1.Tiếp xúc, tiếp biến văn hóa vấn đề tiếp biến văn hóa trong văn
hóa Việt Nam (khái niệm, đặc điểm tiếp biến văn hóa trong văn hóa
Việt Nam, những biểu hiện cụ thể)
1. Khái niệm
- Khái niệm: Giao lưu tiếp biến văn hoá sự gặp gỡ, thâm nhập học
hỏi lẫn nhau giữa các nền văn hóa. Trong quá trình này, các nền văn hoá bổ sung,
tiếp nhận làm giàu cho nhau, dẫn đến sự biến đổi, phát triển tiến bộ văn hoá.
- Giao lưu văn hoá thực chất sgặp gỡ, đối thoại giữa các nền văn hoá. Quá
trình này đòi hỏi mỗi nền văn hoá phải biết dựa trên cái nội sinh để lựa chọn tiếp nhận
cái ngoại sinh, từng bước bản địa hoá để làm giàu, phát triển văn hoá dân tộc.
Trong tiếp nhận các yếu tố văn hoá ngoại sinh, hệ giá trị hội tâm thức dân tộc
vai trò rất quan trọng. "màng lọc" để tiếp nhận những yếu tố văn hoá của các dân
- Quá trình tiếp xúc giao lưu văn hoá thường diễn ra theo hai hình thức:
+ Hình thức tự nguyện: Thông qua các hoạt động như buôn bán, thăm hỏi, du
lịch, hôn nhân, quà tặng…mà văn hoá được trao đổi trên tinh thần tự nguyện.
+ Còn hình thức cưỡng bức: thường gắn liền với các cuộc chiến tranh xâm lược
thôn tính đất đai đồng hoá văn hoá của một quốc gia này đối với một quốc gia khác.
Tuy nhiên, trên thực tế, các hình thức này lắm khi không thuần nhất. khi trong cái
vẻ tự nguyện, những yếu tố mang tính cưỡng bức. Hoặc trong quá trình bị cưỡng
bức văn hoá, vẫn những yếu tố tiếp nhận mang tính tự nguyện.
VD:Phật giáo du nhập vào nước ta một cách tựnguyện theo hình thức di dân, truyền
giáo
+ không tự nguyện(cưỡng bức): Dựa trên bạo lực xâm chiếm lãnh thổ, “chủ thể
mạnh” buộc “chủ thểyếu” sửdụng văn hóa của họđểthay thếvăn hóa gốc, nhằm đi đến
đồng hóa văn hóa, thường xảy ra trong thời chiến tranh.
VD:Pháp thực hiện chính sách ngu dân, phá trường học, bắt dân ta học tiếng Pháp, học
trường Pháp, từbỏvăn hóa truyền thống dân tộc
2. Giao lưu tiếp biến trong văn hóa Việt Nam
Trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, văn hóa Việt Nam đã những
cuộc tiếp xúc giao lưu với các nền văn hóa phương Đông phương Tây bằng
những con đường hình thức khác nhau. Cùng với sự hình thành các yếu tố văn hóa
bản địa, giao lưu tiếp biến với văn hóa Đông - Tây đã trở thành động lực to lớn cho
sự biến đổi, phát triển làm nên những sắc thái riêng của nền văn a Việt Nam.
a. Giao lưu tiếp biến với văn hoá Đông Nam Á
- Q trình tiếp xúc giao lưu với văn hoá Đông Nam á của người Việt cổ,
theo GS Văn Tấn(1), diễn ra qua hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất, trước nền văn
hoá Đông Sơn, giai đoạn thứ hai từ văn hoá Đông Sơn (thiên niên kỷ thứ I tr.CN)
trở đi đến thế kỷ cuối của thiên niên kỷ thứ I tr.CN.
+ Giai đoạn thứ nhất, việc tiếp xúc giao lưu văn hoá chủ yếu diễn ra giữa các
bộ lạc hay nhóm bộ lạc trong phạm vi đất nước ta. Lúc ấy văn hoá Việt Nam vẫn mang
các đặc trưng Đông Nam Á cả về vật chất cũng như tinh thần.
- Dựa vào cứ liệu của cỏc ngành khoa học hội nhân văn, khoa học ngày
hôm nay đó xác định được vùng Đông Nam Á một tầng văn hoá riêng biệt, phi
Hoa, phi Ấn. Vùng Đông Nam Á tiền sử đã sáng tạo nên một nền n hoá những
nét tương đồng:
+ Thứ nhất, đó một phức thể văn hóa lúa nước với ba yếu tố: văn hóa núi,
văn hóa đồng bằng, văn hóa biển, trong đó yếu tố đồng bằng ra đời sau, chiếm diện
tích không lớn nhưng đóng vai trò chủ đạo. Đông Nam Á trong lịch sử đã từng được
mệnh danh cái nôi của cây lúa nước một trong m trung tâm cây trồng lớn nhất
thế giới. vậy, Đông Nam Á mang những đặc trưng của vùng văn hóa, văn minh
nông nghiệp lúa nước. Cùng với sản xuất lúa nước, trâu được thuần hóa dùng
làm sức kéo, đặc biệt trâu. Công cụ dùng trong sản xuất, sinh hoạt, chiến đấu, dụng
cụ nghi lễ chủ yếu được chế tác bằng đồng sắt .v.v..
+ Thứ hai: Hoạt động kinh tế chính của Đông Nam Á sản xuất nông nghiệp.
dân thành thạo nghề trông lúa nước nghề đi biển.
+ Thứ ba: Trong cấu gia đình truyền thống Đông Nam Á, người phụ nữ
vai trò quyết định trong hoạt động gia đình. Đây cũng một đặc điểm tạo nên dấu ấn
riêng của văn hóa Đông Nam Á so với các quốc gia trong khu vực văn hóa phương
Đông phương Tây.
+ Thứ tư: Về mặt văn hóa tinh thần, ngay từ buổi đầu dân Đông Nam Á đã
hình thành cho mình một diện mạo văn hóa tinh thần khá phong phú phát triển
trình độ cao. Điều đó thể hiện sự phát triển của duy nhận thức về hội thế
giới, quan niệm về tính chất lưỡng phân, lưỡng hợp của thế giới .v.v.. Tín ngưỡng
Đông Nam Á buổi đầu bái vật giáo với việc thờ các thần: thần đất, thần mưa, thần
lúa, thờ mặt trời, thờ cây, thờ đá, thờ sấu, đặc biệt tín ngưỡng phồn thực thờ
cúng tổ tiên.
- Giai đoạn thứ hai, vào thời kỳ Đông Sơn- thời kỳ kết tinh tinh thần dân tộc,
kết tinh văn hoá. Không chỉ giữa các nền văn hoá Đông Sơn, văn hoá Sa Huỳnh và văn
hoá Đồng Nai sự trao đổi, tiếp xúc lẫn nhau, các nền văn hoá này đã trao đổi
tiếp xúc khá mạnh mẽ với văn hoá Đông Nam Á. Chứng cứ là, người ta tìm thấy khá
nhiều trống đồng Đông Sơn Thái Lan, Ma Lai, Inđônêxia, miền nam Trung Quốc
(thuộc khu vực văn hoá Đông Nam Á). Nhiều trống đồng hoa văn, hình người,
hình chim tìm thấy Tấn Ninh (Nam Trung Quốc) mang phong cách Đông Sơn. Rất
nhiều rìu đồng đuôi én tìm thấy Inđônêxia được sản xuất theo phong cách Đông Sơn
(kiểu rìu làng Vạc- Nghệ An). Các đồ đồng này hoặc bằng con đường buôn bán
mặt các nước trong khu vực, hoặc được chế tạo tại chỗ theo phong cách Đông Sơn
họ chịu ảnh hưởng.
- Nằm trong khu vực Đông Nam Á, văn hóa Việt Nam ngay từ thời kỳ tiền sử
sử đã mang những sắc thái của văn hóa Đông Nam Á.Tuy nhiên, trong quá trình
phát triển của lịch sử, giao lưu với văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ, những ảnh hưởng
mạnh mẽ của chúng đã khiến cho văn hóa cổ Đông Nam Á bị giải thể về mặt cấu trúc.
Những yếu tố, những mảnh vụn của chúng trở thành tầng sâu văn hóa Đông Nam Á
trong các nền văn hóa của mọi quốc gia trong khu vực được bảo lưu như các yếu tố,
các giá trị chung tạo nên những nét tương đồng văn hóa.
- Vào thời kỳ sử, người Việt Nam đã tạo dựng cho mình một nền văn hóa
bản địa rực rỡ: văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh, văn hoá Đồng Nai. Trước khi
tiếp xúc giao lưu với văn hoá Trung Hoa Ấn Độ, Việt Nam đã hình thành một
nền văn hoá bản địa vừa những nét tương đồng với Đông Nam Á vừa tính,
bản sắc riêng. Điều này được thể hiện một số điểm như sau:
+ Địa bàn trú của người Việt đã tương đối ổn định, theo hình làng.
+ Phương thức sản xuất chính nông nghiệp, trồng trọt, kết hợp với chăn
nuôi đánh bắt thuỷ hải sản. Trong sản xuất nông nghiệp, nổi bật nền văn minh lúa
nước, dùng sức kéo trâu bò.
+ Trình độ luyện kim đồng, sắt, chế tác các dụng cụ lao động, vật dụng, các đồ
trang sức…bằng đồng, sắt đạt đến một trình độ điêu luyện tính văn hoá Việt.
+ Đã tiếng nói tương đối ổn định, đó hệ ngôn ngữ Việt- Mường.
+ Đã một hệ thống huyền thoại trở thành "mẫu gốc", thành tâm thức cộng
đồng trong đời sống tinh thần người Việt. Hệ thống huyền thoại này phản ánh năm
lĩnh vực trụ cột lớn của đời sống cộng đồng dân tộc quan tâm như : nguồn gốc giống
nòi, làm ăn dựng xây đất nước, đánh giặc giữ nước, đời sống tâm linh tình yêu lứa
đôi của con người. Tất cả, hoặc từng phần những nội dung đó được thể hiện trong
những huyền thoại rực rỡ như: Lạc Long Quân Âu Cơ, Sơn Tinh- Thuỷ Tinh,
Thánh Gióng, An Dương Vương, Chử Đồng Tử Tiên Dung… Đó một tài sản tinh
thần to lớn ý nghĩa tập hợp sức mạnh đoàn kết, ý thức tự cường văn hoá của dân tộc
Việt Nam trong suốt hành trình lịch sử.
- Một nghìn năm dưới ách đô hộ của c đế chế phương Bắc, văn hóa Đông Sơn
bị giải thể về mặt cấu trúc nhưng văn hóa Việt Nam vẫn phát triển. Những yếu tố của
văn hóa Đông Sơn vẫn được lưu giữ trong các xóm làng. Đây chính sức mạnh để
chủ nhân văn hóa Việt Nam đủ bản lĩnh trong giao lưu tiếp biến với văn hóa Trung
Hoa vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc.
b. Giao lưu tiếp biến với văn hóa Trung Hoa
Giao lưu tiếp biến giữa văn hóa Việt Nam văn hóa Trung Hoa sự giao
lưu, tiếp biến liên tục qua nhiều thời kỳ của lịch sử. Trung Hoa một trong những
trung tâm văn hóa lớn phương Đông, nền văn hóa lâu đời phát triển rực rỡ.
- Văn hóa Trung Hoa nền văn a nông nghiệp xuất phát từ nông nghiệp
trồng khô (trồng lúa mạch) trên đất hoàng thổ của vùng trung du Hoàng Hà. Do
nằm trên ngã ba đường của các luồng giao lưu kinh tế - văn hóa Đông - Tây, Nam -
Bắc trong đại lục Châu Á miền bình nguyên Âu - Á, nên văn hóa Trung Hoa vừa
mang những đặc điểm văn hóa du mục của các dân phương Bắc Tây Bắc, vừa
thâu hóa nhiều tinh hoa của n hóa nông nghiệp trồng lúa nước của các dân
phương Nam. Lịch sử hình thành phát triển của văn hóa Trung Hoa gắn liền với
lịch sử mở rộng lãnh thổ bằng các cuộc chinh phạt về mặt quân sự truyền văn
hóa của tổ tiên người Trung Hoa từ phía Tây lưu vực sông Hoàng theo hướng từ
Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam. Cùng với sự bành trướng về phương Nam của các
triều đại phong kiến Trung Hoa, đã diễn ra quá trình Trung Hoa thâu hóa văn hóa
phương Nam, Hán hóa các nền văn hóa phương Nam. Vị trí địa những diễn biến
của lịch sử đã tạo các điều kiện gặp gỡ tiếp xúc thường xuyên giữa văn hóa Việt
Nam văn hóa Trung Hoa. Ngày nay, không thể phủ nhận ảnh hưởng của văn hóa
Trung Hoa đối với văn hóa Việt Nam rất lớn. Vấn đề đặt ra trong cuộc tiếp xúc
không cân sức y, người Việt làm thế nào để văn hóa dân tộc vẫn tồn tại phát
triển, vẫn khẳng định được bản sắc văn hóa của mình?
- Quá trình giao lưu tiếp biến giữa văn hóa Việt Nam văn hóa Trung Hoa
diễn ra với hai hình thức: giao u cưỡng bức giao lưu tự nguyện.
