh về tình hình tội phạm (chỉ mô tả
được phần tội phạm hiện). Việc mô tả tình hình tội phạm bằng số liệu thống kê còn được thể hiện
qua con số tương đối trong các trường hợp sau:
Xác định hệ số (cơ số) tình hình tội phạm khi lấy tổng số tội phạm được thống chia
cho tổng số dân rồi nhân với 10 000 hoặc 100 000
Xác định tỷ trọng tội phạm hoặc loại tội phạm. Đó là tương quan giữa tội phạm hoặc loại
tội phạm trên tổng số tội phạm được thống kê.
Xác định chỉ số trung bình, lấy tổng số tội phạm được thống kê chia cho số các trường
hợp. dụ, lấy tổng số tội phạm được thống trong 5 năm chia cho 5 để biết số tội
phạm trung bình của một năm.
+ Thứ hai, giải thích về tình hình tội phạm. So sánh số liệu thống tình hình tội phạm
với các số liệu thống kê các hiện tượng xã hội khác (dân số, việc làm, thu nhập, học vẫn,..), từ đó
cho thấy mối quan hệ sự phụ thuộc giữa tình hình tội phạm với các hiện hội, thể
nguyên nhân điều kiện tình hình tội phạm. VD: sau mùa world cup thì tội phạm sở hữu gia
tăng
+ Thứ ba, dự báo tội phạm. Phương pháp thống cũng được sử dụng để dự báo tội
phạm. Nếu số liệu thống tội phạm đầy đủ, trong một giai đoạn dài cần thiết sẽ phản ánh xu
16
hướng của tình hình tội phạm trong tương lai. Nếu chọn một thời điểm tương ứng với con số cụ
thể được thống lâm mốc (quy ước 100%), những thời điểm tiếp theo thể suy ra tỷ lệ trên
hoặc dưới 100% (nếu so sánh với thời điểm được chọn làm mốc), có nghĩa là diễn biến tội phạm
có xu hướng tăng hay giảm.
+ Thứ tư, đánh giá hiệu quả phòng ngừa tội phạm tổ chức hoạt động phòng ngừa tội
phạm. Thông qua số liệu thống hình sự những thay đổi của thể đánh giá mức độ
tăng, giảm tội phạm suy ra hiệu quả phòng ngừa tội phạm. Cũng từ những số liệu thống
định ra các hướng phòng ngừa tội phạm (loại tội phạm nào? Xảy ra ở đâu?,...).
- Các bước thực hiện phương pháp thống kê:
+ Bước thứ nhất, thu thập số liệu thống kê. Số liệu thống tội phạm hiện nay chủ yếu
được thu thập từ kết quả thống của các quan chức năng như: Công an, Viện kiểm sát, Tòa
án. Mục đích của thống kê hình sự, ngoài việc đánh giá chính xác, khách quan tình hình vi phạm
pháp luật hình sự, tội phạm, còn nhằm từng bước xây dựng sở dữ liệu về vi phạm pháp luật
hình sự, tội phạm kết quả giải quyết các vụ án hình sự phục vụ công tác nghiên cứu, đánh giá
tổng quát về tình hình tội phạm.
+ Bước thứ hai, tổng hợp phân loại số liệu thống kê. Số liệu thống kê sau khi thu thp,
nhà nghiên cứu tiến hành tổng hợp (cộng, nhóm, xử các số liệu theo thời gian, địa bàn,...) và
phân loại theo mục đích nghiên cứu (hướng đến tìm hiểu loại tội phạm, mức hình phạt, nhân
thân,...).
+ Bước thứ ba, phân tích, đánh giá số liệu thống kê. Đây bước nhà nghiên cứu có
thể đưa ra các kết luận về tình hình tội phạm, nguyên nhân của tội phạm, xu hướng của tội phạm
trên cơ sở số liệu thống kê đã được thu thập, xử lý.
- Ưu điểm: có khả năng định lượng số tội phạm, người phạm tội với con số lớn
b. Phương pháp nghiên cứu chọn lọc (Phương pháp điều tra, nghiên cứu điển hình)
- K/N: phương pháp nghiên cứu toàn bộ hiện tượng thông qua một bộ phận điển hình của nó.
Kết quả nghiên cứu bộ phận được sử dụng để đánh giá chung cho toàn bộ hiện tượng cần nghiên
cứu. phương pháp phạm vi đối tượng nghiên cứu rộng lớn, không phải nội dung nghiên
cứu nào cũng được thống kê, phải sử dụng thông tin từ nghiên cứu chọn lọc.
dụ, phân tích 2 175 vụ cướp, cưỡng đoạt cho thấy: ban ngày xảy ra 370 vụ (17%), từ 19h -
22h: 1320 vụ (60,7%), 23h 5h: 485 vụ (22,3%). Kết quả khảo sát này (của 2 175 vụ) phản ánh
đặc điểm chung về thời gian xảy ra án cướp, cưỡng đoạt tài sản thay phải khảo sát tất cả
những vụ án đã xảy ra trên thực tế.
- Ưu điểm của phương pháp tiết kiệm thời gian, công sức nghiên cứu và có thể phản ánh gần
đúng sự thật. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của khả năng sai số do chỉ nghiên cứu một
bộ phận của toàn thể đối tượng cần nghiên cứu. Nếu chọn mẫu nghiên cứu với con số lớn và tính
17
điển hình cao sẽ cho sai số thấp hơn và ngược lại. Tội phạm học có đưa ra bảng quy tắc sai số để
giúp cho quá trình chọn số lượng mẫu nghiên cứu và đánh giá mức độ tin cậy của kết quả nghiên
cứu bằng phương pháp nghiên cứu chọn lọc.
c. Các phương pháp nghiên cứu xã hội học
- Phương pháp phiếu điều tra: Là phương pháp thu thập thông tin bằng phiếu điều tra, có ghi sẵn
nội dung các câu hỏi. Đây phương pháp nghiên cứu hội học thường được tội phạm học sử
dụng. Không phải thông tin nào cũng thế thu thập bằng phương pháp thống kê, như ý thức
pháp luật, do phạm tội, tình trạng do ẩn của tội phạm, luận hội về tình hình tội
phạm hiệu quả phòng ngừa tội phạm,... Tuy nhiên, đây lại những nguồn thông tin
phương pháp phiếu điều tra có thể thu thập được => ưu điểm
Yêu cầu quan trọng nhất của phương pháp này là kỹ thuật đặt câu hỏi trong bảng câu hỏi (phiếu)
để thăm ý kiến của người được hỏi. Các câu hỏi phải dễ hiểu, đúng trọng tâm nghiên cứu,
hướng dẫn tâm lý của người được hỏi một cách tự nhiên khi lần lượt trả lời các câu hỏi. Kỹ thuật
thiết kế câu hỏi gồm các dạng: câu hỏi đóng (một phương án trả lời), câu hỏi mở (nhiều phương
án trả lời, tự do trình bày quan điểm), câu hỏi kết hợp đóng - mở. Vấn đề quan trọng thứ hai là
chọn mẫu để điều tra sao cho kết quả thu thập được có tính đại diện, đáng tin cậy.
Hạn chế của phương pháp này là người hỏi không kiểm soát được thái độ của người trả lời phiếu
điều tra (ví dụ, người trả lời không hiểu vấn đề, không nhiệt tình trả lời hoặc trả lời thiếu trách
nhiệm, trả lời thay,...).
Phiếu điều tra một dạng phương pháp nghiên cứu chọn lọc, do đó số lượng mẫu điều tra càng
lớn thì xác suất đúng càng cao.
- Phương pháp phỏng vấn (đối thoại): phương pháp thu thập thông tin bằng cách hỏi - đáp
trực tiếp. Nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra cho phương pháp phỏng vấn cũng giống như phương pháp
phiếu điều tra, nhưng chi khác phương thức thực hiện: hỏi - trả lời trực tiếp, thay qua phiếu
điều tra. Ưu điểm của phương pháp này người nghiên cứu kiểm soát được thái độ của người
trả lời. Tuy nhiên, tùy vào nội dung, mục đích đối tượng phỏng vấn để lựa chọn hình thức
phỏng vấn sao cho phù hợp với diễn biến tâm của người được hỏi. Để kết quả phỏng vấn
tốt, phù hợp yêu cầu nghiên cứu, cần chuẩn bị trước nội dung các câu hỏi.
- Phương pháp quan sát: phương pháp thu thập thông tin qua quan sát bằng mắt. Quan sát
cũng thể thu thập thông tin bề ngoài của đối tượng cần quan sát, từ đó đoán được diễn biến
tâm bên trong. Nhiệm vụ của phương pháp này trong Tội phạm học nghiên cứu tình trạng
sức khỏe, hình thái, tâm lý, thái độ của người phạm tội. Các loại quan sát: quan sát tự nhiên,
quan sát trong môi trường nhân tạo, tham gia vào hoạt động quan sát. Yêu cầu của phương pháp:
quan sát phải có chủ đích - có ghi chép các kết quả quan sát, quan sát không xâm phạm vào tự do
riêng tư của người bị quan sát.
18
- Phương pháp thực nghiệm: Là phương pháp nghiên cứu bằng cách tạo ra hoặc thay đổi các điều
kiện đề kiểm tra kết quả nghiên cứu. Trong Tội phạm học sử dụng chủ yếu là phương pháp thực
nghiệm hội như thay đổi điều kiện giáo dục, thay đổi điều kiện, phương tiện phát hiện tội
phạm,... để khẳng định hay không sự phụ thuộc giữa đổi tượng nghiên cứu và điều kiện hoàn
cảnh đưa ra thực nghiệm. Nhiệm vụ của phương pháp này chủ yếu kiểm tra các nguyên nhân và
điều kiện phạm tội liên quan đến hoàn cảnh giáo dục, khả năng phát hiện tội phạm, hiệu quả áp
dụng các biện pháp cải tạo để phòng ngừa tội phạm. Vấn đề cần lưu ý của phương pháp này là
không được làm xấu hơn tình trạng của đối tượng thực nghiệm.
- Phương pháp chuyên gia: phương pháp tham khảo ý kiến các chuyên gia kinh nghiệm
trong nghiên cứu hoạt động thực tiễn về lĩnh vực cần nghiên cứu. Nếu như thế mạnh của
phương pháp thống khả năng định lượng số tội phạm, người phạm tội với con số lớn thì
thể mạnh của phương pháp chuyên gia là có khả năng làm sáng tỏ mặt định tính của tình hình tội
phạm một cách sâu sắc. Phương pháp chuyên gia thể được sử dụng hiệu quả trong điều kiện
thiếu thông tin tội phạm, điều kiện kinh tế xã hội thay đổi nhanh chóng. Phương pháp chuyên gia
được thực hiện theo các bước:
Thứ nhất, nhóm nghiên cứu thu thập, cung cấp thông tin, đề nghị yêu cầu đánh giá; thứ hai,
thành lập nhóm chuyên gia tổ chức cho chuyên gia làm việc, đưa ra ý kiến; thứ ba, nhóm
nghiên cứu tổng hợp, xử lý ý kiến các chuyên gia để đưa ra kết quả nghiên cứu.
