



















Preview text:
Chương 1
QUYỀN LỰC VÀ QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ
(Tổng số giờ: 11, lý thuyết:08, thảo luận: 03)
1.1. Quyền lực
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của quyền lực a) Khái niệm
Quyền lực là quan hệ xã hội ra đời và tồn tại cùng với xã hội loài người. Con người
sống trong cộng đồng, trong tổ chức cần phối hợp hoạt động với nhau, cần có người chỉ
huy và phục tùng nếu không xã hội sẽ hỗn loạn. Vì vậy, trong bất kỳ cộng đồng nào cũng
có hiện tượng người (nhóm người) này chi phối, quyết định hành vi của nhóm người khác,
buộc họ phải phục tùng ý chí của mình. Quyền lực trở thành mục tiêu và động lực của con
người. Lịch sử loài người gắn với các cuộc đấu tranh giành quyền lực trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội. Do tầm quan trọng đặc biệt đó, quyền lực là đối tượng của nhiều
ngành nghiên cứu trong đó có chính trị học.
Cho đến nay, trong giới khoa học có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm
quyền lực. Quyền lực theo tiếng Latin là potere, tiếng Anh là Power, tiếng Nga là Vlast,
dù quan niệm và cách tiếp cận còn có những điểm khác nhau nhưng các ngôn ngữ đều có
điểm thống nhất: quyền lực liên quan đến sức mạnh, sự ảnh hưởng, sự định hướng, kiểm
soát, quản lý, thống trị.
Để làm rõ khái niệm quyền lực có nhiều cách tiếp cận khác nhau:
Theo tiếng Hán, thuật ngữ quyền lực được hình thành từ hai từ ghép lại Quyền và lực.
Lực là sức mạnh, khái niệm chỉ thuộc tính bất kỳ của hệ vật chất nào xét trong tương tác với
hệ vật chất khác có khả năng duy trì hoặc tạo nên sự biến đổi; là cái vốn có của bất kỳ hệ
vật chất nào (khách quan, phổ biến) nhưng lại hiện hình trong các mối quan hệ tương tác (cơ
– lý – hóa – sinh), khả năng duy trì sự tồn tại hoặc tạo sự biến đổi. Tương tự các cộng đồng
người cũng tiềm ẩn các lực, sức mạnh nhất định. Quyền là khái niệm chỉ mối quan hệ trong
xã hội, là khả năng thực hiện những hành vi, là cái người khác trao cho mình hay sự thừa
nhận của người khác đối với mình, là thế lực có thể định đoạt được việc này hay việc khác.
Trong quan hệ cộng đồng, quyền tồn tại với các điều kiện xã hội xác định, nhất là có sự thừa nhận của cộng đồng.
Như vậy quyền lực là sự thống nhất giữa quyền và lực và nó chỉ hình thành khi có đủ
hai yếu tố này. Trên thực tế, vẫn tồn tại hiện tượng có lực nhưng không có quyền (có thực
mà chẳng có danh); hoặc có quyền nhưng không có lực (hữu danh vô thực). Quan hệ
quyền – lực có sự chuyển hóa biện chứng, quyền sinh ra lực, lực tạo ra quyền. Trong
quan hệ cộng đồng, quyền lực được xác lập với các điều kiện xã hội nhất định. Đó là
quyền lực sử dụng sức mạnh phục vụ nhu cầu, lợi ích của một người hay nhóm người
nào đó; sự thừa nhận của người khác là yếu tố có vị trí đặc biệt trong quan hệ quyền lực. 1
Theo cách tiếp cận này có thể hiểu: “Quyền lực, trong ý nghĩa chung nhất, là năng lực
và khả năng thực hiện ý chí của mình tác động đến hành động, hành vi của những người
khác nhờ phương tiện nào đó, như uy tín, quyền hành, sự cưỡng bức (kinh tế, chính trị,
nhà nước, gia đình…”1.
Từ thời kỳ cổ đại, Platon quan niệm quyền lực là cái mà người có nó có khả năng
buộc người khác hành động theo ý mình. Vậy cái mà người có nó là gì? Đó là trí tuệ, bạo
lực. Theo Platon, trí tuệ là quyền lực của người có khả năng chi phối, dẫn dắt người khác
bằng sự thông tuệ của mình; quyền lực bạo lực là dùng sức mạnh bạo lực để bắt buộc
người khác phục tùng ý chí của mình.
Các quan niệm kinh điển coi quyền lực như đấng tối cao trong hiện thực chính trị với
tư cách là mục đích tối cao và là nguyên nhân đầu tiên của hành vi chính trị. Mặt khác
quyền lực được nhìn nhận như phúc lợi vật chất – có thể chiếm đoạt, chi trả, tăng lên hay
giảm đi, là tiền bạc của chính trị , có thể chuyển nhượng, phân chia hoặc đền bù cho nhau.
Có thể xuất hiện trong trường hợp trong cùng một mối quan hệ, có kẻ ít quyền lực, có kẻ
nhiều quyền lực, có người lại không có gì. Siêu quyền lực là trong quan hệ xã hội, một
nhóm ra lệnh và một nhóm buộc phải chấp hành. Trong quan hệ này thường tiềm ẩn xung
đột. Ở đây không có quan hệ đồng thuận, theo đó, quyền lực tương ứng với khả năng của
con người không chỉ hành động và tiếp nhận mà còn liên kết với người khác, hành động
trong sự đồng thuận với người khác.
Theo lý thuyết hệ thống, quyền lực không bao giờ chỉ trao cho một người, nó thuộc
về cả nhóm và tồn tại cho đến lúc nhóm đó còn tồn tại (quyền lực nhóm). Nếu chúng ta
nói rằng: anh ta có quyền lực có nghĩa trên thực tế anh ta đã hành động thay mặt cho cả
nhóm. Khi nhóm không trao quyền cho anh ta nữa thì anh ta cũng không còn quyền lực.
Lý thuyết đồng thuận đối lập với quan niệm cổ điển về quyền lực, giống như đồng
thuận – xung đột vậy. Nếu theo quan điểm xung đột, quyền lực được định nghĩa chỉ trên
cơ sở quan hệ giữa chủ thể quyền lực và đối tượng thực thi quyền lực, thì quan điểm đồng
thuận coi quan hệ quyền lực theo nghĩa bất đối xứng thường đi kèm với những yếu tố
cưỡng bức. Cách tiếp cận xung đột tập trung xem xét quyền lực trong thực thi, còn cách
tiếp cận đồng thuận thì xem xét quyền lực trong nguồn gốc của nó.
Nghiên cứu về biểu hiện của quyền lực (đồng thuận hoặc cưỡng bức hành vi), M.
Weber phân biệt rất rõ giữa quan hệ quyền lực và lĩnh vực thực thi quyền lực. Từ dấu hiệu
đầu tiên của khái niệm quyền lực và cơ sở của quyền lực, ông rút ra kết luận: Quyền lực
là phương tiện để cưỡng bức được sử dụng trong quá trình xung đột. Quyền lực là khả
năng dựa trến bất kỳ cơ sở nào của một chủ thể trong mối quan hệ xã hội sẽ ở vào vị thế
thực hiện được ý chí của mình bất chấp sự phản kháng tại vị trí để thực hiện ý chí“. Cần
1 Từ điển Bách khoa Triết học, Nxb Bách khoa toàn thư Xô viết, M, 1989(tiếng Nga), tr.92. 2
khẳng định rằng, M. Weber không chỉ giới hạn các hình thức biểu hiện của quyền lực bởi
cưỡng bức và bạo lực, mà còn thừa nhận vai trò của chính kiến, ảnh hưởng, uy tín...Phạm
trì quyền lực được ông phân tích từ các góc độ khác nhau: tâm lý học, xã hội học, kinh tế
học, chính trị học, đạo đức học...
Các nghiên cứu về quyền lực thế kỷ XX chịu ảnh hưởng khá lớn quan niệm của M.
Weber, Một số nhà khoa học coi quyền lực là một phạm trù của khoa học chính trị, nên
không thể sử dụng trong quan hệ cá nhân. Quyền lực là chức năng tổ chức cộng đồng, tạo
dựng và giữ gìn trật tự nhóm, là chức năng của chính xã hội 2 . Nhóm thứ hai quan niệm
rộng hơn, vừa thừa nhận hình thức cá nhân của quyền lực, quyền lực này khác với quyền
lực chính trị nhưng cũng có cùng những điểm chung nhất định. T. Parsons cho rằng, bản
chất của quyền lực cá nhân là biểu hiện quan hệ thống trị của cá nhân này đối với các nhân
khác trực tiếp bằng những biện pháp trừng phạt tích cực hoặc tiêu cực. Quan hệ này theo
ông có thể so sánh với quan hệ trao đổi trong kinh tế. Quyền lực chính trị khác quyền lực
cá nhân bởi sự tượng trưng và cộng đồng của các phương tiện thống trị. Mục tiêu của sự
thống trị đó là tổ chức hành động tập thể. T. Parsons đưa ra ví dụ rằng vai trò của quyền
lực trong chính trị giống như vai trò của tiến trong kinh tế3. Nhóm thứ ba gồm các nhà
chính trị học, triết học chính trị, cho rằng quyền lực trong tất cả các hình thức tồn tại của
nó là thống nhất; khoa học chính trị nghiên cứu trong tổng thể, trong tất cả các hình thức tồn tại của nó.