+ Giao lưu cưỡng bức diễn ra hai giai đoạn lịch sử điển hình: từ thế kỷ I đến
thế kỷ X từ 1.407 đến 1.427. Suốt thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên, các đế
chế phương Bắc ra sức thực hiện các chính sách đồng hoá về phương diện văn hoá
nhằm biến nước ta trở thành một quận, huyện của Trung Hoa. Từ 1.407 đến 1.427
giai đoạn nhà Minh xâm lược Đại Việt. Trong số các kẻ thù từ phương Bắc, giặc Minh
kẻ thù tàn bạo nhất đối với văn hóa Đại Việt. Minh Thành tổ ban lệnh cho viên
tướng Trương Phụ chỉ huy binh lính vào xâm lược Việt Nam: "Binh lính vào Việt
Nam, trừ sách vở bản in đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu hủy, ngoài ra hết thảy
mọi sách vở khác, văn tự cho đến ca dân gian hay sách dạy trẻ nhỏ ... một mảnh,
một chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước, phàm những bia do người Trung Quốc
dựng từ xưa đến nay thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá
hủy tất cả, một chữ chớ để còn".
+ Giao lưu tiếp biến văn hóa một cách tự nguyện dạng thức thứ hai của quan
hệ giữa văn hóa Việt Nam văn hóa Trung Hoa. Trước thời kỳ Bắc thuộc đã từng
diễn ra giao lưu tự nhiên giữa tộc người Hán với dân Bách Việt. Nghiên cứu lịch
sử văn minh Trung Hoa người ta thấy nhiều yếu tố văn hóa phương Nam đã được
người Hán tiếp nhận từ thời cổ đại, những yếu tố này nhập sâu vào văn hóa n, được
hệ thống hóa, nâng cao "chữ nghĩa hóa" rồi truyền trở lại phương Nam dưới dáng
vẻ mới. thể nói, đó sự giao lưu tiếp xúc hai chiều học hỏi lẫn nhau giữa các nền
văn hóa. Hiện nay đã phát hiện được trống đồng nhiều đồ đồng Đông Sơn trên đất
Trung Hoa, đồng thời cũng phát hiện nhiều vật phẩm mang dấu ấn Trung Hoa trong
các di chỉ khảo cổ học Việt Nam. Trong nền văn hóa Đông Sơn, người ta đã nhận
thấy khá nhiều di vật của văn hóa phương Bắc nằm cạnh những hiện vật của văn hóa
Đông Sơn. Chẳng hạn những đồng tiền thời Tần Hán, tiền Ngũ thù đời Hán, các dụng
cụ sinh hoạt của quý tộc Hán như gương đồng, ấm đồng .v.v.. thể những sản phẩm
ấy kết quả của sự trao đổi, thông thương giữa hai nước.
- thời kỳ độc lập tự chủ, nhà ớc quân chủ Đại Việt được phỏng theo
hình nhà nước phong kiến Trung Hoa. Nhà , nhà Trần về tổ chức chính trị hội lấy
chế Nho giáo làm gốc tuy vẫn chịu ảnh hưởng rất đậm của Phật giáo. Đến nhà
đã hoàn toàn tự nguyện chịu ảnh hưởng của Nho giáo sâu sắc.
- Cũng cần nhận thức rằng ngay cả trong giao lưu cưỡng bức, người Việt
luôn ý thức chống lại sự đồng hóa về phương diện văn hóa, chuyển thế bị động
thành thế chủ động bằng cách bản địa hóa văn hóa Hán để tự làm giàu cho bản thân
mình không bị đồng hóa về phương diện văn hóa.
- Cả hai dạng thức của giao lưu, tiếp biến văn hóa cưỡng bức tự nguyện giữa
văn hóa Việt Nam với văn hóa Trung Hoa đều nhân tố cho sự vận động của văn hóa
Việt Nam trong diễn trình lịch sử. Người Việt luôn ý thức vượt lên, thâu hóa những
giá trị văn hóa Trung Hoa để làm giàu cho văn hóa dân tộc đã đạt được những
thành tựu đáng kể trong giao lưu tiếp biến với văn hóa Trung Hoa.
+ Về văn hóa vật thể: Người Việt tiếp nhận một số kỹ thuật trong sản xuất như:
kỹ thuật rèn đúc sắt gang để làm ra công cụ sản xuất sinh hoạt, kỹ thuật dùng phân
bón để tăng độ màu mỡ cho đất, kỹ thuật xây cất nơi bằng gạch ngói. Người Việt
còn học hỏi kinh nghiệm dùng đá đắp đê ngăn sóng biển, biết cải tiến kỹ thuật làm đồ
gốm (gốm tráng men)…
+ Về văn hóa phi vật thể: Việt Nam tiếp nhận ngôn ngữ của người Trung Hoa
(cả từ vựng chữ viết), tiếp thu hệ tưởng Trung Hoa cổ đại (Nho gia, Đạo gia) trên
tinh thần hỗn dung, hòa hợp với tín ngưỡng bản địa và các hệ tưởng khác,
phỏng hệ thống giáo dục theo tinh thần Nho giáo, tiếp nhận một số phong tục lễ Tết, lễ
hội .v.v..
c.. Giao lưu tiếp biến với văn hóa Ấn Độ
Ấn Độ một trung tâm văn hóa văn minh lớn của khu vực phương Đông thế
giới. Văn minh Ấn Độ lan tỏa khắp khu vực Đông Nam Á trên nhiều bình diện
ảnh hưởng sâu đậm đến văn hóa Việt Nam bằng nhiều hình thức.
Giao lưu tiếp biến với văn hóa Ấn Độ diễn ra bằng con đường hòa bình. Các
thương gia, các nhà Ấn Độ đến Việt Nam với mục đích thương mại, truyền bá, văn
hóa, tôn giáo.
- Giao lưu với văn hóa Ấn Độ những thời kỳ lịch sử khác nhau, không gian
văn hóa khác nhau thì nội dung giao lưu cũng khác nhau. thiên niên kỷ đầu Công
nguyên, trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay ba nền văn hóa: Văn hóa cùng châu thổ
Bắc bộ, n hóa Chăm Pa văn hóa Óc Eo. Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đến ba
vùng văn hóa này khác nhau. Văn hóa Óc Eo chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ
khá toàn diện. Trên nền tảng tầng văn hóa bản địa, các đạo la môn đến từ Ấn
Độ đã tổ chức, xây dựng một quốc gia phỏng hình của Ấn Độ tất cả các mặt:
tổ chức chính trị, thiết chế hội, đô thị, giao thông cùng với việc truyền các thành
tố văn hóa tinh thần như chữ viết, tôn giáo .v.v..
- Văn hóa Ấn Độ đã góp phần quan trọng vào quá trình hình thành vương quốc
Chăm Pa một nền văn hóa Chăm Pa phát triển rực rỡ. Người Chăm đã tiếp nhận
hình văn hóa Ấn Độ từ việc tổ chức nhà nước cho đến việc tạo dựng phát triển các
thành tố văn hóa. Họ đã rất linh hoạt trong tiếp biến n hóa Ấn Độ để tạo dựng n
nền văn hóa Chăm Pa với những sắc thái văn hóa đan xen giữa Ấn Độ, Đông Nam Á
văn hóa bản địa Chăm đặc sắc. Điều này thể hiện trên các lĩnh vực, đặc biệt chữ
viết, tôn giáo, kiến trúc và nghệ thuật.
- Giao lưu tiếp biến với văn hóa Ấn Độ của người Việt vùng châu thổ Bắc
bộ lại diễn ra trong đặc điểm hoàn cảnh lịch sử riêng. Trước khi tiếp xúc với văn hóa
Ấn Độ, văn hóa của người Việt đã định hình phát triển. Dưới thời Bắc thuộc, người
Việt tiếp nhận văn hóa Ấn Độ vừa trực tiếp qua các thương gia, các nhà từ Ấn Độ
sang vừa gián tiếp qua Trung Hoa. Những thế kỷ đầu Công nguyên, người Việt tiếp
nhận văn hóa Ấn Độ trong hoàn cảnh đặc biệt: nước mất phải đối mặt với văn hóa
Hán. Bởi vậy, ảnh hưởng của văn a Ấn Độ chỉ diễn ra trong tầng lớp dân chúng
nhưng lại sức phát triển lớn. Vùng châu thổ Bắc Bộ trở thành địa bàn trung chuyển
văn hóa Ấn Độ, đặc biệt tôn giáo. Giao Châu trở thành trung tâm Phật giáo lớn
Đông Nam Á. Người Việt tiếp nhận Phật giáo một cách dung dị bởi đạo Phật một số
nội dung giáo phù hợp với tín ngưỡng bản địa Việt Nam.
***Nghiên cứu giao lưu tiếp biến giữa văn hóa Việt Nam văn hóa n Độ
cần chú ý những đặc điểm sau:
+ Người Việt đã tiếp nhận văn hóa Ấn Độ đặc biệt đạo Phật trên tinh thần
bản hỗn dung tôn giáo. Khi o Việt Nam, Phật giáo đã tiếp xúc ngay với tín
ngưỡng bản địa của dân tộc đã chung sống với chúng. Từ tín ngưỡng thờ các hiện
tượng tự nhiên, thờ nữ thần nông nghiệp, tín ngưỡng phồn thực của văn hóa bản địa,
người Việt đã thâu thái những yếu tố của đạo Phật tạo nên một dòng Phật giáo dân
gian thờ Tứ Pháp hết sức đặc sắc .v.v..
+ Phật giáo Ấn Độ đến Giao Châu không chỉ một hiện tượng tôn giáo còn
một hiện tượng văn hóa. Cùng với đạo Phật, một tổng thể văn hóa Ấn Độ ảnh hưởng
đến Việt Nam ngay từ đầu Công nguyên như: ngôn ngữ, âm nhạc, đạo, nghệ
thuật .v.v..Cũng hình thành Việt Nam những công trình văn hóa, nghệ thuật có giá
trị: hệ thống chùa, tháp .v.v..
+ Tiếp nhận văn hóa Ấn Độ thời kỳ Bắc thuộc thể xem một đối trọng
với ảnh hưởng của văn hóa Hán, thể hiện tinh thần chống đồng hóa văn hoá của người
Việt.
d. Giao lưu tiếp biến với văn hóa phương Tây
Giao lưu tiếp biến với n hóa phương Tây đặc biệt nửa sau của thế kỷ XIX đã
tạo bước chuyển tính chất bước ngoặt trong sự phát triển của văn hóa Việt Nam.
- Giao lưu với văn hóa phương Tây đã từng diễn ra rất sớm trong lịch sử.
Nghiên cứu văn hóa khảo cổ, người ta thấy trong văn hóa Óc Eo nhiều di vật của
các dân La cổ đại, chứng tỏ đã những quan hệ thương mại quốc tế rộng rãi.
Thế kỷ XVI, các linh mục phương Tây đã o truyền giáo vùng Hải Hậu (nay thuộc
tỉnh Nam Định) chúa Trịnh vua Đàng Ngoài cũng như các chúa Nguyễn
Đàng Trong, rồi nhà Tây Sơn đều quan hệ với phương Tây. Tuy nhiên, giao lưu văn
hóa toàn diện thực sự diễn ra khi Pháp xâm lược Việt Nam.
- Về phía người Pháp, sau khi đã lập được ách đô hộ Việt Nam, họ rất ý
thức dùng văn hóa như một công cụ để cai trị. Víi tinh thần yêu nước lòng tự trọng
dân tộc, thái độ trước hết của người Việt Nam chống trả quyết liệt cả về phương
diện chính trị văn hóa. thể thấy thái độ ấy các nhà nho yêu nước Nam Bộ
cuối thế kỷ XIX như Nguyễn Đình Chiểu, Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực...
Trong hoàn cảnh mất nước, người Việt ý thức chống lại văn hóa đội quân xâm
lược định áp đặt cho họ: thái độ không học tiếng Tây, không mặc đồ Tây, không dùng
hàng Tây... Tuy nhiên, bằng thái độ mềm dẻo, cởi mở, dần dần họ đã tiếp nhận những
giá trị n hóa mới để phát triển văn hóa dân tộc, sử dụng chúng trong công cuộc đấu
tranh chống ngoại xâm giành độc lập dân tộc.
- Trong lịch sử mấy ngàn năm, các cuộc giao lưu tiếp biến với các nền văn
hóa trong khu vực chỉ làm đổi thay về phương diện yếu tố của văn hóa Việt Nam. Lần
đầu tiên trong lịch sử, quá trình tiếp xúc toàn diện với văn hóa phương Tây giai đoạn
1858 - 1945 đã khiến người Việt cấu trúc lại nền văn hóa của mình, đi vào vòng quay
của văn minh công nghiệp phương Tây. Diện mạo văn hóa Việt Nam thay đổi trên các
phương diện: Thứ nhất chữ Quốc ngữ, từ chỗ loại chữ viết dùng trong nội bộ một
tôn giáo được dùng như chữ viết của một nền văn hóa. Thứ hai sự xuất hiện của các
phương tiện văn hóa như nhà in, máy in Việt Nam ...Thứ ba sự xuất hiện của báo
chí, nhà xuất bản. Thứ sxuất hiện của một loạt các thể loại, loại hình văn nghệ
mới như tiểu thuyết, thơ mới, điện ảnh, kịch nói, hội họa ...
Như vậy, với lối ứng xử thông minh, mềm dẻo, qua mỗi chặng đường thử
thách, văn hóa dân tộc lại trưởng thành phát triển lên một bước mới. Cuộc hội nhập
lần thứ nhất, tiếp biến với văn hóa Ấn Đ văn hóa Hán đã làm giàu cho văn hóa
Việt Nam, khiến cho dân tộc đủ mạnh, tạo sở cho sự phát triển trong kỷ nguyên Đại
Việt. Hội nhập lần thứ hai, tiếp biến với văn hóa phương Tây đã góp phần hiện đại hóa
văn hóa dân tộc trên mọi phương diện.
e. Giao lưu tiếp biến trong giai đoạn hiện nay
Hiện nay, chúng ta đang bước vào cuộc hội nhập lần thứ ba, hướng tới mục tiêu
xây dựng một nền văn hóa "tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc".
