



















Preview text:
AN TOÀN
TRONG CÔNG NGHỆ HÓA CHẤT
---------o0o---------
TS. VŨ TRƯỜNG GIANG
Trường Hoá và KHSS- Đại học Bách Khoa Hà Nội NỘI DUNG CHÍNH
Kỹ thuật An toàn và Môi trường nói chung và Kỹ
thuật An toàn và Môi trường trong Công nghiệp
Hóa chất nói riêng là một ngành khoa học tổng
hợp và liên ngành, nó bao gồm nhiều ngành khoa
học từ các ngành khoa học tự nhiên, khoa học cơ
bản đến các ngành khoa học ứng dụng, chuyên
ngành,… và các ngành khoa học khác như: kinh tế,
xã hội, tâm lý,… kết hợp lại. Tuy nhiên vì đây là giáo
trình và tài liệu tham khảo chính sử dụng cho sinh
viên ngành kỹ thuật hóa học nên chúng tôi giới
hạn và tập chung biên soạn nội dung giáo trình
bao gồm các phần chính như sau:
• Phần 1: Các khái niệm chung.
• Phần 2: Kỹ thuật an toàn trong công nghiệp Hóa học.
• Phần 3: Kỹ thuật công nghệ xử lý chất thải bảo vệ môi trường.
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
1) Bài giảng: KỸ THUẬT AN TOÀN VÀ MÔI
TRƯỜNG TRONG CÔNG NGHỆ HÓA HỌC –
TS. Phạm Ngọc Anh, Hà Nội 2021;
2) Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ban hành năm 2014;
3) Bộ luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ban hành năm 2014;
4) Luật bảo vệ môi trường - nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2014;
5) Luật Hóa chất - nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ban hành năm 2007;
6) Thông tư số: 32/2017/TT-BCT, ngày 28 /12 /2017;
7) Sổ tay hóa công - tập 1;
Phần 1. CÁC KHÁI NIỆM CHUNG
Chương I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG
I. Một số khái niệm cơ bản
I.1. Điều kiện lao động
• Trong quá trình lao động sản xuất, con người luôn luôn làm việc trong những
điều kiện lao động nhất định, sử dụng các phương tiện lao động nhất định.
• Những điều kiện lao động và các phương tiện lao động này có thể thuận lợi tiện
nghi hoặc cũng có thể khó khăn nguy hiểm cho người lao động.
• Điều kiện lao động chính là tổng thể các yếu tố về: kỹ thuật, tự nhiên, kinh tế, xã
hội, tổ chức,… nó được thể hiện qua các qui trình công nghệ, dây chuyền sản
xuất phương tiện lao động, môi trường lao động và con người lao động.
• Việc cải thiện điều kiện lao động theo xu hướng tốt lên, SD các Công nghệ có
trình độ phát triển cao hơn hiện đại hơn sẽ làm giảm thiểu đáng kể các nguy cơ,
các yếu tố gây nguy hiểm cho người lao động và cho cả hệ thống TB Công nghệ.
Chương I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG
I.2. Các yếu tố nguy hiểm và có hại
• Quá trình lao động trong một điều kiện lao động cụ thể, bao giờ cũng xuất hiện
các yếu tố vật lý, hóa học,… có ảnh hưởng xấu, nguy hiểm có nguy cơ cao gây
tổn hại đến sức khoẻ, tinh thần và tính mạng người lao động.
• Các yếu tố nguy hiểm và có hại càng tăng khi hệ thống thiết bị công nghệ càng
đa dạng, các yếu tố này có thể phát sinh ở bất kỳ vị trí nào trong dây chuyền
công nghệ và ở bất kỳ thời điểm nào trong quá trình sản xuất.
• Các yếu tố nguy hiểm và có hại trong lao động có thể gây nguy cơ tai nạn hoặc
gây bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
• Người ta có thể chia các yếu tố nguy hiểm và có hại thành các nhóm như sau:
✓ Các yếu tố vật lý bao gồm: nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động (chấn động),
các bức xạ có hại, bụi cơ học,...
Chương I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG
✓ Các yếu tố hoá học bao gồm: các chất độc, các loại hơi khí độc, các chất phóng
xạ, các chất cháy nổ, các hóa chất độc hại,…
✓ Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như: các loại rắn, côn trùng, các loại virut, siêu
virut, các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng,...
✓ Các yếu tố về kỹ thuật công nghệ như: qui trình công nghệ, qui trình làm việc,
các trang bị bảo hộ lao động, trang bị và dụng cụ điện,... có an toàn hay không
an toàn với tính mạng và tình trạng tâm sinh lý, sức khoẻ người lao động.