Hình thức thực hiện: thể tổ chức cho các chuyên gia làm việc nhân hoặc làm việc tập thể
(hội thảo, tọa đàm).
- Phương pháp so sánh các nguồn tài liệu: phương pháp so sánh các nguồn tài liệu ở các lĩnh
vực liên quan đến tình hình tội phạm để tìm mối quan hệ sự phụ thuộc giữa tình hình tội
phạm với các hiện tượng xã hội khác. Ví dụ, tài liệu phát hiện xử lý buôn lậu của hải quan, xử lý
hàng giả của quản thị trường, tài liệu chi trả bảo hiểm do tội phạm gây ra của quan bảo
hiểm, tài liệu của các cơ quan y tế về điều trị thương tật, tai nạn do tội phạm gây ra,...
- Các phương pháp toán học, máy tính không trực tiếp thu thập thông tin từ đối tượng nghiên cứu
thường hỗ trợ quá trình xử thông tin, tài liệu được thu thập từ những phương pháp khác,
như xử lý số liệu thống kê, phiếu điều tra…
Câu hỏi: Tại sao Tội phạm học lại có những phương pháp nghiên cứu trên?
=> Tội phạm học ngành khoa học hội - pháp đối tượng nghiên cứu những hiện
tượng hội tính pháp nên mọi vấn đề nghiên cứu phải làm sáng rõ bản chất pháp lý và xã
hội của Tội phạm học. Mặt khác, xét về mặt bản chất, các phương pháp nghiên cứu Tội phạm
học được chia làm 02 nhóm chính: nhóm phương pháp phục vụ dưới mặt pháp lý (phương pháp
thống hình sự) nhóm phương pháp phục vụ dưới mặt hội (phương pháp hội học...).
Do đó, tồn tại những phương pháp nghiên cứu trên trong Tội phạm học.
III. Chức năng, nhiệm vụ và hệ thống tội phạm học
19
1. Chức năng của tội phạm học
- Chức năng của tội phạm học được hiểu những phương diện nghiên cứu bản, thường
xuyên của tội phạm học. phản ánh trình độ, xu hướng của tội phạm học ở các cấp độ: mô tả,
giải thích quy luật, dự báo can thiệp vào quy luật đó. Như vậy, có thể nói tội phạm học có ba
chức năng bản: chức năng tả, chức năng giải thích, chức năng dự báo phòng ngừa tội
phạm.
- Chức năng mô tả của tội phạm học: Tội phạm học làm sáng tỏ các đặc điểm về lượng - chất của
tình hình tội phạm, qua đó thấy được bức tranh tình hình tội phạm đã và đang xảy ra trên thực tế.
- Chức năng giải thích của tội phạm học: Tội phạm học làm sáng tỏ quy luật hình thành, thay
đổi, phát triển của tình hình tội phạm nói chung; quy luật về sự hình thành các đặc điểm nhân
thân người phạm tội cũng như vai trò của chúng trong cơ chế tâm lý xã hội của hành vi phạm tội.
- Chức năng dự báo phòng ngừa tội phạm: Trên sở kết quả tả về tình hình tội phạm,
giải thích quy luật của tình hình tội phạm, tội phạm học có khả năng dự báo xu hướng phát triển
của tình hình tội phạm trong tương lai.
Yêu cầu thực tiễn cho thấy dự báo tội phạm có tầm quan trọng và cần được tiến hành nghiên cứu
thường xuyên để định hướng công tác phòng ngừa tội phạm. Các chức năng của tội phạm học có
mối quan hệ mật thiết với nhau, từ đó định ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể.
Hiện nay, những quan điểm khác về chức năng của tội phạm học. Quan điểm thứ nhất cho
rằng tội phạm học ba chức năng: chức năng mô tả, chức năng giải thích và chức năng dự báo.
Quan điểm thứ hai cho rằng tội phạm học bốn chức năng: chức năng tả, chức năng giải
thích, chức năng dự báo chức năng phòng ngừa". Tội phạm học không thể thiếu chức năng
phòng ngừa tội phạm và cũng không nên coi dự báo tội phạm là một chức năng độc lập. Thực tế,
dự báo tội phạm gắn liền với phòng ngừa tội phạm. vậy, xem tội phạm học có ba chức năng
với những nội dung của từng chức năng như đã trình bày là phù hợp.
Câu hỏi: Chức năng nào là chức năng quan trọng nhất của Tội phạm học?
=> Mặc chức năng dự báo phòng ngừa tội phạm chức năng phù hợp với mục tiêu của
Tội phạm học (vì dự báo phòng ngừa tội phạm điều tiên quyết, quan trọng nhất của Tội
phạm học), nhưng không chức năng nào quan trọng nhất, mà mỗi chức năng đều có giá trị
nhất định, vai trò riêng, bổ trợ làm sáng đối tượng nghiên cứu (các vấn đề nghiên cứu)
trong Tội phạm học.
Câu hỏi: Có nên tách chức năng dự báo và phòng ngừa tội phạm không?
=> Không nên tách riêng thành hai chức năng dự báo chức năng phòng ngừa tội phạm,
nên gộp lại thành một chức năng thống nhất dự báo và phòng ngừa tội phạm có sự hỗ trợ cho
nhau, không thể tách rời nhau. Tội phạm học không thể thiếu chức năng phòng ngừa tội phạm và
cũng không nên coi dự báo tội phạm là một chức năng độc lập. Thực tế, dự báo tội phạm gắn liền
20

Preview text:

TỘI PHẠM HỌC
BÀI 1: KHÁI QUÁT CHUNG
Tội phạm học được ví như triết học về tội phạm, trong đó tội phạm ma tuý tử hình vẫn còn nhiều
nhất. Giải pháp đầu tiên trong ngăn ngừa tội phạm là đừng để bị tội phạm, giải pháp thứ 2 là can
thiệp sâu, khắc phục tình trạng người có nguy cơ phạm tội, giải pháp thứ 3 là xử lý người phạm tội.
I. Khái niệm tội phạm học và đối tượng nghiên cứu của tội phạm học
1. Khái niệm tội phạm học
- Tội phạm là hiện tượng xã hội tồn tại khách quan, có tính nguy hiểm cao nên cần có các
biện pháp phòng chống. Vì thế nhà nước ở các thời kì lịch sử đã quy định trong pháp luật những
hành vi nào là tội phạm cùng với một hệ thống hình phạt, và khi một tội phạm được thực hiện sẽ
có cơ sở pháp lý để trừng phạt, răn đe. Mặt khác, để tất cả các tội phạm được thực hiện đều bị
phát hiện, xử lý kịp thời, nhà nước còn quy định các biện pháp phát hiện, ngăn chặn, điều tra, xét
xử tội phạm và cải tạo người phạm tội. Nghiên cứu về tội phạm và phòng chống tội phạm ở khía
cạnh pháp lý hình sự và có tính cưỡng chế này là nhiệm vụ trọng tâm của các ngành khoa học
pháp lý: khoa học luật hình sự, khoa học luật tố tụng hình sự, khoa học cải tạo... Tuy nhiên, thực
tế không phải tất cả các tội phạm được thực hiện đều bị phát hiện, xử lý cũng như không phải bất
kỳ người nào có ý định phạm tội cũng e ngại bị áp dụng hình phạt, vì thế tình hình tội phạm cũng
như tái phạm tội vẫn tồn tại. Như vậy, công tác phòng chống tội phạm cần được mở rộng theo
một hướng khác: hướng "ngăn ngừa" tội phạm.
- Phòng ngừa kết hợp với phát hiện, xử lý tội phạm, trong đó lấy công tác phòng ngừa làm trọng
tâm sẽ đảm bảo hơn việc đạt được mục tiêu hạn chế và loại trừ tội phạm ra khỏi xã hội. Nghiên
cứu tội phạm và phòng chống tội phạm ở khía cạnh này là nhiệm vụ của một ngành khoa học,
độc lập với các khoa học pháp lý khác, đó là tội phạm học.
- Tội phạm học được xác định là đã ra đời từ giữa thế kỷ XVIII với những nghiên cứu của hai
học giả có tinh thần cải cách là Cesare Beccaria (1738 - 1794) (ông đưa ra tư tưởng phải phân
hoá TNHS làm sao cho hình phạt đạt hiệu quả tốt, như vậy phòng ngừa tội phạm đạt được
hiệu quả tốt => thuyết duy lý) và Jeremy Bentham (1748 - 1832)
mà ngày nay được biết đến
với tên gọi Tội phạm học cổ điển (Classical Criminology). Tác phẩm kinh điển đánh dấu sự ra
đời của tội phạm học cổ điển có tên là "Tội phạm và hình phạt" ("Dei delitti e delle pene"),
Tiếng Anh: "On Crimes and Punishments"), xuất bản năm 1764 của Beccaria. Cho đến năm
1885, giáo sư luật người Ý tên là Raffaele Garofalo lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ "Tội phạm
học" (tiếng Ý: Criminologia) đặt tên cho tác phẩm của mình. Người thứ hai là nhà nhân chủng
học Paul Topinard đã sử dụng thuật ngữ này lần đầu ở Pháp vào năm 1887 (tiếng Pháp:
Criminologie). Thuật ngữ "Tội phạm học" đã nhanh chóng được chấp nhận trên toàn thế giới và
trở thành môn học được giảng dạy tại nhiều trường đại học. 1
- Thuật ngữ "Tội phạm học" thích hợp với việc chỉ một khoa học (hay học thuyết) nghiên cứu về
tội phạm. Nó có nguồn gốc từ tiếng La tinh: "Crimen" - có nghĩa là tội phạm và tiếng Hy Lạp:
"Logos" - có nghĩa là học thuyết, lý luận. Ngày nay, tội phạm học phát triển thành một khoa học
có tên tiếng Anh là "Criminology", tiếng Đức là "Kriminologie". Tuy nhiên, nếu dừng lại ở mức
độ giải thích trực tiếp ngữ nghĩa thì khó có thể nhận thức đầy đủ tinh thần của tội phạm học. Hơn
nữa, khi định nghĩa chi tiết hơn về tội phạm học, quan điểm của các nhà nghiên cứu cũng không
có sự thống nhất. Có thể chia thành ba nhóm: giáo trình tr. 09.
+ Nhóm I: Tội phạm học là khoa học nghiên cứu về tội phạm hay Tội phạm học là sự
nghiên cứu về nguyên nhân của tội phạm (PGS.TS Lê Thị Sơn) hay Tội phạm học là khoa học
nghiên cứu tội phạm và đề ra các biện pháp đấu tranh phòng chống. (TS. Can Ueda - Nhật Bản)
=> Không chỉ ra được đối tượng nghiên cứu cụ thể của TPH là gì
+ Nhóm II: Tội phạm học là lĩnh vực tri thức về tội phạm như một hiện tượng xã hội.