- Những thuận lợi
+ Chúng ta một quốc gia độc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, từ Mục
Nam Quan đến mũi Mau. GLTBVH trong thời đại ngày nay hoàn toàn tự
nguyện.
+ Cả dân tộc một khối thống nhất với một nền văn hoá đa dạng phong phú
+ Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước ta đã những bước phát triển đáng kể
trên tất cả các mặt, kinh tế, chính trị, khoa học, giáo dục, công nghệ.
+ Trình độ học vấn, nhận thức về văn hoá vai trò của văn hoá của tất cả các
cấp lãnh đạo cũng như người dân được nâng cao, ý thức về quốc gia, lòng tự hào dân
tộc được khơi dậy mạnh mẽ, người dân được thoả sức sáng tạo hưởng thụ những
giá trị văn hoá vật chất, tinh thần mọi khía cạnh.
+ Vị thế của đất nước được nâng cao, bình đẳng với tất cả các quốc gia trên thế
giới
+ Nghị quyết trung ương 5 khoá VIII đã xác định rõ: Văn hoá vừa nền tảng,
vừa động lực phát triển xã hội.
+ Đảng ta chủ trương mở cửa giao lưu quốc tế trên nhiều lĩnh vực. Đối với lĩnh
vực văn hóa vừa tiếp thu, học hỏi những tinh hoa văn hoá thế giới dưới mọi hình thức,
vừa kiên quyết chống văn hoá độc hại. Đồng thời ra sức gìn gữ phát huy các giá trị
văn hoá truyền thống của dân tộc.
- Những khó khăn
+ Việc tiếp thu những giá trị văn hoá tiên tiến của thế giới với mục đích: Đưa
nước ta ngày càng phát triển, nhất hạ tầng sở vật chất khoa học công nghệ,
song một vấn đề lớn đặt ra ngày càng trở lên gay gắt sự mâu thuẫn giữa bảo tồn
phát triển.
+ Tiếp thu khoa học công nghệ cũng đồng nghĩa với việc tiếp thu lối sống, tác
phong công nghiệp => nếp nghĩ, lối sống, đến cả không gian thôn của một nền văn
hoá nông nghiệp lúa nước đang bị mất dần.
+ Một hệ tưởng đạo đức không phù hợp với thuần phong mỹ tục, với các giá
trị đạo đức nhân văn truyền thống đang từng ngày thâm nhập vào đời sống văn hoá của
nhân dân ta.
+ Môt bộ phận dân chúng, nhất thanh thiếu niên đang chạy theo lối sống
hưởng thụ, trong quan hệ ứng xử phai nhạt nghĩa tình, tất cả đều nhuốm màu thương
mại, tiếp thu văn hoá ngoại lai một cách thái quá, phủ nhận các giá trị truyền thống.
+ Một số cấp lãnh đạo quản cũng còn chưa nhận thức được đầy đủ vai trò của
văn hoá đối với đời sống hội
+ Hoàn cảnh lịch sử => giao lưu tiếp biến VH thay đổi trên nhiều phương diện:
+ Giao lưu TBVH trong thời đại tin học, kinh tế tri thức=> GLTBVH trở lên đa
dang phức tạp cả về nội dung, loại hình lẫn phương thức
+ Các thế lực thù địch, phản động quốc tế không ngừng tìm cách chống phá
chúng ta về mọi mặt thông qua con đường giao lưu tiếp biến văn hoá, nhằm từng bước
chuyển hoá về tưởng ý thức hệ, đạo đức lối sống của nhân dân ta.
2. Môi trường tự nhiên sinh thái dấu ấn trong các thành tố
văn hóa Việt
Môi trường tự nhiên sinh thái
Quan niệm về ăn dấu ấn nông nghiệp trong cấu bữa ăn:
Mọi hành động của người Việt Nam đều lấy ăn làm đầu :Ăn uống, ăn ở, ăn mặc, ăn
nói, ăn chơi, ăn học,...
Ngay cả khi tính thời gian cũng lấy ăn uống và thấy chồng làm đơn vị :Làm việc gì
nhanh thì trong khoảng giập trầu, Còn lâu hơn một chút chín nồi cơm , kéo dài
tới hàng năm thì hai mùa lúa .
Trong cấu bữa ăn của người Việt Nam thì lại bộc lộ rất dấu ấn của truyền thống
văn hóa nông nghiệp lúa nước .Đã nói rằng quê hương của cây lúa vùng Đông Nam
Á thẩm không phải ngẫu nhiên người Việt Nam gọi bữa ăn bữa cơm
Quan niệm về mặc dấu ấn nông nghiệp trong chất liệu may mặc của người Việt :
Sau ăn làm mặt giúp cho con người ứng phó được với cái, nóng, rét, mưa, gió
Ăn mặc giúp cho con người khắc phục được những nhược điểm về thể tuổi tác
Mỗi dân tộc các ăn mặc trang sức riêng vậy nó trthành biểu tượng của văn
hóa dân tộc
Về chất liệu may mặc người ta sử dụng các nguyên liệu nguồn gốc thực vật các
sản phẩm của nghề trồng trọt cũng những chất liệu may mặc mỏng, nhẹ, thoáng rất
phù hợp với xứ nóng :Tơ Tằm ,Vải chuối ,Vải được Dệt bằng sợi đay, gai
Quan niệm về việc đi lại :
Do ảnh hưởng bản chất nông nghiệp sống định như ít di chuyển nên giao thông
đường bộ kém phát triển,Việt Nam vùng sông nước, ốc sông ngòi kênh rạch chằng
chịt bởi vậy đi lại phổ biến ngày xưa đường thủy .Phương tiện giao thông chuyên
chở trên sông nước Việt Nam hết sức phong phú: thuyền, ghe, xuồng, bè, phà, tàu,
Việt Nam tục vẽ mắt thuyền, người ta tin rằng con mắt ấy sẽ giúp cho thuyền khỏi
bị thủy quái làm hại, giúp cho ngư phủ tìm được nơi nhiều cá, giúp cho bạn hàng tìm
được bến bờ nhiều tài lộc
Đối với người nông nghiệp ngôi nhà tổ ấm để đối phó với nóng lạnh, nắng mưa, gió
bão,....Do khu vực trú vùng sông nước nên ngôi nhà của người Việt Nam gắn liền
với môi trường sông nước.Những người sống bằng nghề sông nước thường lấy gai
thuyền làm làm nhà đó các thuyền nhà, nhà .Nhiều người không sống bằng
sông nước nhưng cũng làm nhà sàn trên mặt nước . Ngôi nhà mái cong phỏng
hình thuyền :Nhà Rông, nhà mồ Tây Nguyên .Về mặt kiến trúc thì nhà cao cửa
rộng ,Kiến Trúc mtạo không gian thoáng mát hòa với tự nhiên in khác với kiến trúc
phương tây đóng để giữ m .Hướng nhà tiêu biểu hướng Nam:Lấy vợ đàn bà, làm
nhà hướng Nam .Chất liệu gỗ ,thảo Mộc
Dấu ấn trong các thành tố văn hóa Việt :
Giao thông đi lại :Đường bộ kém phát triển
Đường thủy phát triển mạnh :
Phong phú về phương tiện
Giỏi đi trên sông nước, giỏi bắc cầu, giỏi thủy chiến, vẽ mắt cho thuyền
Quan hệ giao thương diễn ra nơi Bến Sông
Đồ thị những thương cảnh ven sông ven biển
Dấu ấn Văn hóa Việt Nam giao thông đi lại đường bkiểu phát triển đường thủy phát
triển mạnh phong phú về phương tiện giỏi đi trên sông nước giải bắc cầu giải thể chiến
vẽ mắt cho thuyền quan hệ giao thương diễn ra bến sông đô thị những thương cảm
ven biển ven sông dụ như đô thị cổ Hội An, Bến Nghé
Dấu ấn trong phong tục tập quán tín ngưỡng Người Việt có tục thờ nước thcác loài
sống sông nước. tục thờ cây có câu nói thần cây đa ma cây gạo cùng cáo cây đề
hay là thờ cây lúa Thể Thần Nông Thề nước ngoài Việt ta quan niệm nước là Lộc .
Người Mường, người Thái, người tahay tục đi lấy nước vào đêm giao thừa.Hay
có lhội rước nước, tế .Hay là trong phong tục tang ma cũng một cái dấu ấn
mạnh về về sông nước.Có lễ chèo đò chèo thuyền để đưa người mất đi với cái nghĩa
cho người mất sang thế giới bên kia giới bên kia cũng nơi sông nước Được gọi
với những cái tên là Hoàng Tuyền Cửu Tuyền Suối Vàng đều liên quan đến nước
cả. Người Việt chúng ta còn thờ ông
Dấu ấn trong nước còn thể hiện trong cả lễ hội lễ tết Thường được phân bố theo mùa
vụ của lúa nước các nghi lễ trò chơi thường liên quan đến đến nướcHay người Việt
còn các trò chơi như nếu pháo đất lễ hội đua thuyền trò chơi đi kheo Tuấn thực
vật sông nước để lại trong văn hóa viết của chúng ta
Còn cả trong các môn từ nhiều từ nghề nghiệp liên quan đến sông nước dnhư
nghề giáo thì còn được gọi làm nghề lái đò người lái đò người ta cũng sử dụng các
hình ảnh sông nước để von dnhư mặt trời lặn phao thi Ôi cái dấu ấn nông
nghiệp thực vật về sông ớc để lại cho người tâm của chúng ta a một cái phép
ứng xử mềm mại như nước vậy bầu thì tròn ống thì xài nước nổi bèo nổi người Việt
thì chưa phải sự hài hòa trung hợp
3. Những đặc điểm bản của môi trường hội lịch sử của
văn hóa Việt
3.1. Đặc điểm bản của môi trường hội
Giao lưu văn hóa Ấn Độ:Văn hóa Chăm
Phật giáo văn hóa Việt Nam
Nho giáo văn hóa Việt Nam
Đạo giáo văn hóa Việt Nam
Văn hóa ứng phó với môi trường hội.Tính dung hợp
3.2. Lịch sử của văn hóa Việt Nam
Nằm trên giao điểm của văn hóa lớn lên điều kiện để tiếp thu tiếp nhận của các
nền n hóa ngoại lai thế thế thể hiện hai cái tính trội đó tính tổng hợp, dung
hợp tính linh hoạt
Hoàn cảnh địa lý khí hậu Việt Nam Nam là cái xứ nóng ảnh mưa nhiều một vùng
sông nước sông nước đã đlại dấu ấn rất quan trọng trong tinh thần văn hóa ra Việt
Nam Nam nơi giao điểm của các nền văn minh văn hóa
Không gian Văn Hóa thì phức tạp bởi lễ văn hóa tính lịch sử không ra văn hóa rộng
lớn hơn không gian lãnh thổ
Không gian văn hóa Việt Nam nằm trong khu vực trú của người Indonesia thuộc
địa
Tính tổng hợp, dung hợp được thể hiện chỗ đó văn hóa Việt Nam không chối từ
các nền văn hóa của nước ngoài. Người Việt chúng ta dung hòa ra hội nhập mọi sở đắc
văn hóa. thế khi văn hóa Việt Nam được như một nồi lẩu hầm Như các yếu
tố văn hóa ngoại lai đều mặt trong văn hóa Việt Nam nhưng chúng Không Tồn
Tại riêng rẽ các yếu tố văn hóa ngoại lai kết hợp với các yếu tố văn hóa bản địa
một cách hòa quyện bổ sung cho nhau đau Việt Nam không gặp hiện tượng xung
đột sắc Tộc Xung Đột tôn giáo
Tính linh hoạt : Trong ngôn ngữ :
Trong tưởng
Trung-Hiếu
Phật tại tâm
Kính chúa-yêu nước
Trong phong tục tập quán
Xem xét văn hóa Việt Nam chúng ta cũng cần phải xem xét đến cái yếu tố đó lịch sử
lịch sử Việt Nam lịch scủa các cuộc chiến tranh Chống giặc ngoại m lịch sử
của công cuộc mở mang bờ cõi vphương Nam thống nhất đất nước chúng ta thấy
không đất nước nào phải chịu chiến tranh nhiều như chúng ta
Cuộc khởi nghĩa Hai Trưng chống quân đông Hán khởi nghĩa chống lại
quân Lương, khởi nghĩa Mai Thúc Loan, Chống Tần, Chống Triệu Đà (179TCN),
Chống Bắc thuộc (3 lần): K/n Hai Trưng (40-43), K/n Triệu (248), K/n
(542), K/n Mai Thúc Loan (722), K/n Phùng Hưng (766), k/n Khúc Thừa D(905),
K/n Ngô Quyền (938). Chống Tống (981) (1075-1077), Chống Mông- Nguyên
(1258;1285;1288), Chống Minh (1407-1428), Chống Thanh (1788), Chống Pháp
(1858-1954), Chống M(1954-1972), Chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh
biên. giới phía Bắc (1978-1980), Nội chiến thời 12 sứ quân - 20 năm, Nội chiến Nam-
Bắc triều 59 năm, Nội chiến Trịnh-Nguyễn 160 năm, Nội chiến Nguyễn Ánh-Tây
Sơn - 15 năm.
Lịch sViệt Nam là lịch scủa công cuộc mở mang bờ cõi về phương Nam thống
nhất lãnh thổ người ta nói lịch sử Việt Nam lịch sNam Tiến Bởi vì người Việt
chúng ta luôn trên con đường tiến về phía nam Đến thời trung đại người Việt chúng
ta về Việt Nam để mở rộng lãnh thổ.