Chính trị học phương tây tập trung vào ba cách tiếp cận về quyền lực: Tâm lý học,
xã hội học và chính trị học. Khuynh hướng cơ bản trong xem xét quan hệ quyền lực là tâm
lý hóa các quan hệ đó. Quyền lực được định nghĩa trước hết như quan hệ giữa các cá nhân,
nó cho phép một cá nhân thay đổi hành vi của cá nhân khác. Quyền lực là : quan hệ giữa
các nhóm xã hội, khi hành vi của một hay nhiều nhóm trong những tình huống nào đó phụ
thuộc và hành vi của nhóm khác (nhóm kiểm soát). Một phương án mềm hơn cho rằng
quyền lực là khả năng mà nhờ đó một hoặc một nhóm cá nhân này ảnh hưởng đến nhóm
hoặc cá nhân khác 4. Cố gắng giữ tính cưỡng bức trong cách tiếp cận của M.Weber, một
số tác giả định nghĩa quyền lực như là khả năng của một cá nhân hay một nhóm thực hiện
thực hiện ý chí của mình trong quan hệ với cá nhân hoặc nhóm khác nhờ những sợ hãi,
hoặc thưởng phạt, hoặc trừng phạt bất chấp sự kháng cự, tất cả những phương thức hành
động đó gọi là những biện pháp tiêu cực.
Điểm chung trong các định nghĩa nêu trên là coi quan hệ quyền lực trước hết là quan
hệ giữa hai chủ thể cùng tác động đến nhau trong quá trình phối hợp hành động.
2 Bierstedt R. An Analiysis of social power, Americal sociological review. 1950 No 15 P733
3 Parsons T, on the concept of political Power, Processdings of the American philosophical soceity, 1963
4 French J. R, Raven B The bases of society, Carwright D Zander A Grup Diamics: Reseach and Theory, 1960 3
Ngoài ra, cách tiếp cận về quyền lực còn được chia ra 3 phương án: Lý thuyết chống đối;
trao đổi nguồn lực; phân chia vùng ảnh hưởng. Trong lý thuyết chống đối (D. Kaplan, J
French, B Raven…), quan hệ quyền lực được nghiên cứu, trong đó chủ thể quyền lực đàn
áp sự chống đối của đối tượng theo các cấp độ và hình thức khác nhau. Trong Lý thuyết trao
đổi nguồn lực (P.Blau, D. Hikson, K.Hainings…), nghiên cứu tình huống khi có sự không
ngang bằng về phân bổ nguồn lực giữa các bên tham gia trong quan hệ xã hội, xuất hiện nhu
cầu gay gắt về nguồn lực ở những người đã bị tước mất. Lúc đó, phía người thừa nguồn lực
(đã có quyền lực) đưa ra một phần nguồn lực trao đổi với người thiếu hụt để lấy hành vi mà
mình mong muốn. Khi đó, quyền lực là một dạng trao đổi. Tuy nhiên, nguồn lực hay các giá
trị xã hội không thể trở thành quyền lực nếu không sử dụng chúng trong quan hệ quyền lực,
tức không đưa vào thực thi để thay đổi hành vi của đối tượng. Lý thuyết phân chia vùng ảnh
hưởng (D. Wrong…) tập trung sự chú ý không chỉ vào những tình huống riêng biệt trong
phối hợp hành động của các cá nhân, mà còn vào tổng thể các hành động đó. Khi có sự thay
đổi vai trò của các bên tham gia, nếu như trong tình huống bên này có quyền lực thì trong
thay đổi tình huống, lĩnh vực tương tác ảnh hưởng của bên đó có thể bị thay đổi tức không
có quyền lực. Quan hệ quyền lực như một loại quan hệ xã hội đặc biệt bất đối xứng. Những
sự ảnh hưởng qua lại với tư cách là tiêu chí của quan hệ xã hội không bao giờ mất đi, trừ
những trường hợp đặc biệt, đó là hình thức bạo hành của thể xác, sự tương tác là nguồn gốc của quyền lực.
Quyền lực còn được hiểu là các giá trị xã hội được sử dụng bởi các chủ thể trong quá
trình phối hợp hành động của các quan hệ xã hội, để tác động lên đối tượng, nhằm thay đổi
ý chí, hành vi của đối tượng theo một mục đích nhất định. Theo quan niệm này, quyền lực
là một khái niệm rất quan trọng trong đời sống xã hội nhưng rất phức tạp, gồm những dấu hiệu:
- Trước hết là một loại giá trị xã hội còn gọi là nguồn lực hay cơ sở của quyền lực
- Những giá trị đó được chủ thể sử dụng trong hành động của đời sống xã hội
- Tác động vào đối tượng nhằm điều chỉnh, thay đổi hành vi của đối tượng, với mục đích cụ
thể. Giá trị xã hội, nguồn lực hay cơ sở của quyền lực được hiểu là của cải, vũ khí, trí tuệ,
uy tín, kinh nghiệm, kỹ năng, chân, thiện, mỹ, quyền , tư liệu sản xuất, thể chế xã hội, tương
lại, truyền thống…Ví dụ, kinh nghiệm sản xuất nếu không gắn với một tộc trưởng trong việc
chỉ huy thị tộc của mình thì kinh nghiệm đó chỉ là giá trị (nguồn lực) mà không phải là quyền
lực. Nói cách khác, chúng chỉ là nguồn lực của quyền lực chứ chưa phải quyền lực. Chủ thể
phối hợp hành động trong đời sống xã hội, mà phối hợp hành động chỉ diễn ra khi con người
sống thành cộng đồng (từ hai các thể trở lên) cùng hành động thực hiện một mục đích chung
nào đó. Đời sống cộng đồng là đặc trưng của con người, làm nền bản chất xã hội của con
người. Do phối hợp hành động chung nên cần phải có tổ chức đóng vai trò trung tâm phối 4
hợp, trung tâm này đóng vai trò chỉ huy, điều tiết, thay đổi hành vi của các thành viên thành hành vi tập thể.
Từ các cách tiếp cận giới khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau. Theo
Đantra, quyền lực là cái giúp ta buộc người khác phải phục tùng. Lipson thì cho rằng, quyền
lực là khả năng đạt tới kết quả nhờ hoạt động phối hợp. Agrazia khái quát: quyền lực là khả
năng ấn định những quyết định có ảnh hưởng đến thái độ của con người. B.Russel lại hiểu,
quyền lực là cái làm cho người khác hoạt động theo sự lựa chọn của ta, là khả năng tạp ra
sản phẩm có chủ ý. A. Toffler nhấn mạnh: quyền lực là cái buộc người khác phải hành động
theo ý của ta; bạo lực, của cải, tri thức là ba dạng phổ biến và cũng là ba phương thức cơ
bản để đạt quyền lực.
Theo Bách khoa toàn thư (Liên Xô), quyền lực là phạm trù dùng để chỉ khả năng
thực hiện ý chí của mình tác động đến hành vi, phẩm hạnh của người khác thông qua một
phương tiện nào đó như uy tín, nhà nước, sức mạnh…5. Từ điển Bách khao Việt Nam định
nghĩa “quyền lực là quyền định đoạt và sức mạnh để đảm bảo sự thực hiện”. Nguyễn Khắc
Viện cho rằng, “quyền lực là năng lực được một người hay nhóm người sử dụng để buộc
những cá nhân hay nhóm người khác phải có hành vi nhất định” Theo Lưu Văn Sùng, “quyền
lực là mối quan hệ giữa các chủ thể hành động của đời sống xã hội, trong đó chủ thể này có
thể chi phối hoặc buộc chủ thể khác phải phục tùng ý chí của mình nhờ có sức mạnh, vị thế
nào đó trong quan hệ xã hội”6
Như vậy, các nhà khoa học nhấn manh quyền lực là quan hệ giữa hai chủ thể: chi
phối và bị chi phối; chỉ huy, ra lệnh và tuân thủ phục tùng. Dấu hiệu của sự tồn tại quyền
lực và quan hệ quyền lực là người này có thể bắt buộc người (nhóm người) khác phải theo
mệnh lệnh, ý chí cảu mình. Thậm chí người có quyền có thể tước đoạt mạng sống của ột hay
nhiều người khác trong nỗi sợ hãi của những người đó và sự chấp nhận hoặc thừa nhận của
cộng đồng. Quyền lực là mối quan hệ xã hội đặc biệt, ai chi phối được nó thì buộc người
khác phải phục tùng; việc vận dụng có kết quả mối quan hệ đó sẽ cho phép đạt được mục
tiêu nhờ hoạt động phối hợp; việc nắm giữ và sử dụng mối quan hệ đó sẽ cho phép chủ thể
có tác động tới hành vi, phẩm hạnh của người khác.
Tổng hợp những khái niệm quyền lực từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, có thể hiểu:
Quyền lực là khả năng thực hiện ý chí của mình, tác động đến hành vi, phẩm hạnh của người
khác nhờ một ưu thế nào đó như sức mạnh, địa vị xã hội.
Để hiểu rõ khái niệm quyền lực, cần phân biệt quyền lực với một số khái niệm gần
nghĩa. Đó là: quyền uy, quyền hành, thống trị, phục tùng.