Phạm vi nghiên cứu của nó bao gồm các quá trình làm luật, sự vi phạm luật và sự phản ứng trước
các vi phạm pháp luật...(Edwin Sutherland and Donald Cressey) hay Tội phạm học là ngành
khoa học nghiên cứu về tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện tình hình tội phạm, nhân
thân người phạm tội và các biện pháp phòng ngừa tội phạm. => đưa ra đối tượng nghiên cứu cụ
thể, tuy nhiên chưa chỉ ra được bản chất của TPH là gì
+ Nhóm III: “Tội phạm học là ngành khoa học pháp lý - xã hội (độc lập) học nghiên cứu
nguồn gốc, bản chất và các hình thức biểu hiện của tình hình tội phạm, các nguyên nhân, điều
kiện và quy luật xuất hiện, tồn tại và thay đổi của tình hình tội phạm và các biểu hiện của nó;
nhân thân người phạm tội, các biện pháp, phương pháp phòng ngừa và khắc phục tình hình tội
phạm xảy ra trong xã hội.” => thống nhất chọn quan điểm này => Tội phạm học có liên quan
mật thiết với các khoa học xã hội và các khoa học pháp lý. Tội phạm học không hoàn toàn là
khoa học pháp lý hoặc xã hội học, mà nó vừa có tính chất pháp lý, vừa có tính xã hội. Tính chất
liên ngành của tội phạm học chủ yếu trong phạm vi các khoa học pháp lý và các khoa học xã hội.
Sự liên quan này bắt nguồn từ tính chất và mối quan hệ về đối tượng nghiên cứu, phương pháp
nghiên cứu của tội phạm học với hai nhóm ngành khoa học trên.
Lưu ý: TPH là ngành khoa học xh-pl độc lập chứ không phải nhánh của ngành khoa học khác
bởi vì TPH mục tiêu nghiên cứu nguyên nhân + biện pháp phòng ngừa trước khi tội phạm xảy ra
=> điều này làm phân biệt TPH vs các ngành khoa học khác như khoa học pháp lý hình sự cũng
nghiên cứu về tội phạm và hình phạt nhưng nghiên cứu thế nào là tội phạm, dấu hiệu tội phạm
trong cấu thành tội phạm có quy định trong điều luật, trách nhiệm hình sự đối với các chủ thể, hình phạt.
Lưu ý: Tính xã hội và tính pháp lý đều thấy rõ ở trong 4 đối tượng nghiên cứu. Tội phạm không
phải tự nhiên xuất hiện mà nguyên nhân đến từ xã hội => Tội phạm là hiện tượng xã hội tồn tại
khách quan từ đó chúng ta tìm hiểu nguyên nhân điều kiện để hạn chế nó và phòng ngừa tốt hơn.
- Tội phạm là hiện tượng xã hội tồn tại khách quan, có tính nguy hiểm cao. 2
- Nghiên cứu về tội phạm và phòng chống tội phạm ở khía cạnh pháp lý hình sự và có tính cưỡng
chế này là nhiệm vụ trọng tâm của các ngành khoa học pháp lý.
- Thuật ngữ “Tội phạm học” thích hợp với việc chỉ một khoa học nghiên cứu về các vấn đề xã hội của tội phạm
- Khía cạnh lịch sử: TPH được biết đến với tư cách khoa học từ giữa TK XVIII, gắn với tên tuổi
của Cesare Beccaria - Tác phẩm “Về tội phạm và hình phạt”.
- Hoàn cảnh lịch sử và ảnh hưởng của thuyết duy lý và vị lợi: Trước cách mạng Pháp 1789, hơn
200 hình phạt tử hình ở Châu Âu, bg trộm vặt 5silling. Tư tưởng của Beccaria được tiếp tục bởi
BLHS Pháp 1791, Nữ hoàng Nga Catherine II, Vua Phổ Frederick II, Hoàng đế Úc Joseph II
(1787). Năm 1820-1961: Nghị sĩ Samuel Romilly tiếp thu sửa luật hình sự của Anh, số lượng
hình phạt tử hình giảm từ 222 xuống còn 3 hpth (tội giết người, phản quốc, cướp biển)
- Tác giả đầu tiên đặt tên tác phẩm “Tội phạm học”: Raffaele Garofalo
- Giải thích khái niệm “Tội phạm học” trực tiếp bằng ngữ nghĩa:
+ Tiếng Việt: Khoa học/Học thuyết nghiên cứu về tội phạm
+ Nghĩa gốc được ghép từ “Crimen” (Latin) và “Logos” (Hy Lạp)
+ Tiếng Anh là “Criminology”
Khái niệm: Tội phạm học là khoa học xã hội - pháp lý nghiên cứu về tình hình tội phạm,
nguyên nhân và điều kiện tình hình tội phạm, nhân thân người phạm tội và các biện pháp phòng ngừa tội phạm.
=> Như vậy, gồm 4 vấn đề cơ bản là nghiên cứu về tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện
tình hình tội phạm, nhân thân người phạm tội và các biện pháp phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên
ngoài 4 vấn đề cơ bản thì vẫn còn các vấn đề khác như lịch sử về các học thuyết TPH, TPH nước
ngoài, nạn nhân học (lấy nạn nhân làm trung tâm đối tượng nghiên cứu), hợp tác quốc tế trong phòng chống tội phạm.
+ Lịch sử hình thành và phát triển tội phạm học. Khía cạnh lịch sử của tội phạm học phản
ánh "dòng chảy" tư tưởng về tội phạm và phòng ngừa tội phạm xuyên suốt các thời kỳ lịch sử
cùng với các thành tựu cũng như những hạn chế của nó. Nghiên cứu lịch sử là để kế thừa và định
hướng phát triển tội phạm học. Mặt khác, những sáng kiến, kinh nghiệm được rút ra từ lịch sử tội
phạm học có thể được vận dụng trong thực tiễn phòng chống tội phạm. Ngày nay, tri thức về lịch
sử của tội phạm học có vị trí quan trọng trong hệ thống tội phạm học.
+ Nạn nhân học. Nạn nhân của tội phạm cũng là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học.
Nếu đặt vấn đề vì sao một người phạm tội và tìm hiểu nhân thân người phạm tội, thì ngược lại,
cũng cần đặt câu hỏi vì sao một người trở thành nạn nhân của tội phạm và tất yếu phải nghiên
cứu khía cạnh nạn nhân của tội phạm. Nạn nhân được nghiên cứu trong tội phạm học không hạn
chế ở việc giải thích các tình huống phạm tội liên quan đến nạn nhân mà còn giải quyết nhiều 3
nhiệm vụ lý luận và thực tiễn khác về phòng ngừa tội phạm (nghiên cứu được lý giải nguyên
nhân điều kiện => từ đó gợi ý cho những ng có nguy cơ thành nạn nhân chú ý hơn như chú ý bảo
vệ tài sản). Tri thức về nạn nhân của tội phạm (nạn nhân học) còn được xem như là phần phụ
(sub-area) của tội phạm học. => Nạn nhân cũng là một bộ phận trong tình huống khách quan,
nạn nhân cũng có vai trò trong cơ chế tâm lý xã hội của hành vi phạm tội
+ Tội phạm học nước ngoài. Ngày nay, tội phạm học phát triển mạnh ở nhiều quốc gia và
có những đóng góp đáng kể cho hoạt động phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, quan điểm về tội
phạm và phòng ngừa tội phạm trong lý luận và thực tiễn của các nước có thể có những điểm
tương đồng và khác biệt cần được tham khảo, đặc biệt là tội phạm học của những nước có trình
độ phát triển. Một hướng tiếp cận khác đối với tội phạm học nước ngoài là nghiên cứu ở góc độ
so sánh - gọi là "Tội phạm học so sánh" (Comparative Criminology)?. Như vậy, tội phạm học
nước ngoài cũng là một đối tượng nghiên cứu đồng thời là một lĩnh vực tri thức của Tội phạm học.
+ Hợp tác quốc tế về phòng chống tội phạm. Nếu xem xét vấn đề một cách độc lập thì
hợp tác quốc tế phòng chống tội phạm diễn ra ở ba hướng chính. Một là, hợp tác thông qua lập
pháp hình sự, trong đó các quốc gia thống nhất về các dấu hiệu pháp lý hình sự đối với các tội
phạm có tính chất quốc tế (như khủng bố, rửa tiền, buôn bán người,...) và tinh thần áp dụng các
biện pháp chế tài đối với các tội phạm đó. Hai là, các quốc gia thỏa thuận nội dung, cách thức
tương trợ tư pháp hình sự (theo dõi, điều tra tội phạm, dẫn độ, chuyển giao phạm nhân thi hành
hình phạt tủ,...). Thực chất đây là hợp tác ở khía cạnh tố tụng hình sự. Ba là, hợp tác trong việc
trao đổi thông tin về tội phạm có tính chất quốc tế, nguyên nhân và xu hướng của nó; hợp tác
trong việc áp dụng các biện pháp kiểm soát tội phạm và phòng ngừa tội phạm giữa các quốc gia,
giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế; hợp tác trong đào tạo cán bộ, hỗ trợ phương tiện kỹ
thuật, tài chính,... Hợp tác quốc tế về phòng chống tội phạm ở khía cạnh này là đối tượng nghiên
cứu của tội phạm học.
Phân biệt: TPH và LHS:
=> Tội phạm học nghiên cứu nhóm tội phạm, nhóm người, hành vi ra sao, phương thức thế nào,
nghiên cứu bản án tình hình thế nào…Tội phạm học là ngành khoa học nghiên cứu tội phạm có
thực xảy ra trong xã hội.
=> LHS chỉ tập trung quan tâm nghiên cứu thế nào là tội phạm, dấu hiệu tội phạm trong cấu
thành tội phạm có quy định trong điều luật, trách nhiệm hình sự đối với các chủ thể, hình phạt.
=> Luật hình sự nghiên cứu tội phạm ở mức độ hành vi. Hành vi phạm tội có những thuộc tính,
dấu hiệu đặc trưng khác với những hành vi xã hội khác. Tuy nhiên, tội phạm được tội phạm học
nghiên cứu ở các mức độ tồn tại khác nhau, không chỉ ở mức độ hành vi mà còn ở mức độ chung
nhất, khái quát nhất, đó là "tình hình tội phạm". Và chỉ khi có sự nghiên cứu tội phạm từ mức độ
hành vi sang mức độ khái quát như vậy thì mới có thể nhận thức được đầy đủ "bức tranh" tình 4
hình tội phạm, từ đó định ra một chiến lược, chương trình phòng ngừa tội phạm đồng bộ ở các cấp độ.
=> Phân biệt LHS: có nghiên cứu con người nhưng chỉ nghiên cứu chủ thể, độ tuổi, năng lực
chịu TNHS, lỗi, nghiên cứu vài tình tiết nhân thân để xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ để quyết định hình phạt.