Khoảng 400 năm đầu 1069 1471 của thời Trần hồ Quá trình Mở cõi của chúng
ta diễn ra rất chậm đầu tiên xảy ra khỏi cuộc giao tranh giữa ra Đại Việt với Chăm
Pa sau đó Chăm Pa bị thua trận Vua Lý Thái Tông đã bắt được chế củ vua của
Chăm Pa để đổi lấy mạng sống thì vua của Chăm pa đã đổi 2 mảnh đất từ Quảng Bình
đến Quảng Trị để đổi lấy mạng của mình đến năm 1069 thì đất đai được mrộng đến
bác quản trị kế tiếp đến 1306 thông qua một cuộc hôn nhân mang màu sắc chính trị
Văn hóa Việt Nam đa dạng phong phú trong sự thống nhất cao độ sự đa dạng đây
sự đa dạng về tộc người bản sắc văn hóa tộc người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam
trong đó chúng ta 54 dân tộc trong đó dân tộc người Kinh đóng vai trò chđạo Đa
số các dân tộc của Việt Nam đều cùng chung một nguồn gốc
thường sống đồng bằng phía nam sông Trường Giang Anh Sống bằng nghnông
nghiệp trồng cây lúa nước
Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa hình thành trên nền tảng hội nông nghiệp lúa
nước vậy nền văn hóa này mang đậm những cái đặc điểm về phổ hệ hội Ià cái
hình xã hội của Việt Nam chúng ta xưa đó nhân gia đình họ hàng làng xóm
Vùng nước 3 yếu tố đóng vai trò quan trọng trong Đó làGia đình làng xóm và
nước Làm được hình thành từ gia đình nước được hình thành trên sở Liên kết các
làng với nhau n cái mối quan hệ này Giúp cho người Việt Chúng ta đối xử với nhau
như đối xử với những người trong gia đình
Trong mối quan hhội thì người Việt chúng ta xử theo cái cách là đề cao cộng
đồng đề cao tập thtrọng tình Trọng Văn Trọng phụ nữ Tân Việt nói riêng và dân
phương đông nói chung anh lấy tình cảm làm làm quy tắc ng xmột bồ cái không
bằng một cái tình tình khác với dân phương tây quyền lợi trách nhiệm đi cùng với
nhau còn chúng ta a cộng đồng tập thể để được đề cao được hòa tan trong tập thể để
trong cái hoạt động nhận thức thì duy của người Việt chúng ta đó tổng hợp biện
chứng trọng kinh nghiệm trong nhiệm nghĩa là nhìn nhận sự vật bằng nhiều
các yếu tố coi trọng sự vật sự tương tác giữa các yếu tố này với nhau đau và người
trồng trọt thì cần phải tích lũy nhiều kinh nghiệm sự biến đổi của các kinh nghiệm
trọng tuổi già dụ những cái câu như kính lão Đắc Thọ
kính già già để tuổi cho
Trong đối ngoại thì dung hợp tiếp nhận mềm dẻo ứng phó ứng xử theo quy tắc
thế’’ thế ngoại vương nội đế’’
Ứng xử với môi trường tnhiên Thì dân thuộc cái nền văn hóa nông nghiệp Chưa
một lối sống hài hòa chưa một lối sống định ổn định nghề nông nghiệp không thể
mai đây mai đó được phải cần thời gian để cho cây cối đâm chồi nảy lộc định
nên người dân chúng ta một lối sống thiên về tĩnh thiên về sự ổn định ngại hoặc
ít cái sthay đổi nhằm sự biến đổi nếu cần sự thay đổi biến đổi thì chủ yếu
người Việt chúng ta sự cải tiến biến đổi hoặc là thay đổi một chút đi với để phù hợp
với tình thế mới vậy chứ không ấy hay ít cái tình huống biến đổi hoàn toàn.
4. Vấn đề gìn giữ, bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
của người Việt trong giai đoạn văn hóa Bắc thuộc chống Bắc
thuộc.
Những giá trị truyền thống bản kết tinh thời Bắc thuộc chống Bắc thuộc văn
hóa Việt Nam:
Văn hóa bản địa thời này vẫn được bảo tồn phat triển.
sự tiếp thu làm chủ những ảnh hưởng văn hóa của nước ngoài.
Tiếp thu thuật làm giấy của Trung Quốc, nhân dân ta đã tìm tòi, khai thác tài
nguyên địa phương chế tạo ra giấy tốt hơn, chất lượng phần hơn Trung Hoa.
Ảnh hưởng thuật gốm sứ, tiếp thu thuật của Trung Hoa sáng tạo thêm nhiều
loại hình trang trí mới,
Tiếp biến vngôn ngữ, trên sở chHán của người Việt biến ra âm của người
Việt.
o thời Hùng Vương, nền văn hóa của người Việt rất phong phú, đặc biệt thờ
cúng tổ tiên nảy sinh khu vực ĐNA trước khi được truyền ba tới miền này.
Nét đặc biệt lòng tôn trọng phụ nữ của văn hóa Việt cổ. Biểu hiện cụ thể truyền
thống dũng cảm chống ngoại xâm lãnh đạo nhân dân của Trưng, Triệu. Vai
trò củ ngừi phụ nữ trong gia đình hội được đề cao.
Cùng với phong tục dùng trống Đồng, nhiều tục lệ truyền thống khác vẫn được gi
gìn như tục cạo tóc hay lưu tóc, xăm mình, nhuộm răng, ăn trầu.
Tuy chưa một nền văn học chính thức thành n nhưng vẫn đời sống văn
học khá cao.
Nền văn nghệ giàu tiếp tục phát triển dưới dạng c huyền thoại, huyền tích
hay ca dao, tục ngữ.
Sự du nhập của văn hóa Trung Quốc đã những ảnh hưởng tích cực nhất định đối
với đời sống văn hóa Việt Nam, nhất những trung tâm chính trị, buôn bán tập trung
như Luy Lâu, Long Biên..
Về âm nhạc thì bên cạnh một snhạc cụ nh hưởng của Trung Hoa như khánh,
chuông thì còn chịu ảnh hưởng của Ấn Độ Trung Á như trống cơm, hồ cầm còn
những nhạc cụ độc đáo khác như cồng, chiêng..
Người Viêt Nam mất nước chứ không mất làng. Nền đô thị của phong kiến Trung
Quốc thời Bắc thuộc chỉ chiều dài thời gian chthiếu brộng không gian càng
thiếu hẳn về bề sâu trong lòng hội nước ta.
* Một số nhận định chung:
Bắc thuộc chống Bắc thuộc là hai mặt đối lập đấu tranh quyết liệt với nhau.
chi phối toàn bộ cuộc sống Viêt Nam tiến trình lịch sử Việt Nam hàng nhiều thế kỉ.
Chế độ phong kiến Trung Quốc đóng vai trò quan trọng để thống nhất, tổ chức đất
nước.
Trên sở văn minh nông nghiệp xóm làng, nhân dân ta đã tiếp thu một số yếu t
văn hóa Trung Quốc, Ấn Độ vủng biển Phương Nam.
-Không ngừng hấp thu hội nhập những yếu tố văn hóa ngoại sinh người Việt cổ
--Đấu tranh chống âm mưu đồng hóa của kẻ thù để bảo tồn nòi giống Việt hòa nhập
nhưng không hòa tan.
6. Tổ chức Làng Việt cổ truyền: nguồn gốc, nguyên tắc hình
thành, đặc trưng, diện mạo.
Khái niệm: Làng 1 đơn vị cộng 1 vùng đất chung của dân nông nghiệp,
một hình thức tổ chức hội nông nghiệp tiểu nông tự cung tcấp, mặt khác, mẫu
hình hội phù hợp, chế thích ứng với sản xuất tiểu nông, với gia đình –tông tộc
gia trưởng, đảm bảo sự cân bằng bền vững của hội nông nghiệp ấy.
-Hình thành:nguyên “cùng huyết thống”và nguyên “cùng chỗ”
+ Cội nguồn: làng nơi của 1 họ(nay không còn) để lại dấu ấn tên làng
VD:Phạm Xã, Nguyễn Xã, Xã, ...
+ Cùng chỗ:Các thành viên trong làng cùng sinh sống trên 1 địa bàn nên tựcó ý thức
gắn kết với nhau.
-Cơ cấu:“nửa kín nửa hở”(GS Trần Quốc Vượng) thể hiện tính linh hoạt của mô hình
làng cái nôi, sở bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống.
+ “Nửa kín”: tính tự trị, ý thức tự quản của làng
•Hình thức:khép kín (lũy tre, cổng làng). Những làng Việt xưa thường lũy tre bao
quanh tạo thành 1 thành lũy kiên cố bảo vệ làng hạn chế sự giao lưu bên ngoài.
•Hương ước(lệ làng)Mỗi làng những hệ thống phép tắc quy định riêng như quy định
treo cưới, khuyến học, các hình phạt, ...(Phép vua thua lệ làng)
•Tín ngưỡng: Thờ thần Thành hoàng làng-thần bảo trợ cho làng
•Đời sống kinh tế theo hình tự cung tự cấp, tổ chức họp chợ nhưng theo phiên
hàng tháng hoặc không có+ Nửa hở:quan hệ liên làng, siêu làng
•Liên kết chống lụt, chống ngoại xâm
•Quan hệ hôn nhân vượt ra khỏi phạm vi làng
•Tâm linh: đình tổng, hội vùng, miền, quốc gia, kết chiềng/chạ
•Kinh tế: Đời sống kinh tế sự giao lưu buôn bán ngoài làn, nông cụ, vải, đặc biệt
sản vật địa phương. Hệ thống chợ phiên đc tổ chúc luân phiên-Các loại hình làng Việt:
+ Làng thuần nông (Làng Quỳnh Đô, Thanh Trì, HN; Làng Đông Sơn, Thanh Hóa; ...)
+ Làng nghề (Làng gốm Bát Tràng, Làng Đổng KBắc Ninh làm gỗm knghệ, Làng
Cót làm vàng (Cầu Giấy, HN,...)
+ Làng buôn+ Làng chài(Làng chài Cửa Vạn, Làng chai Mũi Né, ...)
-Các nguyên tắc tổ chức làng xã:
+ Theo huyết thống: dòng họ(các dòng họ sinh sống ăn tập trung với nhau)
+ Theo địa vực: ngõ, xóm(phân chia làng thành từng cụm ngõ xóm nhỏ)
+ Theo giáp:phân chia theo lứa tuổi (ti ấu, đinh, lão...)để thuận lợi cho việc quản dân
làng-Dân làng:
+ Nội tịch:những người đàn ôngđược ghi tên trong sổcủa làng, quyền nghĩa vụ
với làng, với nước
+ Quan viên chức sắc: khoa mục, viên chức ... uy tín, thếlực trong làng, sau này bị
tha hóa
+ Các hạng dân làng:ti ấu, đinh, lão / sĩ, nông, công, thương
7. Tín ngưỡng dân gian: đặc điểm chung, một số tín ngưỡng tiêu biểu (tín
ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng sùng bái con người, tín ngưỡng thờ Thành
Hoàng Làng)
-Đặc điểm chung:
Tín ngưỡng Việt Nam giống như các bộ phận khác của văn hóa Việt Nam đề mang
những đặc trưng của văn hóa nông nghiệp đó là:
Tôn trọng gắn mật thiết với thiên nhiên: Thể hiện tín ngưỡng sùng bái
tự nhiên.
Hài hòa âm dương: thể hiện các đối tượng thờ cúng: Trời Đất, Tiên Rồng,
ông đồng đồng…
Đề cao phụ nữ: Thể hiện rất nhiều nữ thần như các Mẫu Tam ph( Trời
Đất Nước), Mẫu Tứ phủ (Bà Mây Mưa Sấm Chớp)…
Tính tổng hợp linh hoạt hquả tôn giáo đa thần chứ không phải độc
thần như trong nhiều tôn giáo khác.
Tín ngưỡng phồn thực:
+ Việc thờ quan sinh dục nam nữ còn được gọi thờ sinh thực khí (sinh= đẻ, thực=
nảy nở, khí= công cụ). Đây hình thái đơn giản của tín ngưỡng phồn thực, phổ
biến các nền văn hóa nông nghiệp.
+ Bên cạnh thờ sinh thực khí (= yếu tố), dân trồng lúa nước còn tục thhành vi
giao phối, tạo nên tính ngưỡng phồn thực độc đáo, phổ biến khu vực Đông Nam Á.
+ Tín ngưỡng phồn thực có vai trò lớn trong sự hình thành đời sống tín ngưỡng thời
của người Viêt, tiêu biều qua biểu tượng trống Đồng.
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên:
+ Sùng bái tự nhiên giai đoạn tất yếu trong quá trình phát triển của người Việt cổ.
Tín ngưỡng của người Việt tín ngưởng đa thần. Hình tượng nữ thần các bà, các
mẹ hình tượng tiêu biểu.
+ Tục thờ Trời, Bà Đất, Nước, những nữ thần cai quản hiện tượn tự nhiên, thiết
thân nhất với cuộc sống của người trồng lúc nước
+ Trong mảng tính ngưỡng sùng bái tự nhiên còn tục thĐộng Vật (chim, rắn,
sấu) Thực Vật (cây lúa, cây cau, cây đa, quả bầu).
Tín ngưỡng sùng bái con người:

Preview text:

1.Tiếp xúc, tiếp biến văn hóa và vấn đề tiếp biến văn hóa trong văn
hóa Việt Nam (khái niệm, đặc điểm tiếp biến văn hóa trong văn hóa
Việt Nam, những biểu hiện cụ thể) 1. Khái niệm
- Khái niệm: Giao lưu và tiếp biến văn hoá là sự gặp gỡ, thâm nhập và học
hỏi lẫn nhau giữa các nền văn hóa. Trong quá trình này, các nền văn hoá bổ sung,
tiếp nhận và làm giàu cho nhau, dẫn đến sự biến đổi, phát triển và tiến bộ văn hoá.