5 Xem: Bách khoa triết học.M. 1983, Tr15. Tiếng Nga
6 Viện Khoa học chính trị, Học viện CTQGHCM: Tập bào giảng Chính trị hocjm NXB LLCT, H, 2004, tr 236 5
Quyền uy là quyền lực được đề cập ở một sắc thái riêng biệt, đó là ý chí của người
khác mà ta tự nguyện tiếp thu, tôn kính. Đặc điểm của quyền uy là nó được xác lập trên cơ
sở uy tín, đó là sự phục tùng tự nguyện, tự giác, không có sự cưỡng bức, áp đặt. Thần thánh,
chúa trời, những lực lượng siêu nhiên là những dạng quyền uy mà con người phục tùng một
cách tự nguyện. Nhưng phổ biến nhất trong đời sống xã hội vẫn là quyền uy do con người
tạo nên và không ai có thể thoát khỏi sự chi phối của nó: Tuân theo các nề nếp gia đình, theo
phong tục tập quán, quy định của các cơ quan, tổ chức…Theo Angghen quyền uy là ý chí
cảu người khác buộc chúng ta phải tiếp thu, quyền uy lấy sự phục tùng làm tiền đề. Quyền
lực chỉ có thể là quyền uy khi nó được coi là chính đáng, xứng đáng về năng lực, uy tín…tức
là được chấp nhận từ phía đối tượng của quyền lực.
Có ba kiểu quyền uy: Quyền uy hợp pháp giựa trên sự chấp nhận tính hợp pháp của
quyền lực trong tổ chức; quyền uy truyền thống, là khi người ta gán tính hợp pháp của nó và
tin tưởng vào tính hợp pháp đó do tính thiêng liêng của những luật lệ và quyền lực cổ xưa,
quyền uy uy tín là nhân cách, hành vi mẫu mực nhờ đó được coi là phi thường và như được
phú cho những sức mạnh, những phẩm chất siêu nhiên, hoặc có nguồn gốc thiêng liêng.
Quyền hành (thẩm quyền): Là loại quyền lực được công nhận, phù hợp với lẽ phải
(quyết định điều hành trong phạm vi trách nhiệm của mình).
Thống trị là khả năng mà một mệnh lẹnh với một nội dung cụ thể được một nhóm
người nào đó tuân theo. Sự thống trị không bao hàm mọi cách thức thực thi quyền lực hay
ảnh hưởng lên những người khác, nó chỉ một mức tối thiểu của sự tự nguyện. Sự thống trị
một số lượng lớn người đòi hỏi một đội ngũ nhân viên Đó là những người đặc biệt có thể tin
tưởng được để thực thi những chính sách chung cũng như những mệnh lệnh cụ thể. Đội ngũ
nhân viên hành chính có xu hướng tuân theo lệnh cấp trên do tập quán, do những sợi dây
ràng buộc hữu hiệu, do tổng hợp lợi ích vật chất, hoặc do các động cơ tư tưởng. Các yếu tố
khác như tình cảm và lý tưởng là những yếu tố bổ sung cho sự liên kết trên.
Phục tùng là khả năng một mệnh lệnh sẽ nhận được sự tuân lệnh từ phía một nhóm
người xác định. Nó bao hàm đặc tính thói quen tuân lệnh mà không bàn cãi, không phê phán,
không chống đối. Sự phục tùng có thể tự giác, nhưng cũng có thể không tự giác (Bắt buộc phục tùng). b) Đặc điểm
Một là quyền lực gắn với sức mạnh, nhờ đó đạt kết quả. Nó được thể hiện thông qua
quan hệ địa vị và quan hệ lợi ích. Quyền lực là năng lực tác động làm thay đổi hành vi, phẩm
hạnh của người khác. Có hai dấu hiệu biểu hiện quyền lực, một là sự ưu thế (về địa vị xã
hội, kinh tế và trí tuệ…) của người (nhóm người) này với người (nhóm người khác), hai là
sự chấp nhận, phục tùng. Đó là mối quan hệ giữa hai chủ thể hành động: Chỉ huy, ra lệnh và
chủ thể bị chỉ huy, tuân thủ, phục tùng. 6
Quyền lực là phương tiện để đi đến mục đích khác. Con người muốn có quyền lực
để đạt được một giá trị, lợi ích nào đó (uy tín, của cải, an ninh) địa vị là cơ sở để thực hiện
lợi ích, lợi ích được đảm bảo thực hiện nhờ có địa vị. Đó là lý do giải thích tại sao trong xã
hội có hiện tượng khát vọng, đam mê quyền lực.
Hai là, quyền lực mang tính tất yếu khách quan, xuất phát từ nhu cầu tồn tại và phát
triển của xã hội loài người. Loài người sống thành cộng đồng có tổ chức mọi cá nhân cần
phải phối hợp hành động với nhau trong các hoạt động xã hội. Để có thể phối hợp hành động
được tất yếu phải thành quan hệ chỉ huy, phục tùng – quan hệ quyền lực.
Xuất phát từ hiện thực khách quan: nhu cầu (vật chất và tinh thần) của các thành viên
bao giờ cũng cao hơn cái mà xã hội đang có, vì vậy, thường xuyên xảy ra tranh chấp dẫn
đến hỗn loạn; để xã hội cân bằng, ổn định, cần có quyền lực chung để đề ra các giải pháp
phân bổ các lợi ích thiếu hụt đó. Trước hết đó là nhu cầu của hoạt động sản xuất, phân công
lao động xã hội. Từ nhu cầu tự nhiên phải phối hợp sản xuất, xuất hiện sự cần thiết “phải
phục tùng một sự chuyên chế thực sự bất chấp tổ chức xã hội như thế nào “. Theo Angghen,
một quyền uy và một sự phục tùng nhất định đều do những điều kiện vật chất làm cho trở
nên tất yếu đối với chúng ta.
Quyền lực có vai trò to lớn trong đời sống xã hội. Xã hội dưới bất kỳ hình thái nào,
cũng là sự tồn tại liên kết tương đối bền vững của những cộng đồng người. Vì thế, trong các
cộng đồng ấy, tất yếu nảy sinh nhu cầu hình thành nên một sức mạnh – quyền lực để duy trì
tính tổ chức, trật tự của cộng đồng và hướng mọi nỗ lực, hành vi của các thành viên xã hội
vào việc thực hiện những chuẩn giá trị chung được cả cộng đồng chấp nhận. Quyền lực đó
gọi là quyền lực xã hội (quyền lực công). Đó là yếu tố đảm bảo cho ý chí cá nhân phải phục
tùng ý chí chung; đồng thời nó còn củng cố nền chính trị, tạo nền tảng tư tưởng, định hướng
cho con người ở mọi hoàn cảnh lịch sử. Theo Mác, trong tất cả mọi công việc mà có nhiều
người hợp tác với nhau thì mối quan hệ chung và sự thống nhất của quá trình tất nhiên phải
hiện ra trong một ý chí điều khiển.
Như vậy, xã hội loài người tồn tại và phát triển không tách rời yếu tố quyền lực. Có
xã hội là có quyền lực, không phụ thuộc vào cá nhân mà phụ thuộc vào điều kiện tồn tại của
xã hội. Do đó, quyền lực là phạm trù xã hội. Trong lịch sử, quyền lực có tác dụng liên kết
các tập đoàn người nhất định, từ bộ lạc, bộ tộc đến quốc gia, dân tộc, đảng phái…
Ba là, quyền lực mang tính phổ quát, đa dạng và được biểu hiện trong các quan hệ xã
hội cụ thể. Các quan hệ quyền lực được đặc trưng bởi tính tổng hợp (có mặt trong tất cả các
dạng quan hệ xã hội) và tính bao trùm, khả năng thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội. Gia đình, dòng học, tổ chức xã hội, đảng phái, nhầ nước đều có thể coi là những
cách tổ chức quyền lực (Cách thức ra quyết định và thi hành quyết định). Nói cách khác,
trong cuộc sống, con người phải tham gia vào nhiều hệ thống quyền lực (đóng nhiều vai
diễn), do đó hệ thống quyền lực bao trùm lên mọi thành viên của xã hội, bất kỳ thành viên 7
nào trong xã hội cũng bị chi phối bởi quan hệ quyền lực. Ngay cả vua (con trời) cũng phải
“úy thiên mệnh”. Hàng năm phải lo tế trời, tế đất, cầu mong bình an. Trong các quan hệ
khác nhau thì ảnh hưởng của quyền lực cũng khác nhau: Mỗi cá nhân nằm trong nhiều mối
quan hệ quyền lực: Trong quan hệ này thì có quyền lực, trong quan hệ khác thì không. Xã
hội luôn vận động nên quan hệ quyền lực cũng luôn vận động biến đổi theo, nghĩa là đây là
quan hệ động chứ không tĩnh.
Bốn là, sự thi hành quyền lực có thể tác động đến các hành động và suy nghĩ theo
hai hướng: ngăn chặn hoặc thúc đẩy. Nếu nhằm mục đích ngăn chăn, chủ thể báo trước cho
đối tượng biết việc sử dụng quyền lực để kiểm soát họ. Nếu nhằm mục đích thúc đẩy tì có
thể báo trước việc sử dụng quyền lực để đạt được các mục đích chung. Lúc đầu người ta có
ấn tượng việc sử dụng quyền lực là không đúng vì nó hạn chế mọi người tự do hành động,
nhưng sau đó ấn tượng là đúng vì những nỗ lực chung của tập thể.