- Phạm vi, mức độ nghiên cứu nhân thân người phạm tội: Nhân thân người phạm tội được Tội phạm học nghiên cứu
+ Tội phạm học chỉ nghiên cứu những đặc điểm nhân thân liên quan đến tội phạm và phòng ngừa THTP
+ Nghiên cứu nhân thân theo 4 nhóm (sinh học, tâm lý, xã hội, pháp lý)
- Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự chỉ phòng ngừa tội phạm ở mức độ rất hẹp, nó chỉ đợi cho tội
phạm xảy ra thì mới xử lý (đã xảy ra thiệt hại) → chủ yếu là “trừng phạt - răn đe” người phạm tội.
=> TPH giải quyết triệt để hơn bằng việc nghiên cứu nguyên nhân + biện pháp phòng ngừa trước
khi tội phạm xảy ra và sau khi tội phạm xảy ra thì nó nghiên cứu biện pháp xử lý hình sự + tố
tụng hình sự, cơ chế xã hội, thiết chế xã hội có đủ để phòng ngừa tội phạm (Gọi chung là phòng
ngừa tội phạm sau khi tội phạm xảy ra) => Phòng ngừa theo nghĩa rộng.
*Kết luận: TPH nghiên cứu gần như tất cả những gì có liên quan đến việc phát hiện ra nguyên
nhân của tội phạm và ảnh hưởng của các phương pháp khác nhau trong xử lí tội phạm.
Câu hỏi: Có phải đối tượng nghiên cứu của tội phạm học cũng là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học khác?
Như đã biết, Tội phạm học là ngành khoa học có đối tượng nghiên cứu riêng. Nếu chỉ nhìn bề
ngoài, có những đối tượng nghiên cứu của Tội phạm học cũng là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học khác.
Chẳng hạn như Tội phạm học, khoa học hình sự, khoa học tố tụng hình sự đều nghiên cứu về "độ
tuổi". Tuy nhiên, dù cùng nghiên cứu về độ tuổi nhưng các ngành khoa học khác nhau sẽ nghiên
cứu dưới các góc độ khác nhau. Trong khi khoa học hình sự nghiên cứu về độ tuổi để quyết định
trách nhiệm hình sự, định tội danh hay khoa học tố tụng hình sự nghiên cứu về độ tuổi để xác
định trình tự, thủ tục tố tụng phù hợp thì Tội phạm học nghiên cứu về độ tuổi để xác định nguyên
nhân và định hướng phòng ngừa tội phạm ứng với từng độ tuổi cụ thể.
2. Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học
Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là những vấn đề (sự vật, hiện tượng) mà ngành khoa học
này nghiên cứu trong những phạm vi, mức độ nghiên cứu cụ thể nhằm đạt được mục đích của
nó. Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học Việt Nam gồm bốn vấn đề cơ bản sau đây: 5
a. Tình hình tội phạm
Để có cơ sở phòng chống tội phạm trước hết phải hiểu bản chất của nó. Luật hình sự nghiên cứu
tội phạm ở mức độ hành vi. Hành vi phạm tội có những thuộc tính, dấu hiệu đặc trưng khác với
những hành vi xã hội khác. Tuy nhiên, tội phạm được tội phạm học nghiên cứu ở các mức độ tồn
tại khác nhau, không chỉ ở mức độ hành vi mà còn ở mức độ chung nhất, khái quát nhất, đó là
"tình hình tội phạm". Và chỉ khi có sự nghiên cứu tội phạm từ mức độ hành vi sang mức độ khái
quát như vậy thì mới có thể nhận thức được đầy đủ "bức tranh" tình hình tội phạm, từ đó định ra
một chiến lược, chương trình phòng ngừa tội phạm đồng bộ ở các cấp độ.
Ở góc độ xã hội, tội phạm học quan niệm tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội được hình
thành từ những xử sự có tính xã hội. Ở góc độ pháp lý, tình hình tội phạm được tạo thành từ
những hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm. Như vậy, tội phạm học đã tiếp cận tình hình tội
phạm ở khía cạnh xã hội - pháp lý. Tình hình tội phạm tồn tại khách quan và có những đặc điểm,
thuộc tính riêng của nó. Dựa vào các thuộc tính, đặc điểm này có thể biết được tính chất của tình
hình tội phạm và phân biệt nó với các hiện tượng khác hiện diện trong xã hội. Vì vậy, những
thuộc tính, dấu hiệu của tình hình tội phạm là nội dung đầu tiên của tình hình tội phạm được tội
phạm học nghiên cứu. Mặt khác, các thông số của tình hình tội phạm cũng được tội phạm học
làm sáng tỏ để có cơ sở đánh giá sự tồn tại, phổ biến của tình hình tội phạm đã xảy ra. Như vậy,
các thuộc tính, đặc điểm tình hình tội phạm và các thông số tình hình tội phạm là hai nội dung
đầu tiên, quan trọng cần nhận thức về tình hình tội phạm.
Tội phạm học nghiên cứu tình hình tội phạm ở ba mức độ: tình hình tội phạm chung (bao gồm
tất cả các tội phạm), loại tội phạm (bao gồm những tội phạm có cùng đặc điểm, tính chất) và tội
phạm cụ thể. Mỗi mức độ tồn tại đều có quy loại luật riêng và giữa chúng có mối quan hệ biện
chứng tuân theo nhóm quy luật của cặp phạm trù cái chung - cái riêng của phép biện chứng duy
vật. Tình hình tội phạm cũng được tội phạm học nghiên cứu ở những phạm vi địa bàn hoặc
ngành - lĩnh vực khác nhau và trong những giai đoạn, thời điểm khác nhau.
Có thể nói tình hình tội phạm là khái niệm cơ bản, trung tâm trong tội phạm học. Những hiểu
biết ban đầu về tình hình tội phạm sẽ mở ra những nội dung nghiên cứu khác có liên quan như
nguyên nhân phạm tội, dự báo tình hình tội phạm, phòng ngừa tội phạm,.
- Tình hình tội phạm học là một hiện tượng xã hội được hình thành từ những tội phạm xảy ra trên
thực tế. Ở góc độ xã hội, tình hình tội phạm học là một hiện tượng xã hội được hình thành từ
những xử sự có tính xã hội. Ở góc độ pháp lý, tình hình tội phạm được tạo thành từ những hành
vi bị luật hình sự coi là tội phạm.
- Nội dung nghiên cứu về THTP:
+ Các thuộc tính, đặc điểm của THTP
+ Các thông số của THTP: tỷ lệ tội phạm trên đơn vị dân cư/diện tích/thời gian → Loại
tội phạm nào phạm tội nhiều nhất? 6
- Tội phạm học nghiên cứu tình hình tội phạm ở ba mức độ: tình hình tội phạm chung (bao gồm
tất cả các tội phạm), loại tội phạm (bao gồm những tội phạm có cùng đặc điểm, tính chất) và tội phạm cụ thể
=> Mỗi mức độ tồn tại đều có quy loại luật riêng và giữa chúng có mối quan hệ biện chứng tuân
theo quy luật của cặp phạm trù cái chung - cái riêng của phép biện chứng duy vật.
- Tình hình tội phạm cũng được tội phạm học nghiên cứu ở những phạm vi địa bàn hoặc ngành -
lĩnh vực khác nhau và trong những giai đoạn, thời điểm khác nhau. Phạm vi nghiên cứu: THTP
trong phạm vi quốc gia, địa phương, ngành.
- Có thể nói tình hình tội phạm là khái niệm cơ bản, trung tâm trong tội phạm học. Những hiểu
biết ban đầu về tình hình tội phạm sẽ mở ra những nội dung nghiên cứu khác có liên quan như
nguyên nhân phạm tội, dự báo tình hình tội phạm, phòng ngừa tội phạm.
- Ý nghĩa của việc nghiên cứu THTP
+ Nhận thức được bản chất của THTP qua các thuộc tính, đặc điểm của THTP.
+ Nhận thức được sự tồn tại của THTP trên thực tế qua các thông số của THTP.
+ Có cơ sở giải thích được nguyên nhân của THTP/TP cụ thể qua đặc điểm, quy luật của THTP.
+ Có cơ sở để dự báo tội phạm và phòng ngừa TP qua thực trạng và nguyên nhân của THTP.
b. Nguyên nhân và điều kiện (NN&ĐK) của THTP
- NN&ĐK của THTP được Tội phạm học nghiên cứu là những hiện tượng tác động lẫn nhau làm
phát sinh, tồn tại tình hình tội phạm. => Chính giải thích nguyên nhân tạo ra nhiêu trường phái
TPH. VD: nguyên nhân bẩm sinh, di truyền
=> Sự tồn tại tình hình tội phạm luôn luôn có nguyên nhân và điều kiện. Nhu cầu nhận thức về
tình hình tội phạm tất yếu đưa đến việc tìm hiểu các nguyên nhân và điều kiện của nó. Mặt khác,
hoạt động phòng ngừa tội phạm hướng đến loại bò các nguyên nhân và điều kiện. Như vậy,
nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm là nội dung quan trọng thuộc đối tượng nghiên
cứu của tội phạm học. - Nội dung nghiên cứu:
+ Các hiện tượng có khả năng làm phát sinh THTP.
+ Quan hệ nhân quả giữa THTP với các hiện tượng đó.
- Phạm vi nghiên cứu: NN&ĐK của THTP trong phạm vi quốc gia, địa phương, ngành…
- Mức độ nghiên cứu: NN&ĐK của TP cụ thể > NN&ĐK của Loại/nhóm TP > NN&ĐK của THTP. 7
- Ý nghĩa của việc nghiên cứu NN&ĐK của THTP
+ Nhận thức được quy luật hình thành, thay đổi, xu hướng của THTP.
+ Giải thích được sự tồn tại của THTP trong xã hội; vì sao một người phạm tội; một tình
huống, hoàn cảnh nào có thể làm phát sinh tội phạm.
+ Cơ sở để dự báo THTP và phòng ngừa THTP trên cơ sở loại bỏ, khắc phục các nguyên
nhân và điều kiện của THTP.
- Sự tồn tại tình hình tội phạm luôn luôn có nguyên nhân và điều kiện. Nhu cầu nhận thức về tình
hình tội phạm tất yếu đưa đến việc tìm hiểu các nguyên nhân và điều kiện của nó. Mặt khác, hoạt
động phòng ngừa tội phạm hướng đến loại bỏ các nguyên nhân và điều kiện. Như vậy, nguyên
nhân và điều kiện của tình hình tội phạm là nội dung quan trọng thuộc đối tượng nghiên cứu của tội phạm học.
- Nội dung và yêu cầu nghiên cứu là làm sáng tỏ những hiện tượng, quá trình nào có vai trò làm
phát sinh, tồn tại tình hình tội phạm
cũng như mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng trong
cơ chế đó. Vấn đề quan trọng là chứng minh được mối quan hệ nhân quả để thấy được tình hình
tội phạm là kết quả tất yếu của một số nguyên nhân và điều kiện nhất định.
- Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm được nghiên cứu ở phạm vi và mức độ chung
nhất (nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm), ở phạm vi và mức độ loại tội phạm
(nguyên nhân và điều kiện của loại tội phạm), ở phạm vi và mức độ tội phạm cụ thể.
c. Nhân thân người phạm tội
- Nhân thân người phạm tội được Tội phạm học nghiên cứu là những đặc điểm thuộc về người
phạm tội, phản ánh bản chất của người phạm tội, có vai trò đối với việc thực hiện tội phạm, có ý
nghĩa trong phòng ngừa tội phạm.
- Nội dung nghiên cứu nhân thân người PT
+ Nguồn gốc đặc điểm nhân thân người phạm tội: bẩm sinh hay do học hỏi mà có. VD:
lứa tuổi là bẩm sinh, ý thức là học tập, thông qua nhận thức xã hội, đặc điểm tâm lý giới tính. Tội
phạm có nguyên nhân tâm lý, xã hội thì mới đặt ra biện pháp giáo dục, cải tạo.
+ Sự ảnh hưởng của đặc điểm nhân thân trong cơ chế hành vi phạm tội.
+ Mối quan hệ giữa các đặc điểm sinh học và đặc điểm xã hội của người phạm tội,
+ Phân loại chia nhóm người phạm tội dựa vào đặc điểm nhân thân
- Phân biệt LHS: có nghiên cứu con người nhưng chỉ nghiên cứu chủ thể, độ tuổi, năng lực chịu
TNHS, lỗi, nghiên cứu vài tình tiết nhân thân để xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ để quyết định hình phạt.
- Phạm vi, mức độ nghiên cứu nhân thân người phạm tội: Nhân thân người phạm tội được Tội phạm học nghiên cứu 8
+ Tội phạm học chỉ nghiên cứu những đặc điểm nhân thân liên quan đến tội phạm và phòng ngừa THTP
+ Nghiên cứu nhân thân theo 4 nhóm (sinh học, tâm lý, xã hội, pháp lý)
- Ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội
+ Đánh giá đầy đủ hơn về THTP (đặc điểm THTP + đặc điểm người phạm tội)
+ Giải thích nguyên nhân, điều kiện tội phạm từ đặc điểm của người phạm tội.
+ Dự báo tội phạm từ đặc điểm người phạm tội.
+ Phòng ngừa tội phạm thông qua tác động làm thay đổi, khắc phục các đặc điểm nhân thân người phạm tội.
Tội phạm do con người thực hiện, do đó muốn tìm hiểu bản chất tội phạm (hoặc tình hình tội
phạm) cần nghiên cứu con người phạm tội, mà cụ thể là làm sáng tỏ các đặc điểm nhân thân. Mặt
khác, các biện pháp phòng chống tội phạm chủ yếu tác động đến con người phạm tội và các mối
quan hệ xã hội của con người. Do đó, nhân thân người phạm tội trở thành đối tượng nghiên cứu của tội phạm học.
Nhân thân người phạm tội được tội phạm học nghiên cứu bao gồm các đặc điểm đặc trưng, điển
hình phản ánh bản chất người phạm tội. Những đặc điểm này có vai trò trong cơ chế hành vi
phạm tội, góp phần làm phát sinh tội phạm.
Nội dung nghiên cứu nhân thân người phạm tội, trước hết là tìm hiểu nguồn gốc hình thành các
đặc điểm nhân thân, sau đó phân tích để làm sáng tỏ đặc điểm, tính chất và mức độ tác động các
đặc điểm nhân thân đó trong cơ chế tâm lý xã hội của hành vi phạm tội. Mặt khác, mối quan hệ
biện chứng giữa các đặc điểm sinh học và các đặc điểm xã hội của người phạm tội cũng là một
chủ đề quan trọng của tội phạm học. Vấn đề phân loại (kiểu hóa) người phạm tội cũng được tiến
hành sau khi tìm hiểu các đặc điểm nhân thân người phạm tội.
Những đặc điểm nhân thân người phạm tội được nghiên cứu ở các khía cạnh sinh học, tâm
lý, xã hội và pháp lý.
Tất nhiên, không phải tất cả các đặc điểm nhân thân của người phạm
tội đều là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học mà chỉ có những đặc điểm nhân thân nào
có ý nghĩa đối với việc thực hiện tội phạm và phòng chống tội phạm mới được tội phạm học nghiên cứu.

=> Nếu nguyên nhân bẩm sinh thì nhà tù cũng không giải quyết được
Chỉ khi nào nhận thức một cách đầy đủ, sâu sắc về con người phạm tội thông qua các đặc điểm
nhân thân của họ mới có thể "giải mã" được vì sao một người phạm tội và phạm tội này chứ
không phạm tội khác. Và khi đó có thể dự báo được tội phạm và phòng ngừa tội phạm có hiệu quả. 9
d. Phòng ngừa tội phạm
=>Phòng ngừa tội phạm là mục tiêu, đồng thời cũng là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học.
Kết quả của quá trình nhận thức về tội phạm và con người phạm tội sẽ đem lại nhiều ý nghĩa nếu
được vận dụng vào thực tiễn phòng ngừa tội phạm.
- Là nghiên cứu việc áp dụng biện pháp nhằm hạn chế, loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.
- Nội dung nghiên cứu phòng ngừa tội phạm
+ Các biện pháp phòng ngừa tội phạm
+ Các nguyên tắc phòng ngừa tội phạm
+ Các chủ thể phòng ngừa tội phạm
+ Dự báo và lập kế hoạch phòng ngừa tội phạm
- Phạm vi nghiên cứu: phương diện xã hội và pháp lý; phòng ngừa toàn bộ tội phạm nói chung,
phòng ngừa loại tội phạm và tội phạm cụ thể; phòng ngừa theo chủ thể chịu tác động của biện
pháp; phòng ngừa tội phạm ở phạm vi quốc gia, địa phương, ngành và lĩnh vực hoạt động xã hội.
II. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Tội phạm học
Câu hỏi: Cơ sở lý luận để tiếp cận vấn đề nghiên cứu như thế nào?
Câu hỏi: Phương pháp, cách thức nào để thu thập, phân tích, xử lý thông tin về vấn đề nghiên cứu cụ thể?
Là hệ thống các cách thức, biện pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để thu thập, phân tích và
xử lý thông tin về những vấn đề cần nghiên cứu.
Vai trò: trực tiếp thu thập, phân tích, xử lý thông tin để chứng minh các vấn đề nghiên cứu cụ thể.
1. Phương pháp luận a. Khái niệm
- Phương pháp luận của Tội phạm học là hệ thống các khái niệm, nguyên tắc, phạm trù nhận thức
cho phép chủ thể, tiếp cận, lý giải, đánh giá về những vấn đề mà tội phạm học nghiên cứu. => Có
vai trò định hướng quá trình nghiên cứu các vấn đề của TPH => PP luận định hướng pp nghiên cứu.
=> Như vậy phương pháp luận tồn tại dưới dạng học thuyết chủ nghĩa, trong đó đúc kết những
phạm trù quy luật trên cơ sở đó cho phép chúng ta tiếp cận vấn đề, lý giải vấn đề, đánh giá vấn đề.
VD: Lombroso đã tiếp cận học thuyết tiến hoá của Dawin để tiếp cận bề ngoài sinh học của con
người để giải thích rằng người phạm tội là do loài giống. 10
VD: Nếu nghiên cứu tội phạm theo quan điểm của triết học duy tâm thì tội phạm có nguyên nhân
từ kiếp trước, nằm ngoài con người, thần thánh.
VD: Phương pháp luận của Tội phạm học là phương pháp luận triết học Mác-lênin. Sử dụng
phương pháp luận duy vật biện chứng - duy vật lịch sử, cụ thể:
+ Sử dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển => từ đó lý giải
các vấn đề về sự vận động và phát triển của TTTP trong xã hội và sự thay đổi TTTP theo tiến trình lịch sử của nó
+ Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập => hiểu được quá trình nghiên
cứu về tội phạm và phòng ngừa tội phạm đã được đặt ra từ lâu => các học thuyết khác nhau cũng
có kết luận khác nhau về thế nào là tội phạm
+ 6 cặp phạm trù triết học (Cái chung và cái riêng (Mối quan hệ giữa tội phạm và TTTP,
trong đó tội phạm cụ thể là đơn nhất, nhỏ nhất); Bản chất và hiện tượng; Tất nhiên và ngẫu
nhiên; Nguyên nhân và kết quả; Nội dung và hình thức; Khả năng và hiện thực) => các cặp phạm
trù này đều có mối quan hệ biện chứng với nhau, nghĩa là mọi sự thay đổi, vận hành của cái
riêng đều ảnh hưởng đến cái chung và ngc lại. => Điều này giải đáp cho câu hỏi tại sao tội phạm
cụ thể thay đổi thì tttp thay đổi. => nhìn từ góc độ quy luật của tội phạm, tội phạm xảy ra trên
thực tế. VD: hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý tăng => cầu tăng dẫn đến cung tăng => hành
vi sản xuất vận chuyển mua bán trái phép chất ma tuý tăng => nhóm tội phạm ma tuý gia tăng
=> hành vi xâm phạm trất tự xh, sở hữu, tính mạng sức khoẻ cx gia tăng => chạy tội => tham
nhũng gia tăng => vậy tttp cx gia tăng. Ngược lại ở đâu mà TTTP được quản lý chặc chẽ thì tội
phạm cụ thể khó mà gia tăng (ví dụ cướp ở tphcm lộng hành hơn hn)
+ Quan điểm lịch sử - cụ thể: khi nghiên cứu, đánh giá đối tượng nghiên cứu phải đặt nó
trong bối cảnh lịch sử thì mới đánh giá được khách quan nhất. VD: tình hình covid, tội phạm
phải đặt trong hoàn cảnh cụ thể này để xem xét.
Câu hỏi: Phân biệt thuật ngữ Tội phạm trong BLHS với tội phạm trong tội phạm học
=> Tội phạm theo LHS hiểu theo 3 cấp độ: tình hình tội phạm nói chung, nhóm tội phạm, tội
phạm cụ thể. Tội phạm trong LHS mang tính lý thuyết còn Tội phạm trong TPH ý chỉ hành vi
phạm đã xảy ra trên thực tế. Ngoài ra trong lhs có thể hiểu nhóm tội phạm như nhóm tội phạm
xâm phạm sở hữu, tính mạng, sức khoẻ…; trong TPH thì nhóm này hiểu theo chủ đề phân nhóm
của cta như nhóm tội phạm do nam thực hiện, trên 18t (độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp..). Luật
hình sự nghiên cứu tội phạm ở mức độ hành vi. Hành vi phạm tội có những thuộc tính, dấu hiệu
đặc trưng khác với những hành vi xã hội khác. Tuy nhiên, tội phạm được tội phạm học nghiên
cứu ở các mức độ tồn tại khác nhau, không chỉ ở mức độ hành vi mà còn ở mức độ chung nhất,
khái quát nhất, đó là "tình hình tội phạm". Và chỉ khi có sự nghiên cứu tội phạm từ mức độ hành
vi sang mức độ khái quát như vậy thì mới có thể nhận thức được đầy đủ "bức tranh" tình hình tội
phạm, từ đó định ra một chiến lược, chương trình phòng ngừa tội phạm đồng bộ ở các cấp độ.