- Giao lưu văn hoá thực chất là sự gặp gỡ, đối thoại giữa các nền văn hoá. Quá
trình này đòi hỏi mỗi nền văn hoá phải biết dựa trên cái nội sinh để lựa chọn tiếp nhận
cái ngoại sinh, từng bước bản địa hoá nó để làm giàu, phát triển văn hoá dân tộc.
Trong tiếp nhận các yếu tố văn hoá ngoại sinh, hệ giá trị xã hội và tâm thức dân tộc có
vai trò rất quan trọng. Nó là "màng lọc" để tiếp nhận những yếu tố văn hoá của các dân
tộc khác, giúp cho văn hoá dân tộc phát triển mà vẫn giữ được sắc thái riêng của mình.
- Quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hoá thường diễn ra theo hai hình thức:
+ Hình thức tự nguyện: Thông qua các hoạt động như buôn bán, thăm hỏi, du
lịch, hôn nhân, quà tặng…mà văn hoá được trao đổi trên tinh thần tự nguyện.
+ Còn hình thức cưỡng bức: thường gắn liền với các cuộc chiến tranh xâm lược
thôn tính đất đai và đồng hoá văn hoá của một quốc gia này đối với một quốc gia khác.
Tuy nhiên, trên thực tế, các hình thức này lắm khi không thuần nhất. Có khi trong cái
vẻ tự nguyện, có những yếu tố mang tính cưỡng bức. Hoặc trong quá trình bị cưỡng
bức văn hoá, vẫn có những yếu tố tiếp nhận mang tính tự nguyện.
VD:Phật giáo du nhập vào nước ta một cách tựnguyện theo hình thức di dân, truyền giáo
+ không tự nguyện(cưỡng bức): Dựa trên bạo lực và xâm chiếm lãnh thổ, “chủ thể
mạnh” buộc “chủ thểyếu” sửdụng văn hóa của họđểthay thếvăn hóa gốc, nhằm đi đến
đồng hóa văn hóa, thường xảy ra trong thời kì chiến tranh.
VD:Pháp thực hiện chính sách ngu dân, phá trường học, bắt dân ta học tiếng Pháp, học
trường Pháp, từbỏvăn hóa truyền thống dân tộc
2. Giao lưu và tiếp biến trong văn hóa Việt Nam
Trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, văn hóa Việt Nam đã có những
cuộc tiếp xúc và giao lưu với các nền văn hóa phương Đông và phương Tây bằng
những con đường và hình thức khác nhau. Cùng với sự hình thành các yếu tố văn hóa
bản địa, giao lưu và tiếp biến với văn hóa Đông - Tây đã trở thành động lực to lớn cho
sự biến đổi, phát triển và làm nên những sắc thái riêng của nền văn hóa Việt Nam.
a. Giao lưu và tiếp biến với văn hoá Đông Nam Á
- Quá trình tiếp xúc và giao lưu với văn hoá Đông Nam á của người Việt cổ,
theo GS Hà Văn Tấn(1), diễn ra qua hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất, trước nền văn
hoá Đông Sơn, và giai đoạn thứ hai là từ văn hoá Đông Sơn (thiên niên kỷ thứ I tr.CN)
trở đi đến thế kỷ cuối của thiên niên kỷ thứ I tr.CN.
+ Giai đoạn thứ nhất, việc tiếp xúc và giao lưu văn hoá chủ yếu diễn ra giữa các
bộ lạc hay nhóm bộ lạc trong phạm vi đất nước ta. Lúc ấy văn hoá Việt Nam vẫn mang
các đặc trưng Đông Nam Á cả về vật chất cũng như tinh thần.
- Dựa vào cứ liệu của cỏc ngành khoa học xã hội và nhân văn, khoa học ngày
hôm nay đó xác định được vùng Đông Nam Á có một cơ tầng văn hoá riêng biệt, phi
Hoa, phi Ấn. Vùng Đông Nam Á tiền sử đã sáng tạo nên một nền văn hoá có những nét tương đồng:
+ Thứ nhất, đó là một phức thể văn hóa lúa nước với ba yếu tố: văn hóa núi,
văn hóa đồng bằng, văn hóa biển, trong đó yếu tố đồng bằng ra đời sau, chiếm diện
tích không lớn nhưng đóng vai trò chủ đạo. Đông Nam Á trong lịch sử đã từng được
mệnh danh là cái nôi của cây lúa nước và một trong năm trung tâm cây trồng lớn nhất
thế giới. Vì vậy, Đông Nam Á mang những đặc trưng của vùng văn hóa, văn minh
nông nghiệp lúa nước. Cùng với sản xuất lúa nước, trâu bò được thuần hóa và dùng
làm sức kéo, đặc biệt là trâu. Công cụ dùng trong sản xuất, sinh hoạt, chiến đấu, dụng
cụ nghi lễ chủ yếu được chế tác bằng đồng và sắt .v.v..
+ Thứ hai: Hoạt động kinh tế chính của Đông Nam Á là sản xuất nông nghiệp.
Cư dân thành thạo nghề trông lúa nước và nghề đi biển.
+ Thứ ba: Trong cơ cấu gia đình truyền thống Đông Nam Á, người phụ nữ có
vai trò quyết định trong hoạt động gia đình. Đây cũng là một đặc điểm tạo nên dấu ấn
riêng của văn hóa Đông Nam Á so với các quốc gia trong khu vực văn hóa phương Đông và phương Tây.
+ Thứ tư: Về mặt văn hóa tinh thần, ngay từ buổi đầu cư dân Đông Nam Á đã
hình thành cho mình một diện mạo văn hóa tinh thần khá phong phú và phát triển ở
trình độ cao. Điều đó thể hiện ở sự phát triển của tư duy nhận thức về xã hội và thế
giới, quan niệm về tính chất lưỡng phân, lưỡng hợp của thế giới .v.v.. Tín ngưỡng
Đông Nam Á buổi đầu là bái vật giáo với việc thờ các thần: thần đất, thần mưa, thần
lúa, thờ mặt trời, thờ cây, thờ đá, thờ cá sấu, đặc biệt là tín ngưỡng phồn thực và thờ cúng tổ tiên.
- Giai đoạn thứ hai, vào thời kỳ Đông Sơn- thời kỳ kết tinh tinh thần dân tộc,
kết tinh văn hoá. Không chỉ giữa các nền văn hoá Đông Sơn, văn hoá Sa Huỳnh và văn
hoá Đồng Nai có sự trao đổi, tiếp xúc lẫn nhau, mà các nền văn hoá này đã có trao đổi
tiếp xúc khá mạnh mẽ với văn hoá Đông Nam Á. Chứng cứ là, người ta tìm thấy khá
nhiều trống đồng Đông Sơn ở Thái Lan, Ma Lai, Inđônêxia, và miền nam Trung Quốc
(thuộc khu vực văn hoá Đông Nam Á). Nhiều trống đồng có hoa văn, hình người,
hình chim tìm thấy ở Tấn Ninh (Nam Trung Quốc) mang phong cách Đông Sơn. Rất
nhiều rìu đồng đuôi én tìm thấy ở Inđônêxia được sản xuất theo phong cách Đông Sơn
(kiểu rìu làng Vạc- Nghệ An). Các đồ đồng này hoặc bằng con đường buôn bán mà có
mặt ở các nước trong khu vực, hoặc được chế tạo tại chỗ theo phong cách Đông Sơn
mà họ chịu ảnh hưởng.
- Nằm trong khu vực Đông Nam Á, văn hóa Việt Nam ngay từ thời kỳ tiền sử
và sơ sử đã mang những sắc thái của văn hóa Đông Nam Á.Tuy nhiên, trong quá trình
phát triển của lịch sử, giao lưu với văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ, những ảnh hưởng
mạnh mẽ của chúng đã khiến cho văn hóa cổ Đông Nam Á bị giải thể về mặt cấu trúc.
Những yếu tố, những mảnh vụn của chúng trở thành cơ tầng sâu văn hóa Đông Nam Á
trong các nền văn hóa của mọi quốc gia trong khu vực và được bảo lưu như các yếu tố,
các giá trị chung tạo nên những nét tương đồng văn hóa.
- Vào thời kỳ sơ sử, người Việt Nam đã tạo dựng cho mình một nền văn hóa
bản địa rực rỡ: văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh, văn hoá Đồng Nai. Trước khi
tiếp xúc và giao lưu với văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ, Việt Nam đã hình thành một
nền văn hoá bản địa vừa có những nét tương đồng với Đông Nam Á vừa có cá tính,
bản sắc riêng. Điều này được thể hiện ở một số điểm như sau:
+ Địa bàn cư trú của người Việt đã tương đối ổn định, theo mô hình làng.
+ Phương thức sản xuất chính là nông nghiệp, trồng trọt, có kết hợp với chăn
nuôi và đánh bắt thuỷ hải sản. Trong sản xuất nông nghiệp, nổi bật là nền văn minh lúa
nước, dùng sức kéo là trâu bò.
+ Trình độ luyện kim đồng, sắt, chế tác các dụng cụ lao động, vật dụng, các đồ
trang sức…bằng đồng, sắt đạt đến một trình độ điêu luyện và có cá tính văn hoá Việt.
+ Đã có tiếng nói tương đối ổn định, đó là hệ ngôn ngữ Việt- Mường.
+ Đã có một hệ thống huyền thoại trở thành "mẫu gốc", thành tâm thức cộng
đồng trong đời sống tinh thần người Việt. Hệ thống huyền thoại này phản ánh năm
lĩnh vực trụ cột lớn của đời sống cộng đồng dân tộc quan tâm như : nguồn gốc giống
nòi, làm ăn dựng xây đất nước, đánh giặc giữ nước, đời sống tâm linh và tình yêu lứa
đôi của con người. Tất cả, hoặc từng phần những nội dung đó được thể hiện trong
những huyền thoại rực rỡ như: Lạc Long Quân và Âu Cơ, Sơn Tinh- Thuỷ Tinh,
Thánh Gióng, An Dương Vương, Chử Đồng Tử và Tiên Dung… Đó là một tài sản tinh
thần to lớn có ý nghĩa tập hợp sức mạnh đoàn kết, ý thức tự cường văn hoá của dân tộc
Việt Nam trong suốt hành trình lịch sử.
- Một nghìn năm dưới ách đô hộ của các đế chế phương Bắc, văn hóa Đông Sơn
bị giải thể về mặt cấu trúc nhưng văn hóa Việt Nam vẫn phát triển. Những yếu tố của
văn hóa Đông Sơn vẫn được lưu giữ trong các xóm làng. Đây chính là sức mạnh để
chủ nhân văn hóa Việt Nam đủ bản lĩnh trong giao lưu tiếp biến với văn hóa Trung
Hoa mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc.
b. Giao lưu và tiếp biến với văn hóa Trung Hoa
Giao lưu và tiếp biến giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa là sự giao
lưu, tiếp biến liên tục qua nhiều thời kỳ của lịch sử. Trung Hoa là một trong những
trung tâm văn hóa lớn ở phương Đông, có nền văn hóa lâu đời và phát triển rực rỡ.
- Văn hóa Trung Hoa là nền văn hóa nông nghiệp xuất phát từ nông nghiệp
trồng khô (trồng kê và lúa mạch) trên đất hoàng thổ của vùng trung du Hoàng Hà. Do
nằm trên ngã ba đường của các luồng giao lưu kinh tế - văn hóa Đông - Tây, Nam -
Bắc trong đại lục Châu Á và miền bình nguyên Âu - Á, nên văn hóa Trung Hoa vừa
mang những đặc điểm văn hóa du mục của các cư dân phương Bắc và Tây Bắc, vừa
thâu hóa nhiều tinh hoa của văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước của các cư dân
phương Nam. Lịch sử hình thành và phát triển của văn hóa Trung Hoa gắn liền với
lịch sử mở rộng lãnh thổ bằng các cuộc chinh phạt về mặt quân sự và truyền bá văn
hóa của tổ tiên người Trung Hoa từ phía Tây lưu vực sông Hoàng Hà theo hướng từ
Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam. Cùng với sự bành trướng về phương Nam của các
triều đại phong kiến Trung Hoa, đã diễn ra quá trình Trung Hoa thâu hóa văn hóa
phương Nam, Hán hóa các nền văn hóa phương Nam. Vị trí địa lý và những diễn biến
của lịch sử đã tạo các điều kiện gặp gỡ và tiếp xúc thường xuyên giữa văn hóa Việt
Nam và văn hóa Trung Hoa. Ngày nay, không thể phủ nhận ảnh hưởng của văn hóa
Trung Hoa đối với văn hóa Việt Nam là rất lớn. Vấn đề đặt ra là trong cuộc tiếp xúc
không cân sức này, người Việt làm thế nào để văn hóa dân tộc vẫn tồn tại và phát
triển, vẫn khẳng định được bản sắc văn hóa của mình?
- Quá trình giao lưu tiếp biến giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa
diễn ra với hai hình thức: giao lưu cưỡng bức và giao lưu tự nguyện.
+ Giao lưu cưỡng bức diễn ra ở hai giai đoạn lịch sử điển hình: từ thế kỷ I đến
thế kỷ X và từ 1.407 đến 1.427. Suốt thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên, các đế
chế phương Bắc ra sức thực hiện các chính sách đồng hoá về phương diện văn hoá
nhằm biến nước ta trở thành một quận, huyện của Trung Hoa. Từ 1.407 đến 1.427 là
giai đoạn nhà Minh xâm lược Đại Việt. Trong số các kẻ thù từ phương Bắc, giặc Minh
là kẻ thù tàn bạo nhất đối với văn hóa Đại Việt. Minh Thành tổ ban lệnh cho viên
tướng Trương Phụ chỉ huy binh lính vào xâm lược Việt Nam: "Binh lính vào Việt
Nam, trừ sách vở và bản in đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu hủy, ngoài ra hết thảy
mọi sách vở khác, văn tự cho đến ca lý dân gian hay sách dạy trẻ nhỏ ... một mảnh,
một chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước, phàm những bia do người Trung Quốc
dựng từ xưa đến nay thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá
hủy tất cả, một chữ chớ để còn".