✓ Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, không tiện nghi, không hợp lý do không
gian nhà xưởng chật hẹp, vị trí thao tác khó khăn, thiếu vệ sinh.
✓ Các yếu tố tâm lý: do quan hệ với đồng nghiệp, quan hệ gia đình đời sống, hoàn
cảnh gia đình,... không thuận lợi.
✓ Các yếu tố về tổ chức quản lý lao động, về qui phạm an toàn, về sử dụng lao
động, về chế độ lao động, về huấn luyện bảo hộ lao động.
Chương I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG
I.3. Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp I.3.1. Định nghĩa
a) Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào
của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn
liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động (kể cả thời gian giải quyết các
nhu cầu cần thiết trong thời gian làm việc theo Bộ Luật Lao động quy định như:
nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho
con bú, đi vệ sinh, thời gian chuẩn bị và kết thúc công việc).
Tai nạn được coi là tai nạn lao động trong các trường hợp sau:
• Tai nạn xảy ra trên tuyến đường đi và về trực tiếp giữa nơi làm việc và:
✓ Nơi thường trú hoặc nơi tạm trú của người lao động.
✓ Nơi người lao động đến nhận tiền lương, tiền công.
• Tai nạn xảy do những nguyên nhân khách quan như: thiên tai, hoả hoạn và các
trường hợp rủi ro khác gắn liền với việc thực hiện các công việc, nhiệm vụ lao
động hoặc không xác định được người gây ra tai nạn xảy ra tại nơi làm việc.
Chương I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG
b) Bệnh nghề nghiệp: những bệnh lý mang đặc trưng của nghề nghiệp hoặc liên
quan tới nghề nghiệp của người lao động, là bệnh gây ảnh hưởng tới một số chức
năng của người lao động, nó làm suy yếu dần sức khoẻ người lao động và thường
xảy ra khi người lao động làm việc trong những điều kiện lao động không thuận lợi
trong và sau một thời gian dài.
Bệnh nghề nghiệp là đối tượng ngăn ngừa của lĩnh vực an toàn và vệ sinh lao
động. Ngay từ khi có lao động, bệnh nghề nghiệp đã xuất hiện và gây ảnh hưởng
tới người lao động. Bệnh nghề nghiệp được giải quyết các chế độ xã hội nếu được
doanh nghiệp sử dụng lao động và các cơ quan quản lý nhà nước công nhận tại
thời điểm xem xét phù hợp với các qui định hiện hành.
Ví dụ: công nhân mắc bệnh phổi Silic (lao động trong các hầm lò khai thác than,
các nhà máy sản xuất vật liệu silicát,…).
Chương I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG I.3.2. Phân loại
Tai nạn lao động thường được chia thành 3 loại được quy định tại Phụ lục số 1
kèm theo Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN của Liên
tịch Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.
• Tai nạn lao động chết người: là tai nạn lao động dẫn đến chết người (chết ngay
tại nơi xảy ra tai nạn; chết trên đường đi cấp cứu; chết trong thời gian cấp cứu;
chết trong thời gian đang điều trị; chết do tái phát của chính vết thương do tai
nạn lao động gây ra, …).
• Tai nạn lao động nặng: người bị tai nạn bị ít nhất một trong những chấn thương
Phụ lục số 1 kèm theo Thông tư nói trên.
• Tai nạn lao động nhẹ: là những tai nạn lao động không thuộc 2 loại tai nạn lao động nói trên.
Chương I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG
Ngoài ra người ta còn chia Tai nạn lao động thành 2 loại sau: chấn thương và
nhiễm độc nghề nghiệp.
• Chấn thương: là các trường hợp tai nạn bất ngờ không mong muốn, gây ra các
vết thương, vết bỏng, vết bầm dập,… dẫn đến sự huỷ hoại một phần nào đó,
hoặc toàn bộ cơ thể người lao động. Hậu quả của chấn thương có thể làm mất
khả năng lao động của người lao động một cách tạm thời, hoặc vĩnh viễn, hoặc
có thể trực tiếp gây chết người.
• Nhiễm độc nghề nghiệp: là sự huỷ hoại một phần sức khoẻ của người lao động,
do người lao động tiếp xúc trực tiếp với các loại hóa chất độc hại trong một
khoảng thời gian đủ dài, khi các điều kiện sản xuất không thuận lợi. Khi người lao
động bị nhiễm độc trong thời gian ngắn gọi là nhiễm độc cấp tính (hoặc gọi là
chấn thương), còn khi người lao động bị nhiễm độc trong thời gian dài gọi là
nhiễm độc mãn tính (hoặc bệnh nghề nghiệp).