Mà tình hình tội phạm học là một hiện tượng xã hội được hình thành từ những tội phạm xảy ra 11
trên thực tế. Ở góc độ xã hội, tình hình tội phạm học là một hiện tượng xã hội được hình thành từ
những xử sự có tính xã hội. Ở góc độ pháp lý, tình hình tội phạm được tạo thành từ những hành
vi bị luật hình sự coi là tội phạm.
Tội phạm học có đối tượng nghiên cứu phức tạp. Kết quả nghiên cứu có sự phụ thuộc vào
phương pháp luận. Về mặt ngữ nghĩa, phương pháp luận là lý luận về phương pháp. Một hệ
thống lý luận với các khái niệm, nguyên tắc, phạm trù nhận thức có vai trò định hướng chủ thể
nghiên cứu tiếp cận, lý giải, đánh giá về đối tượng nghiên cứu, đó là phương pháp luận. Một
phương pháp luận khoa học đòi hỏi ở nó tính khoa học, khách quan và toàn diện để có thể dựa
vào đó nghiên cứu tội phạm học một cách đúng đắn. Phương pháp luận của tội phạm học có thể
là những thành tựu lý luận của triết học, chính trị học, xã hội học, tâm lý học, sinh vật học...
Mặc dù không chính thức gọi là phương pháp luận, nhưng tư tưởng của nhà xã hội học Pháp,
Auguste Comte (1798 - 1857), trong việc sử dụng các phương pháp hiện đại của khoa học tự
nhiên để nghiên cứu xã hội học và học thuyết tiến hóa của Charles Darwin (1809 - 1882) đã ảnh
hưởng đến quan điểm của nhà tội phạm học thực chứng Cesare Lombroso (1835 - 1909). Comte
đã khẳng định rằng không thể có một tri thức tin cậy về hiện tượng xã hội trừ khi nó được dựa
trên một cách tiếp cận thực chứng (khoa học). Lombroso đã tiếp cận người phạm tội một cách
trực tiếp bằng phương pháp quan sát, đo đạc, so sánh kích thước bề ngoài của họ để đưa ra kết
luận về dấu hiệu của người phạm tội bẩm sinh. Mặt khác, trong tác phẩm Nguồn gốc của giống
loài (Origin of Species) năm 1859, Darwin cho rằng giống loài đã tiến hóa thông qua quá
trình biến đổi thích nghi, chọn lọc tự nhiên và đấu tranh sinh tồn.
Năm 1871 ông lại cho xuất
bản quyển sách thứ hai chứng minh rằng loài người có nguồn gốc từ một loại động vật bậc cao.
Chính vì thế, Lombroso đã khẳng định người phạm tội là một dạng thấp hơn của loài người, gần
với tổ tiên loài người, có đặc điểm thể chất của giống loài ở giai đoạn đầu thời kỳ phát triển
trước khi họ trở thành con người toàn diện. Rõ ràng, Auguste Comte với Triết học thực chứng và
Charles Darwin với Học thuyết tiến hóa không phải là những nhà tội phạm học. Lombroso đã kết
hợp chủ nghĩa thực chứng của Comte và học thuyết tiến hóa của Darwin cùng với những nghiên
cứu tiên phong khác về mối quan hệ giữa tội phạm và cơ thể con người, đã cho ra đời tác phẩm
Con người phạm tội (The Criminal Man) vào năm 1876. Đây là một trong những tác phẩm làm
nên học thuyết tội phạm học - thuyết tội phạm bẩm sinh (born criminal Theory).
Một học thuyết khác ở lĩnh vực tâm lý học cũng có ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển
trường phái tâm lý trong tội phạm học, đó là Phân tâm học (Psychoanalytic psychology) của thầy
thuốc người Áo chuyên chữa bệnh thần kinh, Sigmund Freud (1856 - 1939). Freud không dành
nhiều thời gian để tạo ra lý thuyết về tội phạm.. Chính Freud cũng định nghĩa: “Phân tâm học là
một phương pháp y học chữa trị những bệnh thần kinh..." trong "Phân tâm học nhập môn"
(1916). Thế nhưng Phân tâm học của ông với hệ thống lý thuyết về cấu trúc tinh thần (mind),
bao gồm ý thức (conscious), tiền ý thức (preconscious) và vô thức (unconscious) cùng với cấu
trúc nhân cách (personality), bao gồm bản năng (id), bản ngã (ego) và siêu ngã (superego) có thể
áp dụng để lý giải cơ chế hình thành hành vi phạm tội ở khía cạnh tâm lý. Ví dụ, với tất cả ba 12
phần của nhân cách, con người từ hoạt động đến kiểm soát hành vi. Trong đó, bản năng (id) có
thể yêu cầu một sự thỏa mãn, chẳng hạn tình dục tiền hôn nhân; cái siêu ngã (superego) cảnh báo
cảm giác tội lỗi vì sự thèm muốn đó; cái ngã (ego) có thể thỏa hiệp, dàn xếp, chẳng hạn họ có thể
hoạt động tình dục nhưng không nên đi "quá xa" hoặc đại loại như vậy, vì có thể gặp rắc rối.
Từ những nhận thức trên cho thấy phương pháp nghiên cứu nói chung và phương pháp luận nói
riêng cũng là một trong những vấn đề cần được làm sáng tỏ khi tìm hiểu tội phạm học. Lịch sử
tội phạm học cho thấy các kết quả nghiên cửu có sự khác nhau, hình thành các trường phái (học
thuyết) tội phạm học khác nhau, lý do một phần là các nhà nghiên cứu có quan điểm tiếp cận,
đánh giá đối tượng nghiên cứu khác nhau. Trước đây, có ý kiến phê phán phương pháp luận
trong tội phạm tư sản: "Đặc trưng nổi bật nhất trong phương pháp luận của tội phạm học tư sản
là không có một phương pháp luận thống nhất cho việc nghiên cứu những vấn đề của tội phạm
học. Đặc điểm của phương pháp luận của tội phạm học tư sản là tính đa nguyên và tính chiết
trung, tức là có sự kết hợp của những quan điểm triết học khác nhau, đôi khi đối lập nhau,..
Trong khi đó, việc xây dựng tội phạm học xã hội chủ nghĩa đã được dựa trên những luận điểm
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (chủ nghĩa Mác -- Lênin). C.
Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin không phải là người xây dựng nên học thuyết về tội phạm học xã
hội chủ nghĩa, nhưng các ông đã tạo các tiền đề, cơ sở lý luận cần thiết cho ngành khoa học này.
b. Phương pháp luận của tội phạm học Việt Nam
- Phương pháp luận TPH VN: Tội phạm học VN sử dụng hệ thống các khái niệm, nguyên lý, quy
luật, phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp luận.
Lưu ý: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống lý luận được sử
dụng trong phương pháp luận của Tội phạm học Việt Nam (trường phái tội phạm học Mác xít),
chứ không phải là phương pháp luận của Tội phạm học Việt Nam.
- Ứng dụng các nguyên lý, quy luật, phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong nghiên cứu TPH VN:
+ Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển
+ Các quy luật (quy luật lượng - chất, quy luật mâu thuẫn, quy luật phủ định...)
+ Các cặp phạm trù: chung - riêng; nhân - quả, nội dung - hình thức
- Ứng dụng các nguyên lý, quy luật, phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong nghiên cứu
TPH, đánh giá tình hình tội phạm trong mối liên hệ của các hiện tượng xã hội khác như kinh tế,
chính trị, tâm lý học…
+ Học thuyết hình thái kinh tế
+ Bản chất giai cấp (bản chất Nhà nước là giai cấp) 13
+ Bản chất con người (mỗi nền tảng triết học khác nhau bàn về con ng khác nhau). =>
quy luật tiến hoá - phát triển ngôn ngữ => con ng là tổng hòa các quan hệ xã hội.
Ở Việt Nam hiện nay, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng với các
nguyên tắc, phạm trù nhận thức của nó có vai trò định hướng nghiên cứu các sự vật, hiện tượng
trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy, trong đó có những hiện tượng thuộc đối tượng
nghiên cứu của tội phạm học. Hay nói cách khác, tội phạm học Việt Nam sử dụng hệ thống các
khái niệm, nguyên tắc, quy luật, phạm trù của (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử làm phương pháp luận.

Trước hết, theo của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mà cụ thể là nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến của sự vật, hiện tượng, tội phạm học Việt Nam khẳng định sự tồn tại khách quan của
tình hình tội phạm và mối liên hệ, tác động qua lại giữa tình hình tội phạm với các hiện
tượng xã hội khác
. Chỉ khi nào đặt tình hình tội phạm trong mối quan hệ với những hiện tượng
kinh tế, xã hội đang tồn tại để nghiên cứu thì mới có thể hiểu đúng bản chất, quy luật của tình hình tội phạm.
- VD: Mối liên hệ: tình hình tp mang màu sắc công nghệ vì bối cảnh xh ngày nay. Nhìn sự vật ht trong bối cảnh của nó.
- Quy luật mâu thuẫn là nguyên nhân tội phạm, cơ sở động lực phát triển. Tội phạm suy cho
cùng phản ánh mâu thuẫn, tình hình xã hội. Mối quan hệ nhân quả để giải thích nguyên nhân điều kiện của THTP
Với nguyên lý về sự phát triển của sự vật, hiện tượng, thì tình hình tội phạm không phải là
hiện tượng tồn tại bất biến, mà nó hình thành, phát triển từ trạng thái này sang trạng thái
khác (xu hướng phát triển từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao)
Sự vận động, thay đổi
của tình hình tội phạm ở khía cạnh lượng -- chất là quy luật khách quan của tình hình tội
phạm.
Quy luật mâu thuẫn và quy luật phủ định của phủ định của phép biện chứng duy vật là cơ
sở để nhận thức nguyên nhân khách quan của sự thay đổi và cách thức thay đổi của tình hình tội phạm.
Mặt khác, trên cơ sở cặp phạm trù cái chung - cái riêng, cặp phạm trù nội dung - hình thức, cặp
phạm trù nhân - quả, tội phạm học Việt Nam chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa tình hình tội
phạm - loại tội phạm - tội phạm cụ thể, mối quan hệ giữa bản chất và các hình thức biểu hiện của
tình hình tội phạm, mối quan hệ giữa tình hình tội phạm với những hiện tượng làm phát sinh ra nó...
Chủ nghĩa duy vật lịch sử định hướng tiếp cận lịch sử về tình hình tội phạm và con người
phạm tội.
Tình hình tội phạm xuất hiện, thay đổi, tiêu vong gắn với hoàn cảnh, sự kiện lịch sử cụ
thể. Nó có nguyên nhân sâu xa từ những xung đột về lợi ích trong xã hội có mâu thuẫn giai cấp.
V.I. Lênin đã chỉ rõ: “Chúng ta biết rằng, nguyên nhân xã hội cơ bản của tội phạm, cần phải tìm
trong sự bóc lột quần chúng, trong sự bần cùng hóa và sự đói nghèo của họ. Cùng với sự thanh
toán các nguyên nhân chủ yếu này, tình hình tội phạm ắt sẽ bắt đầu tiêu vong”. Tình hình tội 14
phạm còn phản ánh điều kiện vật chất xã hội với một hệ tư tưởng chính trị, pháp lý tương
ứng (Xã hội xung đột thì có tội phạm)
. Con người phạm tội được tội phạm học nghiên cứu là
con người cụ thể, là sản phẩm xã hội, của lịch sử, giai cấp, văn hóa, tôn giáo, truyền thống.
Như vậy, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mà cụ thể là hệ thống các
khái niệm, quy luật, phạm trù của nó có vai trò là nền tảng tư tưởng để nghiên cứu tội phạm học ở Việt Nam.
2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Là hệ thống các cách thức, biện pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để thu thập, phân tích và
xử lý thông tin về những vấn đề cần nghiên cứu
- Vai trò: trực tiếp thu thập, phân tích, xử lý thông tin để chứng minh các vấn đề nghiên cứu cụ thể
Câu hỏi: Vì sao không sử dụng phương pháp nghiên cứu của y học để làm phương pháp nghiên cứu của TPH?
=> Con người được cấu thành bởi quy luật sinh học (phần con và phần người)
→ Trường phái nghiên cứu phần con quyết định hành vi ứng xử, như vậy nếu ngta đề cao mặt tự
nhiên trong con người thì người ta sẽ dùng phương pháp nghiên cứu tự nhiên bao gồm y học.
=> Trường phái bản chất con người không bị quyết định bởi yếu tố tự nhiên, ứng xử hành vi
trong con người nằm ở xã hội trong con người, nhận thức, trình độ, đạo đức, ý thức pháp luật =>
xét nghiệm không biết được. Đề cao mặt xã hội trong con người phải dùng phương pháp xã hội
học. Nếu đề cao phần con trong con người thì phải nghiên cứu bằng phương pháp khác. → Do
vậy phương pháp để tiếp cận mặt xã hội trong con người khác với phương pháp để tiếp cận mặt
tự nhiên, do đó nếu chúng ta đề cao bản chất con người là tự nhiên thì có phương pháp tiếp cận
tự nhiên còn nếu đề cao mặt xã hội thì nghiên cứu bằng phương pháp xã hội học. Sở dĩ phương
pháp nghiên cứu con người là khác nhau bởi vì về mặt phương pháp luận chúng ta quan niệm con người là khác nhau
=> Quan niệm đối tượng nghiên cứu như thế nào sẽ có phương pháp phù hợp. Đây là mối quan
hệ giữa phương pháp nghiên cứu với đối tượng nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu cụ thể và phương pháp luận.
Các phương pháp nghiên cứu Tội phạm học
- PP thống kê hình sự: ví dụ mỗi năm có 20.000 vụ án ma tuý, trong khi tổng số vụ án là 60.000
như vậy vụ án ma tuý chiếm 30%. Trong khi đó điều luật về ma tuý chỉ có 13 điều, còn các điều
luật về tội phạm gồm 314 điều như vậy chiếm tỷ lệ 4,1%. 30%>4.1%
- PP nghiên cứu chọn lọc, nghiên cứu điển hình - Các PP nghiên cứu XHH 15 + PP phiếu điều tra + PP quan sát
+ PP phỏng vấn: trí tuệ thể hiện qua lời nói. + PP thực nghiệm + PP chuyên gia
+ PP so sánh các nguồn tài liệu toán học, máy tính
a. Phương pháp thống kê hình sự (phổ biến nhất)
- K/N: Là phương pháp thu thập thông tin tội phạm bằng kỹ thuật và quy định về thống kê; trong
đó đối tượng thống kê chủ yếu là tội phạm, người phạm tội, thiệt hại,... Quá trình nghiên cứu tình
hình tội phạm cần dựa vào các số liệu thống kê.
- Phương pháp thống kê nghiên cứu sự phụ thuộc giữa con số thống kê tội phạm với các nhân tố
như nghèo khổ, lứa tuổi, giới tính, khí hậu. Từ đó kết luận rằng xã hội chứ không phải quyết định
cá nhân của người phạm tội là nguyên nhân của hành vi phạm tội. Ở Việt Nam, việc thống kê
hình sự được tiến hành theo quy định pháp luật, do các cơ quan chức năng (Công an, Viện kiểm
sát, Tòa án) thực hiện hoặc thống kê theo các mục đích riêng của các nhà nghiên cứu.
- Ở góc độ khoa học, phương pháp thống kê hình sự giải quyết một số nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản như:
+ Thứ nhất, mô tả tình hình tội phạm bằng con số thống kê. Số liệu thống kê phản ánh
phần lớn số liệu tội phạm và người phạm tội đã bị phát hiện, xử lí (số tuyệt đối). Do vậy, thông
qua phương pháp thống kê có thể tiếp cận một phần bức tranh về tình hình tội phạm (chỉ mô tả
được phần tội phạm hiện). Việc mô tả tình hình tội phạm bằng số liệu thống kê còn được thể hiện
qua con số tương đối trong các trường hợp sau:
● Xác định hệ số (cơ số) tình hình tội phạm khi lấy tổng số tội phạm được thống kê chia
cho tổng số dân rồi nhân với 10 000 hoặc 100 000
● Xác định tỷ trọng tội phạm hoặc loại tội phạm. Đó là tương quan giữa tội phạm hoặc loại
tội phạm trên tổng số tội phạm được thống kê.
● Xác định chỉ số trung bình, là lấy tổng số tội phạm được thống kê chia cho số các trường
hợp. Ví dụ, lấy tổng số tội phạm được thống kê trong 5 năm chia cho 5 để biết số tội
phạm trung bình của một năm.
+ Thứ hai, giải thích về tình hình tội phạm. So sánh số liệu thống kê tình hình tội phạm
với các số liệu thống kê các hiện tượng xã hội khác (dân số, việc làm, thu nhập, học vẫn,..), từ đó
cho thấy mối quan hệ và sự phụ thuộc giữa tình hình tội phạm với các hiện xã hội, có thể là
nguyên nhân và điều kiện tình hình tội phạm. VD: sau mùa world cup thì tội phạm sở hữu gia tăng
+ Thứ ba, dự báo tội phạm. Phương pháp thống kê cũng được sử dụng để dự báo tội
phạm. Nếu số liệu thống kê tội phạm đầy đủ, trong một giai đoạn dài cần thiết sẽ phản ánh xu 16
hướng của tình hình tội phạm trong tương lai. Nếu chọn một thời điểm tương ứng với con số cụ
thể được thống kê lâm mốc (quy ước 100%), những thời điểm tiếp theo có thể suy ra tỷ lệ trên
hoặc dưới 100% (nếu so sánh với thời điểm được chọn làm mốc), có nghĩa là diễn biến tội phạm
có xu hướng tăng hay giảm.
+ Thứ tư, đánh giá hiệu quả phòng ngừa tội phạm và tổ chức hoạt động phòng ngừa tội
phạm. Thông qua số liệu thống kê hình sự và những thay đổi của nó có thể đánh giá mức độ
tăng, giảm tội phạm và suy ra hiệu quả phòng ngừa tội phạm. Cũng từ những số liệu thống kê
định ra các hướng phòng ngừa tội phạm (loại tội phạm nào? Xảy ra ở đâu?,...).
- Các bước thực hiện phương pháp thống kê:
+ Bước thứ nhất, thu thập số liệu thống kê. Số liệu thống kê tội phạm hiện nay chủ yếu
được thu thập từ kết quả thống kê của các cơ quan chức năng như: Công an, Viện kiểm sát, Tòa
án. Mục đích của thống kê hình sự, ngoài việc đánh giá chính xác, khách quan tình hình vi phạm
pháp luật hình sự, tội phạm, còn nhằm từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu về vi phạm pháp luật
hình sự, tội phạm và kết quả giải quyết các vụ án hình sự phục vụ công tác nghiên cứu, đánh giá
tổng quát về tình hình tội phạm.
+ Bước thứ hai, tổng hợp và phân loại số liệu thống kê. Số liệu thống kê sau khi thu thp,
nhà nghiên cứu tiến hành tổng hợp (cộng, nhóm, xử lý các số liệu theo thời gian, địa bàn,...) và
phân loại theo mục đích nghiên cứu (hướng đến tìm hiểu loại tội phạm, mức hình phạt, nhân thân,...).
+ Bước thứ ba, phân tích, đánh giá số liệu thống kê. Đây là bước mà nhà nghiên cứu có
thể đưa ra các kết luận về tình hình tội phạm, nguyên nhân của tội phạm, xu hướng của tội phạm
trên cơ sở số liệu thống kê đã được thu thập, xử lý.
- Ưu điểm: có khả năng định lượng số tội phạm, người phạm tội với con số lớn
b. Phương pháp nghiên cứu chọn lọc (Phương pháp điều tra, nghiên cứu điển hình)
- K/N: Là phương pháp nghiên cứu toàn bộ hiện tượng thông qua một bộ phận điển hình của nó.
Kết quả nghiên cứu bộ phận được sử dụng để đánh giá chung cho toàn bộ hiện tượng cần nghiên
cứu. Là phương pháp có phạm vi đối tượng nghiên cứu rộng lớn, không phải nội dung nghiên
cứu nào cũng được thống kê, phải sử dụng thông tin từ nghiên cứu chọn lọc.
Ví dụ, phân tích 2 175 vụ cướp, cưỡng đoạt cho thấy: ban ngày xảy ra 370 vụ (17%), từ 19h -
22h: 1320 vụ (60,7%), 23h 5h: 485 vụ (22,3%). Kết quả khảo sát này (của 2 175 vụ) phản ánh
đặc điểm chung về thời gian xảy ra án cướp, cưỡng đoạt tài sản thay vì phải khảo sát tất cả
những vụ án đã xảy ra trên thực tế.