Khả năng thực thi quyền lực có thể ở dạng tiềm lực (khi sở hữu các nguồn lực và có
khả năng sử dụng chúng) hoặc công khai (khi nguồn lực chuyển hóa thành tác động đến
người khác). Hiệu lực của quyền lực được thể hiện thông qua mức độ chấp hành của người nhận.
Năm là, quan hệ quyền lực thường xuyên tồn tại trong trạng thái vừa xung đột, vừa
thống nhất. Xung đột quyền lực là khách quan, phổ biến; cân bằng quyền lực một cách lý
tưởng là hiện tượng rát hiếm có. Xung đột quyền lực phân ra hai loại tích cực và tiêu cực.
Đấu tranh giai cấp là xung đột quyền lực điển hình, là động lực thúc đẩy phát triển xã hội;
tranh giảnh quyền lực nội bộ (trong quốc gia, nhà nước, đảng phái, tổ chức…) là xung đột
tiêu cực. Thống nhất (cân bằng) quyền lực chỉ là tạm thời, tại thời điểm còn đang cân bằng
quyền lực nó đang chuẩn bị tiền đề để chuyển sang xung đột mới và sớm muộn nó sẽ bị phá
vỡ để quyền lực vận động về một cực. Các mỗi quan hệ trong quá trình thực thi quyền lực
luôn thay đổi, có thể từ chỗ có quyền lực như nhau nhưng sau một thời gian sẽ có chủ thể
nắm quyền lực chi phối.
Sáu là, quyền lực mang tính lịch sử và mang tính tương đối. Mỗi thời đại, mỗi giai
cấp quan niệm về quyền lực khác nhau. Ví dụ, quan niệm Nho gia, người nào có đạo đức,
liêm chính thì được trao quyền. Theo quan niệm Pháp gia, kẻ nào có sức mạnh (bạo lực, của
cải, trí tuệ) kẻ đó có quyền. Trong xã hội phong kiến, người nào có nhiều ruộng đất kẻ đó
có quyền. Trong xã hội tư bản, kẻ nào có nhiều công xưởng, nhà máy, tiền bạc kẻ đó có
quyền; trong chủ nghĩa xã hội, người nào có đức, có tài, đem trí tuệ phục vụ quyền lợi của
đất nước, của nhân dân thì được kính trọng và được nhân dân ủy quyền.
1.1.2. Phân loại quyền lực
a) Phân loại quyền lực trong lịch sử
Từ thời kỳ cổ đại, Platon cho rằng trong xã hội có 7 loại quyền lực: quyền lực gia
đình, bố mẹ có quyền đói với con cái, quyền lực của tầng lớp quý tộc đối với tầng lớp dưới, 8
giữa người già với người trẻ, giữa chủ nô và nô lệ, giữa người mạnh và kẻ yếu (mà theo ông
quyền lực này không được chấp thuận); giữa người thông thái dẫn dắt và và ra lệnh cho
người khác đi theo và chấp hành (đây là quyền lực mạnh nhất) ; và cuối cùng là quyền lực
của chúa. Ông phân biệt quyền lực bạo lực, tức là cai trị bằng sức mạnh là sự cưỡng bức, và
cho rằng cai trị bằng thuyết phục mới là chính trị.
Thời kỳ cận đại, J. Locke phân biệt các loại quyền lực khác nhau theo 4 mối quan hệ:
Cha – con; người chủ - làm thuê; chủ nô – nô lệ; người cai trị - nhân dân. Quyền lực cha –
con do luật lệ đặt ra để người cha có khả năng giáo dục và hình thành người trưởng thành.
Quan hệ - người làm thuê diễn ra giữa con người với điều kiện khác nhau. Một người tự do
trở thành người phục vụ do “việc bán (cho người chủ) trong một khoảng thời gian nhất định
sự phục vụ mà anh ta thực hiện để đổi lấy tiền lương. Nó trao cho người chủ một quyền lực
tạm thời đối với người phục vụ theo những gì đã được ghi nhận trong hợp đồng, và rõ ràng
ở đây không thể có quyền lực tùy tiện và tuyệt đối. Quan hệ chủ nô – nô lệ diễn ra khi các
tù nhân, bị lấy từ cuộc chiến, là đối tượng của quyền lực tùy tiện và tuyệt đối của người chủ,
người có thể thậm chí lấy đi cuộc sống của họ vì tù nhân bị loại khỏi xã hội công dân. Đây
là quyền lực chuyên quyền mà chủ nô sử dụng cho lợi ích của chính họ. Quan hệ người cai
trị - nhân dân, là quan hệ J. Locke đề cập quan chức – nhân dân, xuất hiện khi một hoặc một
số lượng người quyết định tham gia vào xã hội, nhượng lại quyền thực thi các luật tự nhiên
của mình cho cộng đồng và vì lý do đó thiết lập nên một xã hội chính trị hoặc dân sự. Con
người đặt quyền lực này thực hiện để đảm bảo phúc lợi của các thành viên của cộng đồng
và duy trì sở hữu của họ.
Cách phân loại của J.Locke có ý nghĩa quan trọng về mặt lịch sử vì nó cho phép phân
biệt giữa ột chính phủ tốt và một chính phủ xấu. Trong quan hệ cai trị - bị cai trị, ông bao
hàm cả sự cai trị của người cha – cư xử như người cha đối với con ncasi và cai trị chuyên
chế - cư xử như chủ nô với nô lệ.
Đến thời kỳ hiện đại, các tác giả J.French và B. Raven đưa ra nhiều cách phân loại quyền lực:
- Quyền lực dựa trên cơ sở phần thưởng, thì chỉ tăng lên cùng với những phần thưởng
được chờ đợi – muốn có quyền lực nhiều thì phải thưởng nhiều
- Quyền lực cưỡng bức dựa vào sự chờ đợi hình phạt do hành vi sai phạm. Sức mạnh
của quyền lực trong trường hợp này phụ thuộc vào mối đe dọa bị trừng phạt – muốn có
quyền lực nhiều thì phải phạt nhiều. Nhưng người ta có thể ít sai phạm và phải trốn kiểm
soát để khỏi chịu hình phạt . Các kiểu quyền lực này không tránh khỏi những giới hạn mà
các chủ thể quyền lực không thể nào vượt qua được.
- Quyền lực hợp pháp, chính đáng dựa trên sự thừa nhận quyền của chủ thể. Quyền lực
này dựa trên những giá trị như truyền thống, giá trị văn hóa, giáo dục, hệ thống chuẩn mực đạo đức… 9
- Quyền lực liên kết, hợp tác dựa trên sự hiểu biết và hợp tác giữa chủ thể và đối tượng
quyền lực. Sự hợp tác càng chặt chẽ thì quyền lực càng lớn.
- Quyền lực chuyên gia, dựa trên trình độ tri thức trong một lĩnh vực nhất định. Quyền
lực này thường được thực hiện bởi những ảnh ngruy tín nghề nghiệp, những tư vấn có giá trị.
Cách phân loại quyền lực của French và Raven cho phép xem xét quyền lực một cách
hợp lý hơn, có khả năng làm rõ hơn phạm trù quyền lực. Tuy nhiên cách phân chia quyền
lực này cũng có những giới hạn. Nó bị chi phối bởi những lợi ích xã hội, khi có được, nó
đảm bảo cho việc nhận quyền lực từ những giá trị nhất định. Nó còn chưa phân định được
nguồn lực của quyền lực hoặc các kiểu quan hệ quyền lực. Kiểu quan hệ quyền lực tất nhiên
dựa trên cơ sở quyền lực chứ không phải chính quyền lực.
Cũng có những cách tiếp cận phủ nhận mô típ vị lợi của quyền lực. Ví dụ, M.Mulder
coi lợi ích không phải là cơ chế tâm lý cơ bản của quyền lực, mà là mong muốn vươn tới
quyền lực vốn như nó có. Tư tưởng ấy đã có ở M. Weber và được M.Mulder chuyển thành
lý thuyết “rút ngắn khoảng cách đẳng cấp”7
b) Phân loại quyền lực theo các tiêu chí
Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đưa ra nhiều cách phân loại quyền lực
theo các tiêu chí khác nhau:
Theo cấp độ chủ thể: quyền lực cá nhân, quyền lực gia đình, quyền lực phòng họ,
quyền lực của tổ chức, cơ quan, tập thể; quyền lực của cộng đồng, quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp…
Theo lĩnh vực của đời sống xã hội: quyền lực kinh tế, quyền lực chính trị, quyền lực
văn hóa, quyền lực xã hội
Theo hình thức biểu hiện: quyền lực trực tiếp và quyền lực gián tiếp. Quyền lực của
con người nói chung thường được thực hiện trực tiếp một phần, trong nhiều trường hợp khác
được thực hiện thông qua chủ thể đại diện ( cá nhân và tổ chức đại diện).
Theo chuẩn mực pháp lý: quyền lực hợp pháp ( được pháp luật công nhận) và quyền lực không hợp pháp
Theo tính chất tác động: quyền lực tích cực, tiến bộ, cách mạng; quyền lực trung
gian; quyền lực tiêu cực, phản động.