Chương I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG
II. Mục đích, ý nghĩa, tích chất của công tác bảo hộ lao động
II.1. Mục đích của công tác bảo hộ lao động
Công tác bảo hộ lao động nhằm mục đích:
• Đảm bảo an toàn thân thể của người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất hoặc
không để xảy ra tai nạn lao động và chấn thương có thể gây tàn phế hay tử vong.
• Bảo đảm người lao động luôn luôn khoẻ mạnh, không bị mắc các bệnh nghề
nghiệp hoặc các bệnh tật khác do điều kiện lao động xấu gây ra.
• Bồi dưỡng phục hồi kịp thời và duy trì sức khoẻ, duy trì khả năng lao động cho người lao động.
• Giảm thiệt hại về vật chất và tinh thần cho gia đình người lao động, đồng thời giảm
thiểu các thiệt hại cho nơi sản xuất, doanh nghiệp và môi trường sống nói chung.
• Công tác bảo hộ lao động góp phần tăng năng suất lao động và giảm giá thành sản phẩm.
Chương I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG
II.2. Ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động II.2.1. Ý nghĩa chính trị
• Công tác bảo hộ lao động được thực hiện tốt là góp phần nâng cao uy tín của của
ĐV, uy tín của DN và xa hơn là uy tín của cả vùng, của cả ngành và của cả XH.
• Bảo hộ lao động tốt là thể hiện quan điểm của Nhà nước, coi trọng vai trò của
người lao động trong xã hội "vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển",
"con người là vốn quí nhất"; thể hiện phương châm và biện pháp thiết thực chăm
lo bảo vệ sức khoẻ, tính mạng, đời sống vật chất và tinh thần của người lao động. II.2.2. Ý nghĩa xã hội
• Công tác bảo hộ lao động tốt là chăm lo thiết thực đến đời sống vật chất, đời
sống tinh thần của người lao động.
• Đảm bảo có một xã hội trong sáng, lành mạnh, mọi người lao động làm việc có
hiệu quả cao và có vị trí xứng đáng trong xã hội "làm chủ xã hội, làm chủ thiên
nhiên, làm chủ khoa học kỹ thuật.
Chương I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG
II.3. Tính chất của công tác bảo hộ lao động
• Để đạt được ba mục tiêu trên (chính trị, xã hội, kinh tế), công tác bảo hộ lao động
có ba tính chất: tính chất khoa học kỹ thuật (khoa học công nghệ), tính chất pháp
luật và tính chất quần chúng.
• Ba tính chất này có quan hệ chặt chẽ với nhau, quan hệ hữu cơ với nhau, nếu
thiếu một trong ba tính chất nêu trên thì công tác bảo hộ lao động không còn ý
nghĩa đối với người lao động.
II.3.1. Tính khoa học kỹ thuật (khoa học công nghệ)
• Công tác bảo hộ lao động gắn liền với quá trình sản xuất, do vậy ngành khoa học
kỹ thuật về bảo hộ lao động gắn liền với khoa học công nghệ sản xuất vì chỉ có
khoa học kỹ thuật mới loại trừ được các yếu tố nguy hiểm tiềm ẩn trong các dây
chuyền công nghệ dây chuyền sản xuất.
Chương I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG
• Các nhà khoa học đã đặt ra nhiệm vụ phải loại trừ các yếu tô nguy hiểm từ các
dây chuyền công nghệ, dây chuyền sản xuất bằng các biện pháp kỹ thuật, công nghệ:
✓Người lao động tiếp xúc trực tiếp với những điều kiện có hại với sức khoẻ như
bụi, hơi, khí độc, tiếng ồn, rung sóc của máy móc,... và những nguy cơ có thể
xảy ra tai nạn lao động như nguy cơ về an toàn máy móc, nguy cơ cháy nổ,...
Do vậy muốn khắc phục được những điều kiện nguy hại tới sức khoẻ và tính
mạng người lao động để phát triển sản xuất thì nhất thiết phải áp dụng những
biện pháp khoa học công nghệ tiên tiến.
✓Khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động là khoa học tổng hợp liên ngành như: toán
học, cơ học, lý học, hoá học, sinh học, các ngành kỹ thuật như: cơ khí, điện,
điện tử, hoá chất, xây dựng...; các ngành xã hội học như: luật pháp, nhân trắc
học, dân số và phát triển...; các ngành cầu nối như: tâm lý lao động, thẩm mỹ
công nghiệp, y học lao động... Sử dụng các thành tực khoa học này để loại trừ
hay hạn chế nguyên nhân gây ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tăng chất lượng cuộc sống.