+ Giao lưu tiếp biến văn hóa một cách tự nguyện là dạng thức thứ hai của quan
hệ giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa. Trước thời kỳ Bắc thuộc đã từng
diễn ra giao lưu tự nhiên giữa tộc người Hán với cư dân Bách Việt. Nghiên cứu lịch
sử văn minh Trung Hoa người ta thấy có nhiều yếu tố văn hóa phương Nam đã được
người Hán tiếp nhận từ thời cổ đại, những yếu tố này nhập sâu vào văn hóa Hán, được
hệ thống hóa, nâng cao "chữ nghĩa hóa" rồi truyền bá trở lại phương Nam dưới dáng
vẻ mới. Có thể nói, đó là sự giao lưu tiếp xúc hai chiều học hỏi lẫn nhau giữa các nền
văn hóa. Hiện nay đã phát hiện được trống đồng và nhiều đồ đồng Đông Sơn trên đất
Trung Hoa, đồng thời cũng phát hiện nhiều vật phẩm mang dấu ấn Trung Hoa trong
các di chỉ khảo cổ học ở Việt Nam. Trong nền văn hóa Đông Sơn, người ta đã nhận
thấy khá nhiều di vật của văn hóa phương Bắc nằm cạnh những hiện vật của văn hóa
Đông Sơn. Chẳng hạn những đồng tiền thời Tần Hán, tiền Ngũ thù đời Hán, các dụng
cụ sinh hoạt của quý tộc Hán như gương đồng, ấm đồng .v.v.. Có thể những sản phẩm
ấy là kết quả của sự trao đổi, thông thương giữa hai nước.
- Ở thời kỳ độc lập tự chủ, nhà nước quân chủ Đại Việt được mô phỏng theo mô
hình nhà nước phong kiến Trung Hoa. Nhà Lý, nhà Trần về tổ chức chính trị xã hội lấy
cơ chế Nho giáo làm gốc tuy vẫn chịu ảnh hưởng rất đậm của Phật giáo. Đến nhà Lê
đã hoàn toàn tự nguyện và chịu ảnh hưởng của Nho giáo sâu sắc.
- Cũng cần nhận thức rõ rằng ngay cả trong giao lưu cưỡng bức, người Việt
luôn có ý thức chống lại sự đồng hóa về phương diện văn hóa, chuyển thế bị động
thành thế chủ động bằng cách bản địa hóa văn hóa Hán để tự làm giàu cho bản thân
mình mà không bị đồng hóa về phương diện văn hóa.
- Cả hai dạng thức của giao lưu, tiếp biến văn hóa cưỡng bức và tự nguyện giữa
văn hóa Việt Nam với văn hóa Trung Hoa đều là nhân tố cho sự vận động của văn hóa
Việt Nam trong diễn trình lịch sử. Người Việt luôn có ý thức vượt lên, thâu hóa những
giá trị văn hóa Trung Hoa để làm giàu cho văn hóa dân tộc và đã đạt được những
thành tựu đáng kể trong giao lưu tiếp biến với văn hóa Trung Hoa.
+ Về văn hóa vật thể: Người Việt tiếp nhận một số kỹ thuật trong sản xuất như:
kỹ thuật rèn đúc sắt gang để làm ra công cụ sản xuất và sinh hoạt, kỹ thuật dùng phân
bón để tăng độ màu mỡ cho đất, kỹ thuật xây cất nơi ở bằng gạch ngói. Người Việt
còn học hỏi kinh nghiệm dùng đá đắp đê ngăn sóng biển, biết cải tiến kỹ thuật làm đồ gốm (gốm tráng men)…
+ Về văn hóa phi vật thể: Việt Nam tiếp nhận ngôn ngữ của người Trung Hoa
(cả từ vựng và chữ viết), tiếp thu hệ tư tưởng Trung Hoa cổ đại (Nho gia, Đạo gia) trên
tinh thần hỗn dung, hòa hợp với tín ngưỡng bản địa và các hệ tư tưởng khác, mô
phỏng hệ thống giáo dục theo tinh thần Nho giáo, tiếp nhận một số phong tục lễ Tết, lễ hội .v.v..
c.. Giao lưu tiếp biến với văn hóa Ấn Độ
Ấn Độ là một trung tâm văn hóa văn minh lớn của khu vực phương Đông và thế
giới. Văn minh Ấn Độ lan tỏa khắp khu vực Đông Nam Á và trên nhiều bình diện có
ảnh hưởng sâu đậm đến văn hóa Việt Nam bằng nhiều hình thức.
Giao lưu và tiếp biến với văn hóa Ấn Độ diễn ra bằng con đường hòa bình. Các
thương gia, các nhà sư Ấn Độ đến Việt Nam với mục đích thương mại, truyền bá, văn hóa, tôn giáo.
- Giao lưu với văn hóa Ấn Độ ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, không gian
văn hóa khác nhau thì nội dung giao lưu cũng khác nhau. Ở thiên niên kỷ đầu Công
nguyên, trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay có ba nền văn hóa: Văn hóa cùng châu thổ
Bắc bộ, văn hóa Chăm Pa và văn hóa Óc Eo. Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đến ba
vùng văn hóa này có khác nhau. Văn hóa Óc Eo chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ
khá toàn diện. Trên nền tảng cơ tầng văn hóa bản địa, các đạo sĩ Bà la môn đến từ Ấn
Độ đã tổ chức, xây dựng một quốc gia mô phỏng mô hình của Ấn Độ ở tất cả các mặt:
tổ chức chính trị, thiết chế xã hội, đô thị, giao thông cùng với việc truyền bá các thành
tố văn hóa tinh thần như chữ viết, tôn giáo .v.v..
- Văn hóa Ấn Độ đã góp phần quan trọng vào quá trình hình thành vương quốc
Chăm Pa và một nền văn hóa Chăm Pa phát triển rực rỡ. Người Chăm đã tiếp nhận mô
hình văn hóa Ấn Độ từ việc tổ chức nhà nước cho đến việc tạo dựng và phát triển các
thành tố văn hóa. Họ đã rất linh hoạt trong tiếp biến văn hóa Ấn Độ để tạo dựng nên
nền văn hóa Chăm Pa với những sắc thái văn hóa đan xen giữa Ấn Độ, Đông Nam Á
và văn hóa bản địa Chăm đặc sắc. Điều này thể hiện trên các lĩnh vực, đặc biệt là chữ
viết, tôn giáo, kiến trúc và nghệ thuật.
- Giao lưu và tiếp biến với văn hóa Ấn Độ của người Việt ở vùng châu thổ Bắc
bộ lại diễn ra trong đặc điểm hoàn cảnh lịch sử riêng. Trước khi tiếp xúc với văn hóa
Ấn Độ, văn hóa của người Việt đã định hình và phát triển. Dưới thời Bắc thuộc, người
Việt tiếp nhận văn hóa Ấn Độ vừa trực tiếp qua các thương gia, các nhà sư từ Ấn Độ
sang và vừa gián tiếp qua Trung Hoa. Những thế kỷ đầu Công nguyên, người Việt tiếp
nhận văn hóa Ấn Độ trong hoàn cảnh đặc biệt: nước mất và phải đối mặt với văn hóa
Hán. Bởi vậy, ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ chỉ diễn ra trong tầng lớp dân chúng
nhưng lại có sức phát triển lớn. Vùng châu thổ Bắc Bộ trở thành địa bàn trung chuyển
văn hóa Ấn Độ, đặc biệt là tôn giáo. Giao Châu trở thành trung tâm Phật giáo lớn ở
Đông Nam Á. Người Việt tiếp nhận Phật giáo một cách dung dị bởi đạo Phật ở một số
nội dung giáo lý phù hợp với tín ngưỡng bản địa Việt Nam.
***Nghiên cứu giao lưu tiếp biến giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Ấn Độ
cần chú ý những đặc điểm sau:
+ Người Việt đã tiếp nhận văn hóa Ấn Độ và đặc biệt là đạo Phật trên tinh thần
cơ bản là hỗn dung tôn giáo. Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã tiếp xúc ngay với tín
ngưỡng bản địa của dân tộc và đã chung sống với chúng. Từ tín ngưỡng thờ các hiện
tượng tự nhiên, thờ nữ thần nông nghiệp, tín ngưỡng phồn thực của văn hóa bản địa,
người Việt đã thâu thái những yếu tố của đạo Phật và tạo nên một dòng Phật giáo dân
gian thờ Tứ Pháp hết sức đặc sắc .v.v..
+ Phật giáo Ấn Độ đến Giao Châu không chỉ là một hiện tượng tôn giáo mà còn
là một hiện tượng văn hóa. Cùng với đạo Phật, một tổng thể văn hóa Ấn Độ ảnh hưởng
đến Việt Nam ngay từ đầu Công nguyên như: ngôn ngữ, âm nhạc, vũ đạo, nghệ
thuật .v.v..Cũng hình thành ở Việt Nam những công trình văn hóa, nghệ thuật có giá
trị: hệ thống chùa, tháp .v.v..
+ Tiếp nhận văn hóa Ấn Độ ở thời kỳ Bắc thuộc có thể xem là một đối trọng
với ảnh hưởng của văn hóa Hán, thể hiện tinh thần chống đồng hóa văn hoá của người Việt.
d. Giao lưu và tiếp biến với văn hóa phương Tây
Giao lưu và tiếp biến với văn hóa phương Tây đặc biệt ở nửa sau của thế kỷ XIX đã
tạo bước chuyển có tính chất bước ngoặt trong sự phát triển của văn hóa Việt Nam.
- Giao lưu với văn hóa phương Tây đã từng diễn ra rất sớm trong lịch sử.
Nghiên cứu văn hóa khảo cổ, người ta thấy trong văn hóa Óc Eo có nhiều di vật của
các cư dân La Mã cổ đại, chứng tỏ đã có những quan hệ thương mại quốc tế rộng rãi.
Thế kỷ XVI, các linh mục phương Tây đã vào truyền giáo ở vùng Hải Hậu (nay thuộc
tỉnh Nam Định) và chúa Trịnh vua Lê ở Đàng Ngoài cũng như các chúa Nguyễn ở
Đàng Trong, rồi nhà Tây Sơn đều có quan hệ với phương Tây. Tuy nhiên, giao lưu văn
hóa toàn diện thực sự diễn ra khi Pháp xâm lược Việt Nam.
- Về phía người Pháp, sau khi đã lập được ách đô hộ ở Việt Nam, họ rất có ý
thức dùng văn hóa như một công cụ để cai trị. Víi tinh thần yêu nước và lòng tự trọng
dân tộc, thái độ trước hết của người Việt Nam là chống trả quyết liệt cả về phương
diện chính trị và văn hóa. Có thể thấy thái độ ấy ở các nhà nho yêu nước ở Nam Bộ
cuối thế kỷ XIX như Nguyễn Đình Chiểu, Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực...
Trong hoàn cảnh mất nước, người Việt có ý thức chống lại văn hóa mà đội quân xâm
lược định áp đặt cho họ: thái độ không học tiếng Tây, không mặc đồ Tây, không dùng
hàng Tây... Tuy nhiên, bằng thái độ mềm dẻo, cởi mở, dần dần họ đã tiếp nhận những
giá trị văn hóa mới để phát triển văn hóa dân tộc, sử dụng chúng trong công cuộc đấu
tranh chống ngoại xâm giành độc lập dân tộc.
- Trong lịch sử mấy ngàn năm, các cuộc giao lưu và tiếp biến với các nền văn
hóa trong khu vực chỉ làm đổi thay về phương diện yếu tố của văn hóa Việt Nam. Lần
đầu tiên trong lịch sử, quá trình tiếp xúc toàn diện với văn hóa phương Tây giai đoạn
1858 - 1945 đã khiến người Việt cấu trúc lại nền văn hóa của mình, đi vào vòng quay
của văn minh công nghiệp phương Tây. Diện mạo văn hóa Việt Nam thay đổi trên các
phương diện: Thứ nhất là chữ Quốc ngữ, từ chỗ là loại chữ viết dùng trong nội bộ một
tôn giáo được dùng như chữ viết của một nền văn hóa. Thứ hai là sự xuất hiện của các
phương tiện văn hóa như nhà in, máy in ở Việt Nam ...Thứ ba là sự xuất hiện của báo
chí, nhà xuất bản. Thứ tư là sự xuất hiện của một loạt các thể loại, loại hình văn nghệ
mới như tiểu thuyết, thơ mới, điện ảnh, kịch nói, hội họa ...
Như vậy, với lối ứng xử thông minh, mềm dẻo, qua mỗi chặng đường thử
thách, văn hóa dân tộc lại trưởng thành và phát triển lên một bước mới. Cuộc hội nhập
lần thứ nhất, tiếp biến với văn hóa Ấn Độ và văn hóa Hán đã làm giàu cho văn hóa
Việt Nam, khiến cho dân tộc đủ mạnh, tạo cơ sở cho sự phát triển trong kỷ nguyên Đại
Việt. Hội nhập lần thứ hai, tiếp biến với văn hóa phương Tây đã góp phần hiện đại hóa
văn hóa dân tộc trên mọi phương diện.
e. Giao lưu và tiếp biến trong giai đoạn hiện nay
Hiện nay, chúng ta đang bước vào cuộc hội nhập lần thứ ba, hướng tới mục tiêu
xây dựng một nền văn hóa "tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". - Những thuận lợi
+ Chúng ta có một quốc gia độc lập thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, từ Mục
Nam Quan đến mũi Cà Mau. GLTBVH trong thời đại ngày nay là hoàn toàn tự nguyện.