Theo tính chất và nguyên nhân phát sinh, chi phối: quyền lực cưỡng bức, quyền lực
đạo đức, quyền lực uy tín, quyền lực địa vị…
Theo nguồn gốc, nguồn lực: bạo lực. của cải, trí tuệ;
Theo các mối quan hệ chủ yếu trong xã hội: gia đình, cộng đồng xã hội, nhà nước;
Theo phương thức thực thi và hiệu quả của nó: cưỡng bức, điều tiết, ảnh hưởng;
7 Mulder M. Power and Satisfaction in Task Oriented Group, Acta Psychologica, 1959, Vol. 16, P192 10
Quan niệm khác nhau về cách phân chia quyền lực là do các phương pháp nghiên
cứu khác nhau. Ví dụ, theo phương pháp xã hội học, muốn hiểu về quyền lực cần phải có
phương pháp phân tích đúng. Phương pháp đánh giá quyền lực, uy tín của người cầm quyền
cần phải thông qua thăm dò dư luận những người xung quanh ông ta, phân tích không phải
chính quyền lực mà ý kiến phía thứ ba một cách trực tiếp; xác nhận cấu trúc phân chia quyền
lực; và cuối cùng là phân tích quá trình ra quyết định. Cần khẳng định rằng mỗi cách phân
loại như vậy xuất phát từ những cách tiếp cận khác nhau về quyền lực. Điều quan trọng là
các cách phân loại được biết cho đến nay không mâu thuẫn, loại trừ nhau mà làm phong phú
thêm các góc độ nhận biết quyền lực.
1.1.3. Các nguồn lực tạo nên quyền lực
Nguồn lực là thuộc tính, trạng thái hoặc là lợi ích... Mà người sở hữu chúng sẽ tăng
khả năng ảnh hưởng của mình đối với người khác, nhóm khác. Sự chuyển đổi nguồn lực
thành quyền lực tạo ra một loạt sự trừng phạt, ban thưởng và các công cụ để trừng trị những
ai chống lại, giúp đỡ để loại trừ những ai cản trở và để cung cấp những phương tiện cho
những người thực hiện kế hoạch hành động được hoạch định tập thể.
Có 3 loại nguồn lực để tạo thành quyền lực: nguồn lực có tính cưỡng chế, nguồn lực
có tính vị lợi và nguồn lực có tính thuyết phục (tuyên truyền).
Nguồn lực cưỡng chế: dùng các phương tiện bạo, lực sức mạnh quân sự. Đó là những
vũ khí, kho tàng và nhân lực mà quân đội, cảnh sát sử dụng. Vũ khí sẽ không là quyền lực
nếu không ai sử dụng chúng trong một quan hệ xã hội nào đó (bắn vào người khác hoặc đe
dọa bắn vào người khác để buộc họ phải thực hiện một hành vi nào đó).
Nguồn lực vị lợi: là sử dụng sức mạnh kinh tế, bao gồm những tài sản, các khả năng
về kỹ thuật và hành chính, nguồn nhân lực. Tiền bạc là một giá trị xã hội, nguồn lực hay cơ
sở của quyền lực. Tiền bạc là quyền lực khi được một chủ thể sử dụng để thay đổi hành vi
của người khác, trong một quan hệ phối hợp hành động xã hội. Nếu không sử dụng vì chức
năng đó, tiền bạc chỉ là tiền bạc thuần túy, chỉ là một nguồn lực của quyền lực mà thôi. Sự
giàu có của tỷ phú sẽ không là quyền lực đối với một người mà ông ta không có quan hệ gì
với nhà tỷ phú đó. Người sở hữu tiền bạc trong trường hợp dùng tiền bạc thay đổi hành vi
của người khác là người có quyền lực. Người sở hữu tiền bạc nhưng không thực hiện việc
thay đổi hành vi của người khác bằng tiền bạc vẫn là người không có quyền lực. Việc tác
động lên người khác để thay đổi hành vi của họ là quan hệ quyền lực.
Nguồn lực mang tính thuyết phục: được thực hiện thông qua những hoạt động mang
tính biểu tượng như đề cao, khơi dậy những giá trị và tình cảm của công dân, huy động sự
ủng hộ và để trừng phạt những người đi chệch hướng. ( vì vậy, các chủ thể quyền lực tăng
cường sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng với tư cách là nguồn lực quan trọng).
Trong các trường hợp trên, vũ khí, tiền bạc giá trị xã hội khi chưa được chủ thể sử
dụng trong quan hệ quyền lực gọi là nguồn lực của quyền lực. Chủ thể khi chưa sở hữu và 11
sử dụng vũ khí tiền bạc hay giá trị xã hội để thay đổi hành vi của người khác là người không
có quyền lực. Như vậy, quyền lực chỉ hình thành khi nguồn lực kết hợp với chủ thể quyền
lực để thiết lập một quan hệ quyền lực.
M. Rogers chia ra hai kiểu nguồn lực: “ tiền nguồn lực” và “nguồn lực công cụ”. Loại
thứ nhất là thuộc tính, trạng thái, lợi ích chúng cần phải có trước khi đưa nguồn lực công cụ
vào hoạt động. Không có loại thứ nhất, loại thứ hai sẽ trở nên mất tác dụng. Nguồn lực công
cụ được hiểu là phương tiện để ảnh hưởng. Chúng có thể được sử dụng để kích thích, trừng
phạt hoặc thuyết phục. Như vậy, trong các tình huống khác nhau, những cá nhân thực hiện
được quyền lực hay không tùy thuộc vào việc có huy động được hay không” tiền nguồn lực”
và “nguồn lực công cụ” của mình.
Etziony chia nguồn lực thành 3 loại: lợi ích, cưỡng bức và chuẩn mực. Mục đích của
sự phân chia này là nhằm phù hợp với các phương pháp cai trị8 liên quan đến phương thức
thực thi quyền lực. Hai loại nguồn lực đầu cho phép chống lại sự chống đối của người dưới
quyền ( phải phục tùng). Loại nguồn lực thứ ba ảnh hưởng chủ yếu đến sự tiếp nhận vị trí
của người dưới quyền, đến mức độ điều khiển mang tính thể chế và hệ tư tưởng.
1.1.4. Phương thức giành, thực thi quyền lực
a) Quan điểm của Khổng Tử
Xuất phát từ nguồn gốc của quyền lực, Khổng Tử cho rằng, có hai phương thức giành
quyền lực cơ bản. Thứ nhất, dành quyền lực bằng bạo lực. Phương thức này không được
ông ủng hộ vì bản thân nó đi ngược lại với thuyết đức trị của ông. Việc tiếm quyền, cướp
ngôi ngay bản thân nó đã không chính đáng vì làm tôi mà giết vua không thể gọi là nhân và
sớm muộn gì cũng dẫn đến bị tiêu diệt, sụp đổ. Ngay cả Võ Vương người phải dùng võ lực
làm cách mạng diệt vua Trụ dành ngôi, mặc dầu có mục đích chính đáng cứu dân khỏi họa
phải sống dưới chế độ tàn bạo của vua Trụ cũng không được Khổng Tử khen ngợi. Thứ hai,
giành quyền lực theo phương thức kế truyền. Chọn người tài giỏi, có đức để truyền ngôi
hoặc giao cho những vị trí quyền lực trong chính quyền. Tài năng đức độ đó được rèn luyện
thông qua: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
b) Quan điểm của Machiavelli
Machiavelli cho rằng, phụ thuộc vào sự khác biệt về hoàn cảnh, tổ chức quyền lực
của mỗi đất nước mà có các phương thức giành quyền lực khác nhau.
Nếu dùng binh lực để tấn công một đất nước quân chủ thống nhất thì việc chiếm đánh
khó khăn, nhưng khi đã chiếm được thì việc duy trì, cai trị lại dễ dàng hơn. Đối với mô hình
quân chủ cát cứ, việc chiếm đánh dễ dàng nhưng lại khó giữ và phức tạp trong cai trị. Đối
với những vương quốc, thành bang đã từng có chủ quyền, việc cai trị khó khăn và phức tạp hơn.
8 Etzioni A. A comparative Analysis of Complex Organizations. N. Y. 1961 12
Quyền lực dành được nhờ binh lực và tài trí của bản thân sẽ gặp vô vàn khó khăn
nhưng việc cai trị thường dễ dàng hơn. Những khó khăn khi lên ngôi xuất phát phần nào từ
những luật lệ và thể chế mới mà quân vương buộc phải xác lập nhằm củng cố đất nước cũng
như để bảo vệ chính mình.
Quân vương được những đồng bào của mình suy tôn: nếu nhờ quý tộc sẽ gặp nhiều
khó khăn hơn trong việc duy trì ngôi báu so với được sự hậu thuẫn của dân chúng. Dù nhờ
lực lượng nào quân vương cần phải tranh thủ được cảm tình và sự ủng hộ của dân chúng.
Nếu không được lòng dân quân vương sẽ bị bỏ rơi khi hoạn nạn. Để có được nền móng vững
chắc là dân chúng, vị quân vương phải bảo vệ dân, trừng phạt kẻ thù hoặc bọn quan lại lấn át dân.
Những người nắm quyền nhờ binh lực của người khác và vận may của bản thân
(được ban tặng hoặc được các vị quân vương hùng mạnh ân sủng). Để duy trì được quyền
lực này quân vương lệ thuộc hoàn toàn vào hai yếu tố mong manh và thất thường là ý nguyện
và vận may của người ban quốc vương đó cho họ, trong khi ông ta không biết làm thế nào
và cũng không có khả năng bảo vệ địa vị của mình.