Chương I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG II.3.2. Tính pháp luật
• Nhà nước quản lý kinh tế bằng pháp luật và do công tác bảo hộ lao động là một
nội dung trong quản lý kinh tế, vì vậy mọi nghiên cứu khoa học về bảo hộ lao
động và kỹ thuật an toàn trong thực tế đều không có ý nghĩa khi nó không được pháp luật công nhận.
• Tính pháp luật của bảo hộ lao động thể hiện ở những văn bản luật pháp, những
qui phạm và những qui định bắt buộc mọi ngành, mọi cấp, mọi tổ chức quần
chúng, người quản lý lao động, người lao động và chủ doanh nghiệp phải nghiêm
chỉnh chấp hành và tự giác thực hiện.
• Các qui phạm và tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn có tính chất bắt buộc cao nhất,
không thể châm chước và hạ thấp các tiêu chuẩn, qui định này trong quá trình sản xuất.
• Tính chất luật pháp của bảo hộ lao động phản ánh đường lối, quan điểm, chính
sách của Nhà nước về công tác bảo hộ lao động.
Chương I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG II.3.3. Tính quần chúng
Công tác bảo hộ lao động mang tính quần chúng rộng rãi.
• Người lao động là những người trực tiếp thực hiện qui trình, qui phạm và các
biện pháp kỹ thuật an toàn; giám sát, phát hiện và kịp thời ngăn chặn những vi
phạm an toàn, vệ sinh lao động trong sản xuất; Vì vậy, chỉ có người lao động tự
nguyện tự giác thực hiện công tác bảo hộ lao động trong sản xuất thì mới ngăn
ngừa được tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
• Khi các cấp quản lý nhận thức được tính quần chúng thì mới có quyết tâm và có
biện pháp tuyên truyền, giáo dục, vận động người lao động và mọi người nâng
cao ý thức tự giác, chấp hành luật lệ, chế độ bảo hộ lao động để mang lại hiệu
quả tốt đẹp cho công tác bảo hộ lao động và cho sản xuất.
• Bởi vậy có thể nói công tác bảo hộ lao động là hoạt động hướng về cơ sở và vì
con người mà trước hết là vì người lao động.
Tóm lại: Công tác bảo hộ lao động sẽ đạt được kết quả tốt nhất khi mọi cấp quản
lý và người lao động tự giác thực hiện đầy đủ cả 3 tính chất trên một cách đồng bộ.
Chương I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG
III. Lợi ích về kinh tế của công tác bảo hộ lao động
Thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động sẽ đem lại lợi ích kinh tế rõ rệt:
• Trong công tác, sản xuất, nếu người lao động được bảo vệ và chăm lo sức khoẻ
tốt, không bị ốm đau, bệnh tật; điều kiện làm việc thoải mái, không nơm nớp lo sợ
bị tai nạn lao động, lo sợ bị mắc bệnh nghề nghiệp thì sẽ an tâm, phấn khởi sản
xuất, sẽ có ngày công và giờ công cao và hiệu quả về năng suất và chất lượng sản phẩm.
• Phúc lợi tập thể được tăng lên tạo điều kiện để cải thiện đời sống vật chất và tinh
thần của cá nhân người lao động và tập thể người lao động, đồng thời có tác
dụng tích cực bảo đảm đoàn kết nội bộ và sự phối hợp chặt chẽ để đẩy mạnh chất lượng sản xuất.
Ngược lại, nếu để môi trường làm việc quá xấu, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề
nghiệp hoặc ốm đau xảy ra nhiều sẽ gây rất nhiều khó khăn cho sản xuất và các
vấn đề liên đới tới đời sống người lao động cũng như các vấn đề chính trị xã hội.
IV. Những nội dung cơ bản của công tác bảo hộ lao động
• Lao động sản xuất là một trong những hoạt động quan trọng nhất của con người,
quá trình lao động sản xuất sẽ tạo ra của cải vật chất cho con người và xã hội, là
yếu tố quyết định đến sự phát triển của toàn xã hội.
• Để đạt được những mục tiêu đề ra và thực hiện đầy đủ các tính chất của công tác
bảo hộ lao động phù hợp với các định hướng của Nhà nước, khi đó công tác bảo
hộ lao động có ba nội dung chính sau đây:
✓ Công tác vệ sinh lao động.
✓ Công tác kỹ thuật an toàn.
✓ Công tác bảo hộ lao động tại doanh nghiệp (xây dựng, tổ chức thi hành các
luật lệ, chế độ, chính sách về bảo hộ lao động của Nhà nước ban hành tại doanh nghiệp sản xuất).
• Ba nội dung này có quan hệ chặt chẽ nhau, nhằm góp phần sử dụng và chăm sóc
người lao động hợp lý, tăng năng suất lao động, hạn chế tai nạn và bệnh nghề
nghiệp trong quá trình lao động sản xuất.