+ Cả dân tộc là một khối thống nhất với một nền văn hoá đa dạng phong phú
+ Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước ta đã có những bước phát triển đáng kể
trên tất cả các mặt, kinh tế, chính trị, khoa học, giáo dục, công nghệ.
+ Trình độ học vấn, nhận thức về văn hoá và vai trò của văn hoá của tất cả các
cấp lãnh đạo cũng như người dân được nâng cao, ý thức về quốc gia, lòng tự hào dân
tộc được khơi dậy mạnh mẽ, người dân được thoả sức sáng tạo và hưởng thụ những
giá trị văn hoá vật chất, tinh thần ở mọi khía cạnh.
+ Vị thế của đất nước được nâng cao, bình đẳng với tất cả các quốc gia trên thế giới
+ Nghị quyết trung ương 5 khoá VIII đã xác định rõ: Văn hoá vừa là nền tảng,
vừa là động lực phát triển xã hội.
+ Đảng ta chủ trương mở cửa giao lưu quốc tế trên nhiều lĩnh vực. Đối với lĩnh
vực văn hóa vừa tiếp thu, học hỏi những tinh hoa văn hoá thế giới dưới mọi hình thức,
vừa kiên quyết chống văn hoá độc hại. Đồng thời ra sức gìn gữ và phát huy các giá trị
văn hoá truyền thống của dân tộc. - Những khó khăn
+ Việc tiếp thu những giá trị văn hoá tiên tiến của thế giới với mục đích: Đưa
nước ta ngày càng phát triển, nhất là hạ tầng cơ sở vật chất và khoa học công nghệ,
song một vấn đề lớn đặt ra và ngày càng trở lên gay gắt là sự mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển.
+ Tiếp thu khoa học công nghệ cũng đồng nghĩa với việc tiếp thu lối sống, tác
phong công nghiệp => nếp nghĩ, lối sống, đến cả không gian thôn dã của một nền văn
hoá nông nghiệp lúa nước đang bị mất dần.
+ Một hệ tư tưởng đạo đức không phù hợp với thuần phong mỹ tục, với các giá
trị đạo đức nhân văn truyền thống đang từng ngày thâm nhập vào đời sống văn hoá của nhân dân ta.
+ Môt bộ phận dân chúng, nhất là thanh thiếu niên đang chạy theo lối sống
hưởng thụ, trong quan hệ ứng xử phai nhạt nghĩa tình, tất cả đều nhuốm màu thương
mại, tiếp thu văn hoá ngoại lai một cách thái quá, phủ nhận các giá trị truyền thống.
+ Một số cấp lãnh đạo quản lý cũng còn chưa nhận thức được đầy đủ vai trò của
văn hoá đối với đời sống xã hội
+ Hoàn cảnh lịch sử => giao lưu tiếp biến VH thay đổi trên nhiều phương diện:
+ Giao lưu TBVH trong thời đại tin học, kinh tế tri thức=> GLTBVH trở lên đa
dang và phức tạp cả về nội dung, loại hình lẫn phương thức
+ Các thế lực thù địch, phản động quốc tế không ngừng tìm cách chống phá
chúng ta về mọi mặt thông qua con đường giao lưu tiếp biến văn hoá, nhằm từng bước
chuyển hoá về tư tưởng ý thức hệ, đạo đức lối sống của nhân dân ta. 2.
Môi trường tự nhiên sinh thái và dấu ấn trong các thành tố văn hóa Việt
Môi trường tự nhiên sinh thái
Quan niệm về ăn và dấu ấn nông nghiệp trong cơ cấu bữa ăn:
Mọi hành động của người Việt Nam đều lấy ăn làm đầu :Ăn uống, ăn ở, ăn mặc, ăn nói, ăn chơi, ăn học,...
Ngay cả khi tính thời gian cũng lấy ăn uống và thấy chồng làm đơn vị :Làm việc gì
nhanh thì trong khoảng giập bã trầu, Còn lâu hơn một chút là chín nồi cơm , kéo dài
tới hàng năm thì là hai mùa lúa .
Trong cơ cấu bữa ăn của người Việt Nam thì lại bộc lộ rất rõ dấu ấn của truyền thống
văn hóa nông nghiệp lúa nước .Đã nói rằng quê hương của cây lúa là vùng Đông Nam
Á thẩm không phải ngẫu nhiên mà người Việt Nam gọi bữa ăn là bữa cơm
Quan niệm về mặc và dấu ấn nông nghiệp trong chất liệu may mặc của người Việt :
Sau ăn làm mặt nó giúp cho con người ứng phó được với cái, nóng, rét, mưa, gió
Ăn mặc giúp cho con người khắc phục được những nhược điểm về cơ thể tuổi tác
Mỗi dân tộc có các ăn mặc và trang sức riêng vì vậy nó trở thành biểu tượng của văn hóa dân tộc
Về chất liệu may mặc người ta sử dụng các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật là các
sản phẩm của nghề trồng trọt cũng là những chất liệu may mặc mỏng, nhẹ, thoáng rất
phù hợp với xứ nóng :Tơ Tằm ,Vải tơ chuối ,Vải được Dệt bằng sợi đay, gai
Quan niệm về việc ở và đi lại :
Do ảnh hưởng bản chất nông nghiệp sống định cư như ít di chuyển nên giao thông
đường bộ kém phát triển,Việt Nam là vùng sông nước, ốc sông ngòi kênh rạch chằng
chịt bởi vậy đi lại phổ biến ngày xưa là đường thủy .Phương tiện giao thông và chuyên
chở trên sông nước ở Việt Nam hết sức phong phú: thuyền, ghe, xuồng, bè, phà, tàu,
Việt Nam có tục vẽ mắt thuyền, người ta tin rằng con mắt ấy sẽ giúp cho thuyền khỏi
bị thủy quái làm hại, giúp cho ngư phủ tìm được nơi nhiều cá, giúp cho bạn hàng tìm
được bến bờ nhiều tài lộc
Đối với người nông nghiệp ngôi nhà là tổ ấm để đối phó với nóng lạnh, nắng mưa, gió
bão,....Do khu vực cư trú là vùng sông nước nên ngôi nhà của người Việt Nam gắn liền
với môi trường sông nước.Những người sống bằng nghề sông nước thường lấy gai
thuyền làm làm nhà ở ở đó là các thuyền nhà, nhà bè .Nhiều người không sống bằng
sông nước nhưng cũng làm nhà sàn trên mặt nước . Ngôi nhà có mái cong mô phỏng
hình thuyền :Nhà Rông, nhà mồ Tây Nguyên .Về mặt kiến trúc thì là nhà cao cửa
rộng ,Kiến Trúc mở tạo không gian thoáng mát hòa với tự nhiên in khác với kiến trúc
phương tây đóng để giữ ấm .Hướng nhà tiêu biểu là hướng Nam:Lấy vợ đàn bà, làm
nhà hướng Nam .Chất liệu là gỗ ,thảo Mộc
Dấu ấn trong các thành tố văn hóa Việt :
Giao thông đi lại :Đường bộ kém phát triển
Đường thủy phát triển mạnh :
Phong phú về phương tiện
Giỏi đi trên sông nước, giỏi bắc cầu, giỏi thủy chiến, vẽ mắt cho thuyền
Quan hệ giao thương diễn ra nơi Bến Sông
Đồ thị là những thương cảnh ven sông ven biển
Dấu ấn Văn hóa Việt Nam giao thông đi lại đường bộ kiểu phát triển đường thủy phát
triển mạnh phong phú về phương tiện giỏi đi trên sông nước giải bắc cầu giải thể chiến
vẽ mắt cho thuyền quan hệ giao thương diễn ra bến sông đô thị là những thương cảm
ven biển ven sông ví dụ như là đô thị cổ Hội An, Bến Nghé
Dấu ấn trong phong tục tập quán tín ngưỡng Người Việt có tục thờ nước thờ các loài
sống ở sông nước. có tục thờ cây có câu nói thần cây đa ma cây gạo cùng cáo cây đề
hay là thờ cây lúa Thể Thần Nông Thề nước ngoài Việt ta quan niệm nước là Lộc .
Người Mường, người Thái, người taỳ hay có tục đi lấy nước vào đêm giao thừa.Hay
là có lễ hội rước nước, tế cá .Hay là trong phong tục tang ma cũng có một cái dấu ấn
mạnh về về sông nước.Có lễ chèo đò chèo thuyền để đưa người mất đi với cái nghĩa là
cho người mất sang thế giới bên kia giới bên kia cũng là nơi có sông nước Được gọi
với những cái tên là Hoàng Tuyền Cửu Tuyền Suối Vàng nó đều liên quan đến nước
cả. Người Việt chúng ta còn thờ cá ông
Dấu ấn trong nước còn thể hiện trong cả lễ hội lễ tết Thường được phân bố theo mùa
vụ của lúa nước các nghi lễ trò chơi thường liên quan đến đến nướcHay là người Việt
còn có các trò chơi như là nếu pháo đất lễ hội đua thuyền trò chơi đi cà kheo Tuấn thực
vật và sông nước để lại trong văn hóa viết của chúng ta
Còn cả trong các môn từ nhiều từ nghề nghiệp liên quan đến sông nước ví dụ như là
nghề giáo thì còn được gọi làm nghề lái đò người lái đò người ta cũng sử dụng các
hình ảnh sông nước để ví von ví dụ như là là mặt trời lặn phao thi Ôi cái dấu ấn nông
nghiệp và thực vật về sông nước để lại cho người tâm lý của chúng ta a là một cái phép
ứng xử mềm mại như nước vậy bầu thì tròn ở ống thì xài nước nổi bèo nổi người Việt
thì chưa phải sự hài hòa trung hợp 3.
Những đặc điểm cơ bản của môi trường xã hội – lịch sử của văn hóa Việt
3.1. Đặc điểm cơ bản của môi trường xã hội
Giao lưu văn hóa Ấn Độ:Văn hóa Chăm
Phật giáo và văn hóa Việt Nam
Nho giáo và văn hóa Việt Nam
Đạo giáo và văn hóa Việt Nam
Văn hóa ứng phó với môi trường xã hội.Tính dung hợp
3.2. Lịch sử của văn hóa Việt Nam
Nằm trên giao điểm của văn hóa lớn lên là có điều kiện để tiếp thu tiếp nhận của các
nền văn hóa ngoại lai vì thế thế nó thể hiện hai cái tính trội đó là tính tổng hợp, dung hợp và tính linh hoạt
Hoàn cảnh địa lý khí hậu Việt Nam Nam là cái xứ nóng ảnh mưa nhiều là một vùng
sông nước sông nước đã để lại dấu ấn rất quan trọng trong tinh thần văn hóa ra Việt
Nam Nam Là nơi giao điểm của các nền văn minh văn hóa
Không gian Văn Hóa thì phức tạp bởi lễ văn hóa có tính lịch sử không ra văn hóa rộng
lớn hơn không gian lãnh thổ
Không gian văn hóa Việt Nam nằm trong khu vực cư trú của người Indonesia thuộc địa
Tính tổng hợp, dung hợp được thể hiện ở chỗ đó là văn hóa Việt Nam không chối từ
các nền văn hóa của nước ngoài. Người Việt chúng ta dung hòa ra hội nhập mọi sở đắc
văn hóa. Vì thế khi ví văn hóa Việt Nam được ví như là một nồi lẩu hầm Như các yếu
tố văn hóa ngoại lai đều có mặt ở trong văn hóa Việt Nam nhưng chúng Không Tồn
Tại riêng rẽ Mà các yếu tố văn hóa ngoại lai kết hợp với các yếu tố văn hóa bản địa
một cách hòa quyện bổ sung cho nhau đau ở Việt Nam không gặp hiện tượng xung
đột sắc Tộc Xung Đột tôn giáo
Tính linh hoạt : Trong ngôn ngữ : Trong tư tưởng Trung-Hiếu Phật tại tâm Kính chúa-yêu nước Trong phong tục tập quán
Xem xét văn hóa Việt Nam chúng ta cũng cần phải xem xét đến cái yếu tố đó là lịch sử
lịch sử Việt Nam là lịch sử của các cuộc chiến tranh Chống giặc ngoại xâm và lịch sử
của công cuộc mở mang bờ cõi về phương Nam thống nhất đất nước chúng ta thấy là
không có đất nước nào phải chịu chiến tranh nhiều như chúng ta
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng chống quân đông Hán khởi nghĩa Lý Bí chống lại
quân Lương, khởi nghĩa Mai Thúc Loan, Chống Tần, Chống Triệu Đà (179TCN),
Chống Bắc thuộc (3 lần): K/n Hai Bà Trưng (40-43), K/n Bà Triệu (248), K/n Lý Bí
(542), K/n Mai Thúc Loan (722), K/n Phùng Hưng (766), k/n Khúc Thừa Dụ (905),
K/n Ngô Quyền (938). Chống Tống (981) (1075-1077), Chống Mông- Nguyên
(1258;1285;1288), Chống Minh (1407-1428), Chống Thanh (1788), Chống Pháp
(1858-1954), Chống Mỹ (1954-1972), Chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh
biên. giới phía Bắc (1978-1980), Nội chiến thời 12 sứ quân - 20 năm, Nội chiến Nam-
Bắc triều – 59 năm, Nội chiến Trịnh-Nguyễn – 160 năm, Nội chiến Nguyễn Ánh-Tây Sơn - 15 năm.
Lịch sử Việt Nam là lịch sử của công cuộc mở mang bờ cõi về phương Nam thống
nhất lãnh thổ ổ người ta nói lịch sử Việt Nam là lịch sử Nam Tiến Bởi vì người Việt
chúng ta luôn trên con đường tiến về phía nam Đến thời kì trung đại người Việt chúng
ta về Việt Nam để mở rộng lãnh thổ.