Giành quyền lực nhờ thủ đoạn quỷ quyệt và sự tàn ác: phải dựa vào những thủ đoạn
lừa lọc, phản trắc, bất nhân, tàn sát bạn bè, đồng bào của mình để giành quyền lực. Bằng
những phương cách này, người ta có thể đạt được quyền lực nhưng không thể có vinh quang.
Những người này luôn có nhiều kẻ thù và thường khó duy trì quyền lực của mình lâu dài.
Tuy nhiên, theo Machiavelli, có những vị quân vương lại giữ được quyền lực lâu bền do sự
tàn bạo nhờ sử dụng đúng cách. Sự tàn bạo được thực hiện một lần chỉ để nhằm tự vệ, không
lặp lại mà phải biến thành lợi ích to lớn cho thần dân.
c) Quan điểm của B.Russel
Theo B.Russel, có ba phương thức đặt quyền lực là:
Dùng sức mạnh vật lý tác động trực tiếp lên thân thể con người - đặc trưng của quân đội, cảnh sát;
Dùng thưởng phạt, lợi ích kinh tế - đặc trưng của ông chủ;
Dùng trí tuệ tác động, dẫn dắt, thuyết phục - đặc trưng của nhà trường nhà thờ.
d) Quan điểm của L.Lipson
L.Lipson cho rằng, trong con đường đi tới quyền lực, có một số ít người được lựa
chọn vì ưu tú, nhưng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác: chủng tộc, dân tộc, dòng dõi,
tuổi tác, giới tính, sức mạnh quân sự, tôn giáo, văn hóa, tài sản, sự hiểu biết... Trên cơ sở
những khác biệt đó, quyền lực được chia thành hai tầng lớp:
Một số ít cá nhân được lựa chọn làm lãnh đạo (có quyền lực), vì ưu tú.
Số đông bị loại bỏ vì thấp kém (bị lãnh đạo).
Chúng ta thường phân tích một số yếu tố tiêu biểu nêu trên: 13
Chủng tộc: yếu tố màu da trong nhiều trường hợp quyết định người có quyền hay
không có quyền. Hiện nay ở nhiều nước phương Tây, mặc dù Hiến pháp và pháp luật tuyên
bố quyền bình đẳng cho tất cả mọi người, nhưng trên thực tế vẫn còn phân biệt chủng tộc:
người da vàng, da đen, khó xin việc hơn, khó được đề bạt, cất nhắc hơn so với người da
trắng. Ngược lại ở Nam phi và một số nước Châu Phi người da trắng ít được tin tưởng và giao quyền lực.
Dân tộc: yếu tố dân tộc - dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số trong một quốc gia, dân
tộc nào có ảnh hưởng to lớn đến quyền lực? Ở các nước có nhiều dân tộc, do chính sách ưu
tiên dân tộc thiểu số, phải tính đến đại diện của các dân tộc trong bộ máy nhà nước từ trung
ương đến địa phương. Ngược lại đối với các chính thể có chính sách sôvanh, đại dân tộc,
chỉ những người thuộc dân tộc lớn mới được trao trọng trách còn các dân tộc khác khó có
khả năng có quyền. Hoặc do những mâu thuẫn sâu sắc trong lịch sử có dân tộc thống trị và
các dân tộc bị trị; do nghi kị lịch sử nên sau này là yếu tố chi phối quyền lực. Ví dụ người
Do thái bị nghi kỵ ở nhiều nước phương Tây, người Checxnhia bị nghi kỵ ở Nga, người Nga
bị nghi kỵ ở nhiều nước thuộc Liên Xô cũ nên khó có khả năng vươn lên nắm quyền lực chính trị.
Tôn giáo: Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới đều tồn tại nhiều tôn giáo khác
nhau, nhiều nước lấy một tôn giáo nào đó làm quốc giáo, vì vậy đây là yếu tố quan trọng tác
động đến quyền lực. Ví dụ, ở các nước Hồi giáo những người thuộc tôn giáo khác hoặc vô
thần ít có cơ hội nắm quyền lực hơn so với người Hồi giáo; tương tự đối với các nước thiên
chúa giáo, phật giáo, tin lành những người thuộc tôn giáo khác bị thiệt thòi hơn trên con
đường thăng tiến về chính trị. Hiện nay do ảnh hưởng của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan ở
nhiều nước phương Tây những người theo đạo Hồi không chỉ bị phân biệt đối xử trong chính
trị mà cả trong cuộc sống nói chung.
Giới tính: quan niệm của giai cấp thống trị về giới tính khác nhau qua các thời đại
lịch sử. Trước đây những nước Hồi giáo, Nho giáo rất coi thường phụ nữ thậm chí không
coi phụ nữ là người bình thường nên họ không được tham gia công việc nhà nước và công
việc xã hội, phải tuyệt đối phụ thuộc vào người đàn ông trong gia đình. Hiện nay, ở hầu hết
các nước dân chủ có xu hướng đề cao vai trò của phụ nữ, ưu tiên phục nữ trong các lĩnh vực
trong đó có chính trị. Vì vậy, người phụ nữ dù có thể thua kém một số mặt nào đó so với
đàn ông nhưng vẫn được đề bạt, trao quyền.
Lứa tuổi: yếu tố già - trẻ là rất quan trọng trong cất nhắc, đề bạt cán bộ. Yếu tố này
liên quan đến trạng thái sức khỏe, độ minh mẫn, nhanh nhạy theo quy luật chung, tuổi càng
cao sức khỏe càng giảm, khi đó người già ngại thay đổi dễ nảy sinh bảo thủ, trì trệ (nhiều
lãnh tụ ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây)
Vì vậy người nhiều tuổi ít có cơ hội để được đề bạt lên chức vụ cao hơn. Tuy nhiên,
trên thực tế vẫn có một số người tuổi cao nhưng vẫn năng động, thường xuyên tự đổi mới 14
(Đặng Tiểu Bình). Nhiều nước quy định độ tuổi và các chức vụ quan trọng trong bộ máy
quyền lực. Ví dụ, ở Mỹ quy định; hạ nghị sĩ phải từ 25 tuổi trở lên, Tổng thống phải trên 35
tuổi. Hầu hết các nước quy định tuổi nghỉ hưu của đàn ông là 60 đàn bà là 55.
e) Quan điểm của A.Toffler
Theo, A.Toffler, trong quá trình phát triển lịch sử, có ba phương thức đạt quyền lực:
của cải, bạo lực, trí tuệ. Sự phân cấp và phân tích sự biến đổi của “tam giác vàng quyền lực”
này dựa trên cơ sở của sự biến đổi công nghệ hiện đại của nền kinh tế tri thức. Mỗi phương
thức được thực hiện qua từng thời kỳ lịch sử khác nhau, trong nền văn minh nông nghiệp
bạo lực là con đường cơ bản để đi tới quyền lực; trong nền văn minh công nghiệp ai có của
cải kẻ đó có quyền lực; trong nền văn minh hậu công nghiệp, trí tuệ tiêu biểu cho sức mạnh của quyền lực.
Ba phương thức trên có bậc thang giá trị và phẩm chất khác nhau:
Bạo lực: là sức mạnh trực tiếp và đáng sợ và thường bị các cường quốc lạm dụng.
Đây là phẩm chất thấp nhất vì vũ lực không phải là phương tiện duy nhất để đạt quyền lực
(mặc dù trong thời đại ngày nay không ít vấn đề cần phải dùng vũ lực sức mạnh để giải
quyết). Nó kích thích chạy đua vũ trang, sự báo thù, gây nguy hiểm cho con người và xã hội.
Nó thu hút một lượng tri thức lớn của nhân loại nghiên cứu chế tạo ra các loại vũ khí giết
người ngày càng hiện đại hơn, hủy hoại con người ngày càng ghê gớm hơn (vũ khí hạt nhân
hóa học sinh học…). Sản xuất vũ khí tốn kém hơn nhiều so với sản xuất máy móc dân dụng,
nó tiêu hao một lực lượng vật chất tương đối lớn, gây ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế
- xã hội ở các nước. Nều sức mạnh bạo lực nằm trong tay một số ít người nó sẽ đe dọa hòa bình thế giới.
Của cải (tiến bạc): là phẩm chất loại 2, loại trung bình. Phẩm chất tốt hay xấu của
tiền phụ thuộc vào việc nó được dùng vào mục đích gì. Khi tiền bạc được dùng vào việc tốt,
người sở hữu nó sẽ đạt được quyền lực, được xã hội kính trọng đầu tư vốn để phát triển kinh
tế, tạo công ăn việc làm cho xã hội, viện trợ nhân đạo (ủng hộ vùng thiên tai, bão lụt, gia
đình chính sách, khó khăn...). Ngược lại, đồng tiền có thể gây nguy hại cho xã hội “có tiền
mua tiên cũng được”, “đồng bạc xé toạc tờ giấy”, có người dùng tiền để mua quan bán chức,
dùng tiền thao túng giới quan chức, đồng tiền làm suy thoái đạo đức, kích thích lối sống thực
dụng vật chất hóa các quan hệ xã hội.
Tuy nhiên, của cải vật chất không phải là một loại phương tiện duy nhất để đạt được
quyền lực. Nếu nó nằm trong tay một số ít người, nó sẽ làm giảm khả năng phổ biến quyền
lực trong xã hội. Tuy có sức mạnh lớn, song của cải vẫn có giới hạn chứ không phải là vô
hạn (tiền tiêu mãi cũng hết, khi đó quyền lực cũng sẽ mất đi; mặt khác, không phải cái gì
cũng mua được bằng tiền).
Trí tuệ: là phẩm chất cao nhất, chỉ có ưu mà không có nhược. Giành quyền lực bằng
trí tuệ không phụ thuộc vào vũ lực sức mạnh và của cải vật chất mà nó phụ thuộc vào tư duy 15
sáng tạo của con người. Vượt qua những bất bình đẳng về đẳng cấp, giới tính, tôn giáo, tiền
bạc... người nào có trí tuệ, người đó có quyền, vì vậy đây là phương thức dân chủ nhất, Mặt
khác, bạo lực và của cải dùng mãi sẽ hết nhưng chí càng dùng càng phát triển (cả chiều rộng
và chiều sâu). Trong thực tế, nếu như người lãnh đạo và trí tuệ cao sẽ giải tỏa được mọi vấn
đề một bộ của đối tượng mà mình quản lý, phát huy được khả năng sáng tạo của họ. Giành
quyền lực bằng trí tuệ sẽ tăng bạn bớt thù, thậm chí có thể chuyển thành bạn. Trí tuệ phương
thức đạt tới quyền lực mang tính dân chủ và văn minh nhất.
Ba phương thức này có sự tác động qua lại bổ sung cho nhau để giành quyền lực
dùng bạo lực: dùng bạo lực đi xâm lược, ăn cướp sẽ có của cải, đe dọa, uy hiếp để lấy thông
tin (trí tuệ); có tiền sẽ mua được vũ khí, mua được thông tin (mua công nghệ, bằng phát
minh sáng chế…); có trí tuệ sẽ nghiên cứu, sáng chế ra các loại vũ khí mới, có trí tuệ có thể
ngăn cản được chiến tranh, sở hữu trí tuệ có giá cao trên thị trường (bán chất xám).
Như vậy, A.Toffler nghiên cứu quyền trong quá trình chuyển đổi của nó trong thời
đại mới. Ông cho rằng, nhiều người có ấn tượng xấu với quyền lực, thực ra quyền lực không
xấu cũng không tốt. Hơn nữa, con người có mối liên hệ chặt chẽ với quyền lực mà không
trốn khỏi nó được, ảnh hưởng sâu sắc đến mọi sinh hoạt của chúng ta. Ảnh hưởng của nó
quá to rộng vượt khỏi trí tưởng tượng của chúng ta9. Bạo lực, của cải và trí tuệ - ba nguồn
gốc quan trọng để xác định quyền lực được ông coi là “ba phát bảo” và cho rằng chúng tồn
tại ở khắp nơi. Nếu 3 yếu tố đó hợp lại thì tạo thành “tam giác vàng của quyền lực”. Sự
khống chế, buộc kẻ khác phải hành động theo ý của ta là “hình thức của quyền lực” còn
dùng các yếu tố (bạo lực, của cải và trí tuệ) của quyền lực để thực thi quyền lực thì ông gọi
là “phẩm chất của quyền lực”, trong đó phẩm chất cao nhất là trí tuệ.
g) Quan điểm macxit về phương thức giành quyền lực
Theo quan điểm của những người mácxit quan điểm của A. Tofler vừa chứa đựng
yếu tố hợp lý, vừa có tính siêu hình, đồng thời có thâm ý chính trị. Cụ thể, khi phân chia lịch
sử loài người theo ba nền văn minh ông đã gián tiếp phủ định học thuyết Mác - Lênin về
lịch sử hình thành phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội; phê phán
bạo lực, nhưng A. Tofler đồng nhất bạo lực cách mạng chính nghĩa với bạo lực phản cách
mạng, phi nghĩa. Ông đã có lý khi cho rằng, tiền và trí tuệ có thể là công cụ chuyển đổi
quyền lực từ người này sang người khác hoặc là nhóm người này sang nhóm người khác;
nhưng khi chuyển đổi quyền lực nhà nước từ giai cấp này sang giai cấp khác dứt khoát phải
là bạo lực cách mạng. Phải thông qua bạo lực cách mạng nhân dân lao động dưới sự lãnh
đạo của giai cấp công nhân mới lật đổ được ách thống trị của giai cấp tư sản. Tuyệt đối hóa
vai trò của trí tuệ, nghĩa là tuyệt đối hóa vai trò của tầng lớp trí thức, ông đã gián tiếp phủ
nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
9 Alvin Tofler: Thăng trầm quyền lực, NXB Thanh niên, H, 2002, quyển 1, tr 19 16
Theo các quan điểm trên, con đường đi đến quyền lực là: bạo lực, tiền bạc ,trí tuệ là
đúng nhưng chưa đủ. Ngoài những yếu tố đó còn có thể kể đến như: sắc đẹp của phụ nữ,
mưu lược, nghệ thuật, thủ đoạn để thực hiện ý chí, đạo đức để thu hút nhân tâm, lòng đam
mê quyền lực, tính đúng đắn của ý chí và đường lối của tư tưởng... khái quát lại, để có quyền
lực cần có rất nhiều yếu tố, điều kiện khách quan và chủ quan, là “thiên thời, địa lợi, nhân
hòa”, là khả năng kết hợp các điều kiện của chủ thể quyền lực.
Chủ nghĩa Mác - Lênin không tuyệt đối hóa bất cứ một phương thức nào trong việc
đạt được quyền lực. Cấp độ chủ thể khác nhau sẽ có phương thức đạt được quyền lực khác
nhau. Việc sử dụng phương pháp nào là phụ thuộc vào từng hoàn cảnh lịch sử thể có thể là
bạo lực hoặc hòa bình. Cần hiểu rõ bạo lực cách mạng là tổng hợp các sức mạnh quân sự,
chính trị, ngoại giao, tư tưởng... Cần phân biệt rạch ròi giữa bạo lực chính nghĩa, cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc với bạo lực phi nghĩa, cuộc chiến tranh xâm lược của các thế lực
đế quốc, của các lực lượng khủng bố.
Trong xã hội có đối kháng giai cấp thì giai cấp nào nắm tư liệu sản xuất giai cấp đó
sẽ nắm quyền lực. Giai cấp đối kháng sẽ bền bỉ đấu tranh chống lại sự thống trị đó và khi đủ
mạnh họ sẽ sử dụng bạo lực cách mạng, thông qua cuộc cách mạng chính trị để lật đổ chính
quyền cũ, thiết lập bộ máy nhà nước - bộ máy quyền lực mới. Đó là quy luật đấu tranh giai
cấp, và là động lực phát triển của xã hội loài người. Trong thời đại ngày nay, để đạt được
quyền lực thì có nhiều con đường, trong đó có con đường cơ bản nhưng các con đường khác
không kém phần quan trọng. Trên quan điểm phát triển, phương thức đạt được quyền lực
được xem là tốt nhất khi nó mang lại khả năng tối ưu cho sự giải phóng mọi năng lực sáng
tạo của mọi người với tất cả các cấp độ của nó.
Như vậy trên cơ sở làm rõ những vấn đề cơ bản về quyền lực, có thể thấy rằng, quyền
lực được hình thành cùng với xã hội loài người. Nó tồn tại một cách khách quan đáp ứng
nhu cầu của đời sống xã hội,đồng thời là mục tiêu tranh giành của các lực lượng xã hội. Điều
đó càng cho thấy tính chất phức tạp đa dạng của quyền lực.
1.2. Quyền lực chính trị
Quyền lực chính trị là phạm trù xuất phát, phạm trù trung tâm, xuyên suốt những vấn
đề cơ bản của Chính trị học. Nhận thức rõ vấn đề trọng tâm, cơ bản này sẽ tạo cơ sở nền
tảng để luận giải những phạm trù, những kiến thức đa dạng, phong phú và phức tạp của lĩnh
vực chính trị nói chung, các khoa học chính trị nói riêng. Chính vì vậy, có thể coi Chính trị
học là khoa học về quyền lực chính trị, khoa học về đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị
1.2.1. Khái niệm, cấu trúc của quyền lực chính trị
Cho đến nay có nhiều cách hiểu khác nhau về quyền lực chính trị tiêu biểu là các khái niệm sau: 17
Quyền lực chính trị là quyền được sử dụng sức mạnh cho mục đích chính trị.10
Quyền lực chính trị là quyền lực xã hội nhằm giải quyết lợi ích giai cấp, dân tộc, nhân loại.11
Quyền lực chính trị là quyền lực của một liên minh giai cấp - quyền lực chính trị là
quyền lực của các giai cấp, các nhóm xã hội, các lực lượng xã hội dùng để chi phối, tác động
đến quá trình tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước nhằm tối đa hóa lợi ích của mình.12
Quyền lực chính trị là quyền lực của nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức chính
trị xã hội, các tổ chức bầu cử, các cơ quan tự quản địa phương.
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, quyền lực chính trị và quyền lực của hay liên minh giai
cấp, tập đoàn xã hội hoặc của nhân dân trong điều kiện chủ nghĩa xã hội. Nó nói lên khả
năng của một giai cấp nhằm thực hiện lợi ích khách quan của mình. Quyền lực chính trị theo
đúng nghĩa của nó là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác13
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam quyền lực chính trị là quyền lực quyết định định
đoạt những vấn đề, công việc quan trọng về chính trị, tổ chức và hoạt động đảm bảo sức
mạnh thực hiện quyền lực ấy của một giai cấp, một chính đảng, tập đoàn xã hội nhằm giành
hoàng duy trì quyền lãnh đạo; định đoạt, điều khiển bộ máy nhà nước; xây dựng, phát triển
kinh tế - xã hội trong một quốc gia và quan hệ chính trị - kinh tế - ngoại giao với các nước
khác và tổ chức khu quốc tế khu vực và thế giới đảm bảo chí hướng phát triển quốc gia phù
hợp với lý tưởng giai cấp.
Từ những cách tiếp cận nêu trên có thể hiểu một cách chung nhất: Quyền lực chính
trị là quyền sử dụng sức mạnh của một hay liên minh giai cấp tập đoàn xã hội nhằm thực
hiện sự thống trị chính trị là năng lực áp đặt và thực thi các giải pháp phân bổ giá trị xã hội
có lợi cho giai cấp mình chủ yếu thông qua đấu tranh giành giữ và thực thi quyền lực nhà nước.
Như vậy, quyền lực chính trị chỉ hình thành trong xã hội có giai cấp và nhà nước.
Trong xã hội đó vị trí, vai trò của các giai cấp, các lực lượng xã hội rất khác nhau, nên nguồn
lực của quyền lực chính trị cũng khác nhau và đó là cơ sở để hình thành quyền lực chính trị.
Quyền lực chính trị phụ thuộc vào sự phát triển của sản xuất, phân công lao động xã hội và
do đó phụ thuộc và cơ cấu xã hội. Khi trình độ phát triển xã hội còn thấp, sự phân công lao
động chưa rộng, cơ cấu xã hội còn đơn giản thì quyền lực chính trị chỉ có vài ba giai cấp cơ
bản của xã hội. Khi trình độ phát triển cao hơn, sự phân công lao động xã hội trải rộng, cơ
cấu xã hội phức tạp xuất hiện quyền lực chính trị của nhiều giai cấp, nhóm xã hội và các lực
lượng xã hội khác nhau. Trong xã hội không còn giai cấp cũng không còn quyền lực chính
10 Dương Xuân Ngọc, sdd, tr 106
11 Phan Xuân Sơn (chủ nhiệm): Vấn đề quyền lực chính trị và thực thi quyền lực chính trị , Đề tài khoa học cơ sở,
HV CT – HC QG HCM, 2008, tr 61
12 Giáo trình Chính trị học, NXb M. Tiếng Nga
13 Mác – Ăngghen: Toàn tập, T4, NXB CTQG, tr 628 18
trị nữa. Khi phân công lao động xã hội còn ở trình độ thấp, cơ cấu xã hội còn giản đơn,
quyền lực chính trị của giai cấp thống trị về kinh tế về cơ bản đã được tổ chức thành nhà
nước. Do vậy khi nghiên cứu các giai đoạn này nhiều tác giả đã đồng nhất quyền lực chính
trị và quyền lực nhà nước. Trong các giai đoạn phát triển cao hơn, quyền lực chính trị và
quyền lực nhà nước có sự khác biệt rõ rệt hơn. Quyền lực chính trị phụ thuộc vào ba yếu tố
khách quan và chủ quan sau:
Thứ nhất, về khách quan, quyền lực chính trị phân công lao động xã hội, vào vị trí,
vai trò của các giai cấp trong cơ cấu xã hội.
Thứ hai, về chủ quan, quyền lực chính trị phụ thuộc vào khả năng sử dụng các nguồn
lực của các giai cấp, các lực lượng xã hội, tức khả năng tập trung quyền lực (Tổ chức và tập hợp lực lượng).
Thứ ba, quyền lực chính trị thuộc vào năng lực chi phối, ảnh hưởng và sử dụng quyền
lực nhà nước, nhằm đạt được mục đích của giai cấp mình.
Từ những yếu tố trên đây, có thể thấy rằng, một giai cấp có thể ở địa vị thống trị,
nhưng do sự phát triển kinh tế - xã hội vị trí vai trò của giai cấp đó Trong hệ thống sản xuất
thay đổi, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan, vai trò thống trị của giai cấp đó có thể bị mất,
truyền vào tay giai cấp khác. Sự thay đổi khách quan như vậy đã từng diễn ra qua sự thay
đổi của các phương thức sản xuất. Vai trò thống trị đã lần lượt nằm trong tay giai cấp chủ
nô, giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản…
Mặt khác trong cùng một điều kiện khách quan như nhau nhưng quyền lực chính trị
của một giai cấp và mỗi nước khác nhau là khác nhau. Trong cùng một quốc gia nhưng
quyền lực chính trị của một giai cấp qua mỗi thời kỳ khác nhau có thể khác nhau. Sự khác
biệt đó chi phối bởi năng lực chủ quan của chủ thể quyền lực, tức khả năng sử dụng những
giá trị xã hội, những nguồn lực có được, sự tự tổ chức lực lượng cả về vật chất và tư tưởng,
tinh thần...Nếu không có năng lực này, vị trí vai trò khách quan của một giai cấp, một nhóm
xã hội, một lực lượng xã hội dù thắng lợi về mặt lịch sử cũng chỉ mãi mãi là nguồn lực, là
khả năng mà thôi, không thể trở thành giai cấp thống trị xã hội được.
1.2.2. Đặc điểm, chức năng và yêu cầu của quyền lực chính trị a) Đặc điểm
Một là, quyền lực gắn với sức mạnh, nhờ đó đạt kết quả. Nó được thể hiện thông qua
quan hệ địa vị và quan hệ về lợi ích
Hai là, quyền lực mang tính tất yếu khách quan, xuất phát từ nhu cầu tồn tại và phát
triển của xã hội loài người
Ba là, quyền lực mang tính phổ quát, đa dạng và được biểu hiện trong các quan hệ xã hội cụ thể
Bốn là, sự thi hành quyền lực có thể tác động đến các hành động và suy nghĩ theo hai
hướng: ngăn chặn hoặc thúc đẩy 19
Năm là, quan hệ quyền lực thường xuyên tồn tại trong trạng thái vừa xung đột vừa thống nhất
Sáu là, quyền lực mang tính lịch sử và mang tính tương đối b) Chức năng
Quyền lực chính trị có các chức năng sau:
Một là, lập gia hệ thống chính trị của xã hội. Để thực thi quyền lực chính trị của
mình, giai cấp cầm quyền thiết lập hệ thống chính trị để thống trị xã hội, đảm bảo sự ổn định
về chính trị, phát triển kinh tế xã hội.
Hai là, tổ chức đời sống chính trị, thiết lập các quan hệ chính trị. Nhiệm vụ quan trọng
nhất của chủ thể quyền lực chính trị (chủ yếu thông qua nhà nước) là hoạch định, xây dựng
hệ thống các thể chế, chính sách để đời sống chính trị phát triển theo hướng có lợi cho giai
cấp mình. Trên cơ sở vị trí, vai trò các chủ thể hình thành các quan hệ chính trị: quan hệ giữa
các giai cấp, các dân tộc, giữa các tổ chức chính trị xã hội…
Ba là, quản lý công việc của nhà nước và xã hộị. Đây là chức năng bao quát của
quyền lực chính trị. Chỉ trên cơ sở quản lý tốt công việc nhà nước và xã hội giai cấp cầm
quyền mới thực thi được quyền lực chính trị của mình.
Bốn là, lãnh đạo các cơ quan quyền lực, các hoạt động chính trị và phi chính trị.
Giai cấp cầm quyền sử dụng quyền lực chính trị lãnh đạo, định hướng hoạt động cho các tổ
chức chính trị, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội…
Năm là kiểm soát các quan hệ chính trị và các quan hệ xã hội. Các chủ thể quyền lực
chính trị từ nhà nước, các đảng chính trị đến công dân đều tham gia kiểm tra giám sát hoạt
động của các cơ quan quyền lực, các tổ chức chính trị xã hội nhờ đó kiểm soát quan hệ giữa
các chủ thể, hạn chế được những hiện tượng tiêu cực trong đời sống chính trị - xã hội.
Sáu là, lập ra một kiểu cầm quyền nhất định đặc trưng cho xã hội, một chế độ chính
trị và chế độ nhà nước nhất định trên cơ sở sử dụng quyền lực chính trị để thống trị xã hội,
mỗi giai cấp cầm quyền lập ra một hệ thống tổ chức quyền lực chính trị phù hợp với khả
năng, điều kiện của mình. Giai cấp chủ nô thiết lập thể chế chính trị quân chủ chủ nô, giai
cấp địa chủ lập thể chế chính trị quân chủ chuyên chế phong kiến, giai cấp tư sản lập ra thể
chế chính trị quân chủ lập hiến, cộng hòa tổng thống, cộng hòa đại nghị và giai cấp công
nhân lập ra thể chế chính trị cộng hòa dân chủ nhân dân- xô viết. c) Yêu cầu
Một là, quyền lực chính trị phải có tính chính đáng
Quyền lực chính trị không bao giờ là tuyệt đối, vì luôn cần sự chấp nhận của đối
tượng. Một giai cấp để có thể thực thi quyền lực chính trị cần tạo ra cho mình tình chính
đáng, tức tạo được sự thừa nhận rộng rãi trong xã hội về sự phân hóa lãnh đạo của mình.
Tính chính đáng càng cao càng cần ít “chi phí cưỡng chế” và mục đích cần đạt được nhanh 20