- Ưu điểm của phương pháp là tiết kiệm thời gian, công sức nghiên cứu và có thể phản ánh gần
đúng sự thật. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của nó là khả năng sai số do chỉ nghiên cứu một
bộ phận của toàn thể đối tượng cần nghiên cứu. Nếu chọn mẫu nghiên cứu với con số lớn và tính 17
điển hình cao sẽ cho sai số thấp hơn và ngược lại. Tội phạm học có đưa ra bảng quy tắc sai số để
giúp cho quá trình chọn số lượng mẫu nghiên cứu và đánh giá mức độ tin cậy của kết quả nghiên
cứu bằng phương pháp nghiên cứu chọn lọc.
c. Các phương pháp nghiên cứu xã hội học
- Phương pháp phiếu điều tra: Là phương pháp thu thập thông tin bằng phiếu điều tra, có ghi sẵn
nội dung các câu hỏi. Đây là phương pháp nghiên cứu xã hội học thường được tội phạm học sử
dụng. Không phải thông tin nào cũng có thế thu thập bằng phương pháp thống kê, như ý thức
pháp luật, lý do phạm tội, tình trạng và lý do ẩn của tội phạm, dư luận xã hội về tình hình tội
phạm và hiệu quả phòng ngừa tội phạm,... Tuy nhiên, đây lại là những nguồn thông tin mà
phương pháp phiếu điều tra có thể thu thập được => ưu điểm
Yêu cầu quan trọng nhất của phương pháp này là kỹ thuật đặt câu hỏi trong bảng câu hỏi (phiếu)
để thăm dò ý kiến của người được hỏi. Các câu hỏi phải dễ hiểu, đúng trọng tâm nghiên cứu,
hướng dẫn tâm lý của người được hỏi một cách tự nhiên khi lần lượt trả lời các câu hỏi. Kỹ thuật
thiết kế câu hỏi gồm các dạng: câu hỏi đóng (một phương án trả lời), câu hỏi mở (nhiều phương
án trả lời, tự do trình bày quan điểm), câu hỏi kết hợp đóng - mở. Vấn đề quan trọng thứ hai là
chọn mẫu để điều tra sao cho kết quả thu thập được có tính đại diện, đáng tin cậy.
Hạn chế của phương pháp này là người hỏi không kiểm soát được thái độ của người trả lời phiếu
điều tra (ví dụ, người trả lời không hiểu vấn đề, không nhiệt tình trả lời hoặc trả lời thiếu trách
nhiệm, trả lời thay,...).
Phiếu điều tra là một dạng phương pháp nghiên cứu chọn lọc, do đó số lượng mẫu điều tra càng
lớn thì xác suất đúng càng cao.
- Phương pháp phỏng vấn (đối thoại): Là phương pháp thu thập thông tin bằng cách hỏi - đáp
trực tiếp. Nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra cho phương pháp phỏng vấn cũng giống như phương pháp
phiếu điều tra, nhưng chi khác phương thức thực hiện: hỏi - trả lời trực tiếp, thay vì qua phiếu
điều tra. Ưu điểm của phương pháp này là người nghiên cứu kiểm soát được thái độ của người
trả lời. Tuy nhiên, tùy vào nội dung, mục đích và đối tượng phỏng vấn để lựa chọn hình thức
phỏng vấn sao cho phù hợp với diễn biến tâm lý của người được hỏi. Để có kết quả phỏng vấn
tốt, phù hợp yêu cầu nghiên cứu, cần chuẩn bị trước nội dung các câu hỏi.
- Phương pháp quan sát: Là phương pháp thu thập thông tin qua quan sát bằng mắt. Quan sát
cũng có thể thu thập thông tin bề ngoài của đối tượng cần quan sát, từ đó đoán được diễn biến
tâm lý bên trong. Nhiệm vụ của phương pháp này trong Tội phạm học là nghiên cứu tình trạng
sức khỏe, hình thái, tâm lý, thái độ của người phạm tội. Các loại quan sát: quan sát tự nhiên,
quan sát trong môi trường nhân tạo, tham gia vào hoạt động quan sát. Yêu cầu của phương pháp:
quan sát phải có chủ đích - có ghi chép các kết quả quan sát, quan sát không xâm phạm vào tự do
riêng tư của người bị quan sát. 18
- Phương pháp thực nghiệm: Là phương pháp nghiên cứu bằng cách tạo ra hoặc thay đổi các điều
kiện đề kiểm tra kết quả nghiên cứu. Trong Tội phạm học sử dụng chủ yếu là phương pháp thực
nghiệm xã hội như thay đổi điều kiện giáo dục, thay đổi điều kiện, phương tiện phát hiện tội
phạm,... để khẳng định có hay không sự phụ thuộc giữa đổi tượng nghiên cứu và điều kiện hoàn
cảnh đưa ra thực nghiệm. Nhiệm vụ của phương pháp này chủ yếu kiểm tra các nguyên nhân và
điều kiện phạm tội liên quan đến hoàn cảnh giáo dục, khả năng phát hiện tội phạm, hiệu quả áp
dụng các biện pháp cải tạo để phòng ngừa tội phạm. Vấn đề cần lưu ý của phương pháp này là
không được làm xấu hơn tình trạng của đối tượng thực nghiệm.
- Phương pháp chuyên gia: Là phương pháp tham khảo ý kiến các chuyên gia có kinh nghiệm
trong nghiên cứu và hoạt động thực tiễn về lĩnh vực cần nghiên cứu. Nếu như thế mạnh của
phương pháp thống kê là có khả năng định lượng số tội phạm, người phạm tội với con số lớn thì
thể mạnh của phương pháp chuyên gia là có khả năng làm sáng tỏ mặt định tính của tình hình tội
phạm một cách sâu sắc. Phương pháp chuyên gia có thể được sử dụng hiệu quả trong điều kiện
thiếu thông tin tội phạm, điều kiện kinh tế xã hội thay đổi nhanh chóng. Phương pháp chuyên gia
được thực hiện theo các bước:
Thứ nhất, nhóm nghiên cứu thu thập, cung cấp thông tin, đề nghị yêu cầu đánh giá; thứ hai,
thành lập nhóm chuyên gia và tổ chức cho chuyên gia làm việc, đưa ra ý kiến; thứ ba, nhóm
nghiên cứu tổng hợp, xử lý ý kiến các chuyên gia để đưa ra kết quả nghiên cứu.
Hình thức thực hiện: có thể tổ chức cho các chuyên gia làm việc cá nhân hoặc làm việc tập thể (hội thảo, tọa đàm).
- Phương pháp so sánh các nguồn tài liệu: Là phương pháp so sánh các nguồn tài liệu ở các lĩnh
vực có liên quan đến tình hình tội phạm để tìm mối quan hệ và sự phụ thuộc giữa tình hình tội
phạm với các hiện tượng xã hội khác. Ví dụ, tài liệu phát hiện xử lý buôn lậu của hải quan, xử lý
hàng giả của quản lý thị trường, tài liệu chi trả bảo hiểm do tội phạm gây ra của cơ quan bảo
hiểm, tài liệu của các cơ quan y tế về điều trị thương tật, tai nạn do tội phạm gây ra,...
- Các phương pháp toán học, máy tính không trực tiếp thu thập thông tin từ đối tượng nghiên cứu
mà thường hỗ trợ quá trình xử lý thông tin, tài liệu được thu thập từ những phương pháp khác,
như xử lý số liệu thống kê, phiếu điều tra…
Câu hỏi: Tại sao Tội phạm học lại có những phương pháp nghiên cứu trên?
=> Tội phạm học là ngành khoa học xã hội - pháp lý có đối tượng nghiên cứu là những hiện
tượng xã hội có tính pháp lý nên mọi vấn đề nghiên cứu phải làm sáng rõ bản chất pháp lý và xã
hội của Tội phạm học. Mặt khác, xét về mặt bản chất, các phương pháp nghiên cứu Tội phạm
học được chia làm 02 nhóm chính: nhóm phương pháp phục vụ dưới mặt pháp lý (phương pháp
thống kê hình sự) và nhóm phương pháp phục vụ dưới mặt xã hội (phương pháp xã hội học...).
Do đó, tồn tại những phương pháp nghiên cứu trên trong Tội phạm học.
III. Chức năng, nhiệm vụ và hệ thống tội phạm học 19
1. Chức năng của tội phạm học
- Chức năng của tội phạm học được hiểu là những phương diện nghiên cứu cơ bản, thường
xuyên của tội phạm học. Nó phản ánh trình độ, xu hướng của tội phạm học ở các cấp độ: mô tả,
giải thích quy luật, dự báo và can thiệp vào quy luật đó. Như vậy, có thể nói tội phạm học có ba
chức năng cơ bản: chức năng mô tả, chức năng giải thích, chức năng dự báo và phòng ngừa tội phạm.
- Chức năng mô tả của tội phạm học: Tội phạm học làm sáng tỏ các đặc điểm về lượng - chất của
tình hình tội phạm, qua đó thấy được bức tranh tình hình tội phạm đã và đang xảy ra trên thực tế.
- Chức năng giải thích của tội phạm học: Tội phạm học làm sáng tỏ quy luật hình thành, thay
đổi, phát triển của tình hình tội phạm nói chung; quy luật về sự hình thành các đặc điểm nhân
thân người phạm tội cũng như vai trò của chúng trong cơ chế tâm lý xã hội của hành vi phạm tội.
- Chức năng dự báo và phòng ngừa tội phạm: Trên cơ sở kết quả mô tả về tình hình tội phạm,
giải thích quy luật của tình hình tội phạm, tội phạm học có khả năng dự báo xu hướng phát triển
của tình hình tội phạm trong tương lai.
Yêu cầu thực tiễn cho thấy dự báo tội phạm có tầm quan trọng và cần được tiến hành nghiên cứu
thường xuyên để định hướng công tác phòng ngừa tội phạm. Các chức năng của tội phạm học có
mối quan hệ mật thiết với nhau, từ đó định ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể.
Hiện nay, có những quan điểm khác về chức năng của tội phạm học. Quan điểm thứ nhất cho
rằng tội phạm học có ba chức năng: chức năng mô tả, chức năng giải thích và chức năng dự báo.
Quan điểm thứ hai cho rằng tội phạm học có bốn chức năng: chức năng mô tả, chức năng giải
thích, chức năng dự báo và chức năng phòng ngừa". Tội phạm học không thể thiếu chức năng
phòng ngừa tội phạm và cũng không nên coi dự báo tội phạm là một chức năng độc lập. Thực tế,
dự báo tội phạm gắn liền với phòng ngừa tội phạm. Vì vậy, xem tội phạm học có ba chức năng
với những nội dung của từng chức năng như đã trình bày là phù hợp.
Câu hỏi: Chức năng nào là chức năng quan trọng nhất của Tội phạm học?
=> Mặc dù chức năng dự báo và phòng ngừa tội phạm là chức năng phù hợp với mục tiêu của
Tội phạm học (vì dự báo và phòng ngừa tội phạm là điều tiên quyết, quan trọng nhất của Tội
phạm học), nhưng không có chức năng nào là quan trọng nhất, mà mỗi chức năng đều có giá trị
nhất định, có vai trò riêng, bổ trợ làm sáng rõ đối tượng nghiên cứu (các vấn đề nghiên cứu) trong Tội phạm học.
Câu hỏi: Có nên tách chức năng dự báo và phòng ngừa tội phạm không?
=> Không nên tách riêng thành hai chức năng dự báo và chức năng phòng ngừa tội phạm, mà
nên gộp lại thành một chức năng thống nhất vì dự báo và phòng ngừa tội phạm có sự hỗ trợ cho
nhau, không thể tách rời nhau. Tội phạm học không thể thiếu chức năng phòng ngừa tội phạm và
cũng không nên coi dự báo tội phạm là một chức năng độc lập. Thực tế, dự báo tội phạm gắn liền 20