Khoảng 400 năm đầu 1069 1471 của thời Lý Trần hồ Lê Quá trình Mở cõi của chúng
ta diễn ra rất chậm đầu tiên là xảy ra khỏi cuộc giao tranh giữa ra Đại Việt với Chăm
Pa sau đó Chăm Pa bị thua trận Vua Lý Thái Tông đã bắt được chế củ là vua của
Chăm Pa để đổi lấy mạng sống thì vua của Chăm pa đã đổi 2 mảnh đất từ Quảng Bình
đến Quảng Trị để đổi lấy mạng của mình đến năm 1069 thì đất đai được mở rộng đến
bác quản trị kế tiếp đến là 1306 thông qua một cuộc hôn nhân mang màu sắc chính trị
Văn hóa Việt Nam đa dạng phong phú trong sự thống nhất cao độ sự đa dạng ở đây là
sự đa dạng về tộc người bản sắc văn hóa tộc người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam
trong đó chúng ta có 54 dân tộc trong đó dân tộc người Kinh đóng vai trò chủ đạo Đa
số các dân tộc của Việt Nam đều cùng chung một nguồn gốc
thường sống ở đồng bằng phía nam sông Trường Giang Anh Sống bằng nghề nông
nghiệp trồng cây lúa nước
Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa hình thành trên nền tảng xã hội nông nghiệp lúa
nước vì vậy mà nền văn hóa này mang đậm những cái đặc điểm về phổ hệ xã hội Ià cái
mô hình xã hội của Việt Nam chúng ta xưa đó là cá nhân gia đình họ hàng làng xóm
Vùng nước Có 3 yếu tố đóng vai trò quan trọng trong Đó là làGia đình làng xóm và
nước Làm được hình thành từ gia đình nước được hình thành trên cơ sở ở Liên kết các
làng với nhau nên cái mối quan hệ này Giúp cho người Việt Chúng ta đối xử với nhau
như đối xử với những người trong gia đình
Trong mối quan hệ xã hội thì người Việt chúng ta cư xử theo cái cách là đề cao cộng
đồng đề cao tập thể trọng tình Trọng Văn Trọng phụ nữ Tân Việt nói riêng và dân
phương đông nói chung anh lấy tình cảm làm làm quy tắc ứng xử một bồ cái lý không
bằng một tí cái tình tình khác với dân phương tây quyền lợi trách nhiệm đi cùng với
nhau còn ở chúng ta a cộng đồng tập thể để được đề cao được hòa tan trong tập thể để
trong cái hoạt động nhận thức thì tư duy của người Việt chúng ta đó là tổng hợp biện
chứng và trọng kinh nghiệm trong nhiệm có nghĩa là là nhìn nhận sự vật bằng nhiều
các yếu tố coi trọng sự vật sự tương tác giữa các yếu tố này với nhau đau và người
trồng trọt thì cần phải tích lũy nhiều kinh nghiệm sự biến đổi của các kinh nghiệm
trọng tuổi già mà ví dụ có những cái câu như là là kính lão Đắc Thọ
kính già già để tuổi cho
Trong đối ngoại thì dung hợp tiếp nhận mềm dẻo ứng phó có ứng xử theo quy tắc
thế’’ thế ngoại vương nội đế’’
Ứng xử với môi trường tự nhiên Thì cư dân thuộc cái nền văn hóa nông nghiệp Chưa
một lối sống hài hòa chưa một lối sống định cư ổn định vì nghề nông nghiệp không thể
mai đây mai đó được phải cần có thời gian để cho cây cối đâm chồi nảy lộc vì định cư
nên là người dân chúng ta có một lối sống thiên về tĩnh thiên về sự ổn định ngại hoặc
là ít có cái sự thay đổi nhằm sự biến đổi nếu cần có sự thay đổi biến đổi thì chủ yếu
người Việt chúng ta và sự cải tiến biến đổi hoặc là thay đổi một chút đi với để phù hợp
với tình thế mới vậy chứ không có ấy hay là ít cái tình huống là biến đổi hoàn toàn. 4.
Vấn đề gìn giữ, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
của người Việt trong giai đoạn văn hóa Bắc thuộc và chống Bắc thuộc.
Những giá trị truyền thống cơ bản kết tinh thời kì Bắc thuộc và chống Bắc thuộc văn hóa Việt Nam:
– Văn hóa bản địa thời kì này vẫn được bảo tồn và phat triển.
– Có sự tiếp thu và làm chủ những ảnh hưởng văn hóa của nước ngoài.
– Tiếp thu kĩ thuật làm giấy của Trung Quốc, nhân dân ta đã tìm tòi, khai thác tài
nguyên địa phương và chế tạo ra giấy tốt hơn, chất lượng có phần hơn Trung Hoa.
– Ảnh hưởng kĩ thuật gốm sứ, tiếp thu kĩ thuật của Trung Hoa và sáng tạo thêm nhiều loại hình trang trí mới,
– Tiếp biến về ngôn ngữ, trên cơ sở chữ Hán của người Việt biến ra âm của người Việt.
– Vào thời Hùng Vương, nền văn hóa của người Việt rất phong phú, đặc biệt là thờ
cúng tổ tiên nảy sinh ở khu vực ĐNA trước khi nó được truyền ba tới miền này.
– Nét đặc biệt là lòng tôn trọng phụ nữ của văn hóa Việt cổ. Biểu hiện cụ thể là truyền
thống dũng cảm chống ngoại xâm và lãnh đạo nhân dân của bà Trưng, bà Triệu. Vai
trò củ ngừi phụ nữ trong gia đình và xã hội được đề cao.
– Cùng với phong tục dùng trống Đồng, nhiều tục lệ truyền thống khác vẫn được giữ
gìn như tục cạo tóc hay lưu tóc, xăm mình, nhuộm răng, ăn trầu.
– Tuy chưa có một nền văn học chính thức và thành văn nhưng vẫn có đời sống văn học khá cao.
– Nền văn nghệ giàu có và tiếp tục phát triển dưới dạng các huyền thoại, huyền tích hay ca dao, tục ngữ.
– Sự du nhập của văn hóa Trung Quốc đã có những ảnh hưởng tích cực nhất định đối
với đời sống văn hóa Việt Nam, nhất là những trung tâm chính trị, buôn bán tập trung như Luy Lâu, Long Biên..
– Về âm nhạc thì bên cạnh một số nhạc cụ có ảnh hưởng của Trung Hoa như khánh,
chuông thì còn chịu ảnh hưởng của Ấn Độ và Trung Á như trống cơm, hồ cầm và còn
những nhạc cụ độc đáo khác như cồng, chiêng..
– Người Viêt Nam mất nước chứ không mất làng. Nền đô thị của phong kiến Trung
Quốc thời Bắc thuộc chỉ có chiều dài thời gian chứ thiếu bề rộng không gian và càng
thiếu hẳn về bề sâu trong lòng xã hội nước ta.
* Một số nhận định chung:
– Bắc thuộc và chống Bắc thuộc là hai mặt đối lập và đấu tranh quyết liệt với nhau. Nó
chi phối toàn bộ cuộc sống Viêt Nam và tiến trình lịch sử Việt Nam hàng nhiều thế kỉ.
– Chế độ phong kiến Trung Quốc đóng vai trò quan trọng để thống nhất, tổ chức đất nước.
– Trên cơ sở văn minh nông nghiệp và xóm làng, nhân dân ta đã tiếp thu một số yếu tố
văn hóa Trung Quốc, Ấn Độ và vủng biển Phương Nam.
-Không ngừng hấp thu và hội nhập những yếu tố văn hóa ngoại sinh là người Việt cổ
--Đấu tranh chống âm mưu đồng hóa của kẻ thù để bảo tồn nòi giống Việt hòa nhập nhưng không hòa tan. 6.
Tổ chức Làng Việt cổ truyền: nguồn gốc, nguyên tắc hình
thành, đặc trưng, diện mạo.
Khái niệm: Làng là 1 đơn vị cộng cư có 1 vùng đất chung của cư dân nông nghiệp,
một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cung tự cấp, mặt khác, là mẫu
hình xã hội phù hợp, là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu nông, với gia đình –tông tộc
gia trưởng, đảm bảo sự cân bằng và bền vững của xã hội nông nghiệp ấy.
-Hình thành:nguyên lí “cùng huyết thống”và nguyên lí “cùng chỗ”
+ Cội nguồn: làng là nơi ở của 1 họ(nay không còn) để lại dấu ấn tên làng
VD:Phạm Xã, Nguyễn Xã, Lê Xã, ...
+ Cùng chỗ:Các thành viên trong làng cùng sinh sống trên 1 địa bàn nên tựcó ý thức gắn kết với nhau.
-Cơ cấu:“nửa kín nửa hở”(GS Trần Quốc Vượng) thể hiện tính linh hoạt của mô hình
làng xã và là cái nôi, cơ sở bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống.
+ “Nửa kín”: tính tự trị, ý thức tự quản của làng
•Hình thức:khép kín (lũy tre, cổng làng). Những làng Việt xưa thường có lũy tre bao
quanh tạo thành 1 thành lũy kiên cố bảo vệ làng và hạn chế sự giao lưu bên ngoài.
•Hương ước(lệ làng)Mỗi làng có những hệ thống phép tắc quy định riêng như quy định
treo cưới, khuyến học, các hình phạt, ...(Phép vua thua lệ làng)
•Tín ngưỡng: Thờ thần Thành hoàng làng-thần bảo trợ cho làng
•Đời sống kinh tế theo mô hình tự cung tự cấp, có tổ chức họp chợ nhưng theo phiên
hàng tháng hoặc không có+ Nửa hở:quan hệ liên làng, siêu làng
•Liên kết chống lũ lụt, chống ngoại xâm
•Quan hệ hôn nhân vượt ra khỏi phạm vi làng
•Tâm linh: đình tổng, hội vùng, miền, quốc gia, kết chiềng/chạ
•Kinh tế: Đời sống kinh tế có sự giao lưu buôn bán ngoài làn, nông cụ, vải, đặc biệt là
sản vật địa phương. Hệ thống chợ phiên đc tổ chúc luân phiên-Các loại hình làng Việt:
+ Làng thuần nông (Làng Quỳnh Đô, Thanh Trì, HN; Làng Đông Sơn, Thanh Hóa; ...)
+ Làng nghề (Làng gốm Bát Tràng, Làng Đổng Kỵ Bắc Ninh làm gỗm kỹ nghệ, Làng
Cót làm vàng mã ở (Cầu Giấy, HN,...)
+ Làng buôn+ Làng chài(Làng chài Cửa Vạn, Làng chai Mũi Né, ...)
-Các nguyên tắc tổ chức làng xã:
+ Theo huyết thống: dòng họ(các dòng họ sinh sống ăn ở tập trung với nhau)
+ Theo địa vực: ngõ, xóm(phân chia làng thành từng cụm ngõ xóm nhỏ)
+ Theo giáp:phân chia theo lứa tuổi (ti ấu, đinh, lão...)để thuận lợi cho việc quản lí dân làng-Dân làng:
+ Nội tịch:những người đàn ôngđược ghi tên trong sổcủa làng, có quyền và nghĩa vụ với làng, với nước
+ Quan viên chức sắc: khoa mục, viên chức ... có uy tín, thếlực trong làng, sau này bị tha hóa
+ Các hạng dân làng:ti ấu, đinh, lão / sĩ, nông, công, thương 7.
Tín ngưỡng dân gian: đặc điểm chung, một số tín ngưỡng tiêu biểu (tín
ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng sùng bái con người, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng Làng) -Đặc điểm chung:
Tín ngưỡng Việt Nam giống như các bộ phận khác của văn hóa Việt Nam đề mang
những đặc trưng của văn hóa nông nghiệp đó là: •
Tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên: Thể hiện ở tín ngưỡng sùng bái tự nhiên. •
Hài hòa âm dương: thể hiện ở các đối tượng thờ cúng: Trời – Đất, Tiên – Rồng,
ông đồng – bà đồng… •
Đề cao phụ nữ: Thể hiện ở rất nhiều nữ thần như các Mẫu Tam phủ ( Bà Trời –
Đất – Nước), Mẫu Tứ phủ (Bà Mây – Mưa – Sấm – Chớp)… •
Tính tổng hợp và linh hoạt và hệ quả là tôn giáo đa thần chứ không phải độc
thần như trong nhiều tôn giáo khác. Tín ngưỡng phồn thực:
+ Việc thờ cơ quan sinh dục nam nữ còn được gọi là thờ sinh thực khí (sinh= đẻ, thực=
nảy nở, khí= công cụ). Đây là hình thái đơn giản của tín ngưỡng phồn thực, nó phổ
biến ở các nền văn hóa nông nghiệp.
+ Bên cạnh thờ sinh thực khí (= yếu tố), cư dân trồng lúa nước còn có tục thờ hành vi
giao phối, tạo nên tính ngưỡng phồn thực độc đáo, phổ biến ở khu vực Đông Nam Á.
+ Tín ngưỡng phồn thực có vai trò lớn trong sự hình thành đời sống tín ngưỡng thời
cô của người Viêt, tiêu biều qua biểu tượng trống Đồng.
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên:
+ Sùng bái tự nhiên là giai đoạn tất yếu trong quá trình phát triển của người Việt cổ.
Tín ngưỡng của người Việt là tín ngưởng đa thần. Hình tượng nữ thần là các bà, các
mẹ là hình tượng tiêu biểu.
+ Tục thờ Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước, những nữ thần cai quản hiện tượn tự nhiên, thiết
thân nhất với cuộc sống của người trồng lúc nước
+ Trong mảng tính ngưỡng sùng bái tự nhiên còn có tục thờ Động Vật (chim, rắn, cá
sấu) và Thực Vật (cây lúa, cây cau, cây đa, quả bầu).
Tín ngưỡng sùng bái con người: