Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI VIỆN ĐÀO TẠO QUỐC TẾ
BÀI THẢO LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI : “Bài học tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy. Trình bày cơ
sở lí luận và vận dụng các bài học đó vào trong lĩnh vực học tập, đời sống của sinh viên.”
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Phương Kỳ Sơn Nhóm thực hiện: Nhóm 1 Lớp học phần: 2296
Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2022 1 LỜI HAY Ý ĐẸP
“Khôn ngoan thực sự là khi nhận thức được kiến thức ít ỏi mà chúng ta có về
cuộc sống, về bản thân chúng ta và về thế giới xung quanh chúng ta” Socrates 2 LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, chúng em xin gửi lời tri ân sâu sắc đến thầy Phương Kỳ
Sơn. Trong quá trình tìm hiểu và học tập bộ môn, chúng em đã được giảng
dạy rất tận tình và được truyền cảm hứng từ thầy. Chúng em đã tích lũy được
nhiều kiến thức hay và có ích. Tuy nhiên những kiến thức và kỹ năng của
chúng em về bộ môn Triết học vẫn còn nhiều hạn chế. Do đó không tránh
khỏi nhiều thiếu sót trong quá trình hoàn thành bài thảo luận này. Mong thầy
xem xét và góp ý để bài thảo luận của nhóm chúng em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn thầy ! 3 LỜI CAM ĐOAN
Chúng em xin cam đoan bài thảo luận : “Bài học tôn trọng khách quan
và đổi mới tư duy” là trung thực và không có bất cứ sự sao chép nào. Chúng
em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm cũng như kỷ luật của thầy bộ môn, nhà
trường nếu có vấn đề xảy ra. Nhóm thảo luận Nhóm 1 4 BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ Họ và tên Chức Tự Nhóm danh STT Công việc đánh đánh Kết luận giá giá 1Lâm Tô Thái Thành Khái niệm vật An viên chất, ý thức Lời cam đoan, 2 Lê Quỳnh Anh Thành lời hay ý đẹp, viên lời cảm ơn. Lập dàn ý phân công nhiệm vụ, tổng hợp và chỉnh sửa toàn 3Nguyễn Bùi Nhóm bộ bản word; in Phương Anh trưởng bản word; làm đầu đề, bảng nhận xét, phần mở đầu. Phương thức và 4Nguyễn Huyền Thành hình thức tồn tại Anh viên dạng vật chất Tính thống nhất 5Đào Thị Hồng Thành vật chất của thế Ánh viên giới 6Nguyễn Đỗ Thành Bản chất và kết Ngọc Ánh viên cấu của ý thức Nội dung bài học khách quan 7Trần Thị Băng và đổi mới tư Châu Thư kí duy; làm powerpoint; soát bài. Mối quan hệ 8 Hà Chính Đạt Thành giữa vật chất và viên ý thức 5 PHẦN MỞ ĐẦU
Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế
giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy. Triết học nghiên cứu về
các câu hỏi chung và cơ bản về sự tồn tại, kiến thức, giá trị, lý trí, tâm trí và
ngôn ngữ. Triết học là định hướng, là dẫn dắt, là hạt nhân lý luận của thế giới,
giúp con người xây dựng thế giới khoa học nhân văn, chính nghĩa. Triết học
đóng vai trò định hướng sự hình thành, phát triển thế giới quan của mỗi cá
nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử một cách năng động, tự giác, sáng tạo.
Trong suốt quá trình nghiên cứu, học tập và tìm hiểu, hiểu được những
vai trò của Triết học đối với việc nhận thức thế giới và hành động của bản
thân. Chúng em bắt tay vào tìm hiểu đề tài: “Bài học tôn trọng khách quan và
đổi mới tư duy, trình bày cơ sở lý luận và vận dụng bài học vào lĩnh vực đời
sống học tập của mình”. -Ý nghĩa đề tài:
+ Về lí luận: Những vấn đề lý thuyết về bài học tôn trọng khách quan và
đổi mới tư duy gồm phạm trù vật chất, ý thức; mối quan hệ giữa vật chất
và ý thức; nội dung của bài học tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy.
+ Về thực tiễn: Vận dụng bài học tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy
vào đời sống học tập của mỗi sinh viên nhằm nâng cao hiểu quả học tập,
đưa ra những hạn chế tối ưu và giải pháp giải quyết những vấn đề đó.
-Mục đích đề tài: vận dụng bài học vào đời học sinh viên nâng cao hiệu
quả học tập của mỗi người.
-Nội dung đề tài: Bài thảo luận triển khai theo 2 phần chính 6
+ Chương 1: Một số vấn đề chung về bài học tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy.
+ Chương 2: Vận dụng bài học tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy
vào đời sống học tập của mỗi sinh viên. 7 CHƯƠNG 1. M
ỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BÀI HỌC “TÔN TRỌNG
KHÁCH QUAN VÀ ĐỔI MỚI TƯ DUY”
1.1.Cơ sở lý luận của bài học “tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy”
Cơ sở lý luận chung của bài học “tôn trọng khách quan và đổi mới tư
duy” là quan điểm của chủ nghĩa duy vật khoa học về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. 1.1.1. Vật chất
1.1.1.1. Phạm trù vật chất
Vật chất được phản ánh với hình thức tồn tại cụ thể của nó. Dùng để chỉ
thực tại khách quan phản ánh qua cảm giác. Khi đó, vật chất mang đến hình
thức chứa đựng cụ thể và có dạng tồn tại hữu hình. Từ khái niệm này, có thể
thấy được với tính chất tồn tại được chứng minh. Từ đó, đánh giá được đưa ra
dễ dàng với các dạng tồn tại đó có được xác định là vật chất hay không.
Vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gây nên cảm
giác ở con người. Con người thông qua cảm giác để đánh giá về sự tồn tại của
vật chất. Cũng như khẳng định được, phân biệt được giữa vật chất và ý thức.
Hai khái niệm này tách rời nhau, và mang đến các dạng tồn tại khác hoàn
toàn. Khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người. Vật
chất là cái được ý thức phản ánh bằng cảm giác thỏa mãn với khái niệm trên.
Vật chất với tư cách là phạm trù triết học theo nghiên cứu. Là kết quả
của sự khái quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính, những mối liên hệ vốn
có của các sự vật, hiện tượng. Khi đó, hướng đến các giải thích cho sự tồn tại
bên cạnh ý nghĩa trong xác định. Nên nó phản ánh cái chung, vô hạn, vô tận,
không sinh ra, không mất đi. Vật chất có dạng tồn tại cố định hoặc không,
nhưng được đảm bảo cho cảm giác phản ánh.
1.1.1.2. Vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc 8
tính cố hữu của vật chất
Ăngghen định nghĩa: “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, – tức được
hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật
chất – thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ,
kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”.
Theo quan niệm của Ăngghen: vận động không chỉ thuần túy là sự thay
đổi vị trí trong không gian mà là “mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra
trong vũ trụ”, vận động “là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc
tính cố hữu của vật chất” nên thông qua vận động mà các dạng cụ thể của vật
chất biểu hiện sự tồn tại cụ thể của mình; vận động của vật chất là tự thân vận
động; và, sự tồn tại của vật chất luôn gắn liền với vật chất.
Dựa trên thành tựu khoa học trong thời đại mình, Ăngghen đã phân chia
vận động thành năm hình thức cơ bản: vận động cơ học, vận động vật lý, vận
động hóa học, vận động sinh học và vận động xã hội. Các hình thức vận động
nói trên được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao tương ứng với trình dộ kết
cấu của vật chất. Các hình thức vận động khác nhau về chất song chúng
không tồn tại biệt lập mà có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó: hình
thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận động thấp và bao
hàm trong nó những hình thức vận động thấp hơn. Trong sự tồn tại của mình,
mỗi sự vật có thể có nhiều hình thức vận động khác nhau song bản thân nó
bao giờ cũng được đặc trưng bởi hình thức vận động cao nhất mà nó có.
Bằng việc phân loại các hình thức vận động cơ bản, Ăngghen đã đặt cơ
sở cho việc phân loại, phân ngành, hợp ngành khoa học. tư tưởng về sự thống
nhất nhưng khác nhau về chất của các hình thức vận động cơ bản còn là cơ sở
để chống lại khuynh hướng đánh đồng các hình thức vận động hoặc quy hình
thức vận động này vào hình thức vận động khác trong quá trình nhận thức.
Khi khẳng định vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc
tính cố hữu của vật chất; chủ nghĩa duy vật biện chứng cũ đã khẳng định vận
động là vĩnh viễn. Điều này không có nghĩa chủ nghĩa duy vật biện chứng phủ 9
nhận sự đứng im, cân bằng; song đứng im, cân bằng chỉ là hiện tượng tương
đối, tạm thời và thực chất đứng im, cân bằng chỉ là một trạng thái đặc biệt của vận động.
Đứng im là tương đối vì đứng im, cân bằng chỉ xảy ra trong một số quan
hệ nhất định chứ không xảy ra với tất cả mọi quan hệ; đứng im, cân bằng chỉ
xảy ra trong một hình thức vận động chứ không phải xảy ra với tất cả các hình
thức vận động. Đứng im là tam thời vì đứng im không phải là cái tồn tại vĩnh
viễn mà chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định, chỉ xét trong một hay một
số quan hệ nhất định, ngay trong sự đứng im vẫn diễn ra những quá trình biến đổi nhất định.
Đứng im là trạng thái đặc biệt của vận động, đó là vận động trong thế
cân bằng, ổn định; vận động chưa làm thay đổi căn bản về chất, về vị trí, hình
dáng, kết cấu của sự vật.
1.1.1.3. Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại
Mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một
quảng tính nhất định và tồn tại trong những mối tương quan nhất định với
những dạng vật chất khác. Những hình thức tồn tại như vậy được gọi là không
gian. mặt khác, sự tồn tại của sự vật còn được thể hiện ở quá trình biến đổi:
nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyển hóa,…Những hình thức tồn tại như vậy
được gọi là thời gian.
Ăngghen viết: “Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và
thời gian; tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ngoài
không gian”. Như vậy, vật chất, không gian, thời gian không tách rời nhau;
không có vật chất tồn tại ngoài không gian và thời gian; cũng không có
không gian, thời gian tồn tại ngoài vật chất vận động.
Là những hình thức tồn tại của vật chất, không tách khỏi vật chất nên
không gian, thời gian có những tính chất chung như những tính chất của vật
chất, đó là tính khách quan, tính vĩnh cửu, tính vô tận và vô hạn. 10
Ngoài ra, không gian có thuộc tính ba chiều còn thời gian chỉ có một
chiều. tính ba chiều của không gian và một chiều của thời gian biểu hiện hình
thức tồn tại về quảng tính và quá trình diễn biến của vật chất vận động.
1.1.1.4. Tính thống nhất vật chất của thế giới 1.1.1.4.1.
Tồn tại của thế giới là tiền đề cho sự thống nhất của thế giới. -Tồn tại:
+ Khái niệm: là phạm trù dùng để chỉ tính có thực của thế giới xung
quanh con người. Khẳng định sự tồn tại là gạt bỏ những nghi ngờ về tính
không thục, sự hư vô, tức là gạt bỏ sự “không tồn tại”
+ Sự tồn tại của thế giới là hết sức phong phú về dạng, loại: tồn tại vật
chất và tồn tại tinh thần; tồn tại khách quan và tồn tại chủ quan; tồn tại của tự
nhiên và tồn tại của xã hội…
+ Quy luật phát triển của lịch sử tư tưởng triết học vừa cho phép lại vừa
đòi hỏi con người phải đi đến quan niệm về bản chất của tồn tại, từ đó hình
thành hai trường phái đối lập nhau:
∙ Chủ nghĩa duy vật: thế giới tồn tại dưới dạng vật chất
∙ Chủ nghĩa duy tâm: bản chất của tồn tại là tinh thần 1.1.1.4.2.
Thế giới thống nhất ở tính vật chất
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định bản chất của thế giới là vật
chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất. Điều đó được thể hiện ở những điểm cơ bản sau đây:
Chỉ một thế giới thống nhất và duy nhất là thế giới vật chất, Thế giới
vật chất tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức con người, được ý
thức con người phản ánh.
Mọi bộ phận của thế giới có mối quan hệ vật chất thống nhất với nhau,
biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là sản phẩm của 11
vất chất, cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan, phổ biến của thế giới vật chất.
Thế giới vật chất không do ai sinh ra và cũng không tự mất đi, tồn tại
vĩnh viễn, vô hạn và vô tận. Trong thế giới, các sự vật, hiện tượng luôn luôn
vận động, biến đổi không ngừng và chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc,
nguyên nhân và kết quả của nhau, về thực chất, đều là những quá trình vật chất.
Quan niệm trên của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã được cuộc sống
hiện thực của con người và toàn bộ sự phát triển của khoa học xác định. Con
người không thể bằng ý thức của mình sản sinh ra được các đối tượng vật
chất, mà chỉ có thể cải biến thế giới vật chất trên cơ sở nắm vững những thuộc
tính khách quan vốn có của các dạng vật chất và những quy luật vận động của thế giới vật chất.
- Với sự phát triển của thiên văn học, quang phổ học,vũ trụ học, người ta
khẳng định rằng: không hề có một thế giới siêu nhiên nào ngoài trái đất.
- Sự phát triển của sinh vật học đã cho chúng ta biết rằng thực vật, động
vật, cơ thể con người, đều có những thành phần vô cơ, có cấu trúc và phân
hóa tế bào như nhau, có cùng cơ cấu di truyền sự sống, là các bậc thang trong
quá trình tiến hóa của thế giới vật chất.
- Sự phát triển của định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng cũng
như các quy luật về vật chất vận động đều chứng minh rằng vật chất không tự
nhiên sinh ra và không mất đi, mà luôn chuyển hóa từ dạng này sang dạng
khác. Những thành phần mới nhất về thiên văn học, cơ học, lượng tử, thuyết
tương đối cùng với sự phát hiện ra hạt và trường, hạt và phản hạt, cũng như
khoa học thực nghiệm đã tạo ra được các phản nguyên tử, giải mã được bản
đồ gen người... càng cho chúng ta thấy rõ không có thế giới phi vật chất,
không có giới hạn cuối cùng của vật chất nói chung cả về quy mô và tính
chất, kết cấu và thuộc tính. Cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, 12
con người ngày càng phát hiện ra nhiều mắt khâu trung gian trong sợi dây
chuyền vận động vô tận của vật chất, và chính điều ấy cho phép chúng ta
khẳng định tính liên tục thống nhất của các quá trình và các trình độ phát triển
của vật chất từ thấp đến cao của vật chất. Không có bất cứ sự vật, hiện tượng
nào là hư vô hay sinh ra từ hư vô mà chỉ có các sự vật, hiện tượng, vật chất có nguồn gốc vật chất.
- Xã hội loài người cũng là cấp độ đặc biệt của tổ chức vật chất và là cấp
độ cao nhất của cấu trúc vật chất. Trong xã hội đó, tuy nhân tố hoạt động là
những con người có ý thức, song, không làm mất đi tính vật chất, khách quan
của đời sống xã hội, của các quan hệ vật chất xã hội. Xã hội cũng là một bộ
phận của thế giới vật chất, có nền tảng vật chất, có kết cấu và quy luật vận
động khách quan không lệ thuộc vào ý thức của con người. Những quan hệ
vật chất xã hội tồn tại khách quan, nhưng lại là kết quả của hoạt động thực
tiễn của con người. Con người có vai trò năng động, sáng tạo to lớn trong thế
giới vật chất, chứ hoàn toàn không hề bất lực trước nó.
→Như vậy, thế giới bao gồm cả tự nhiên và xã hội, về bản chất là vật
chất, thống nhất ở tính vật chất. Ph.Ăngen kết luận:” tính thống nhất thực sự
của thế giới là ở tính vật chất của nó, và tính vật chất này được chứng minh
không phải bằng vài ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật, mà bằng một
sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên. 1.1.2. Ý thức
Ý thức theo định nghĩa triết học Mác Lê nin là một phạm trù được quyết
định với phạm trù vật chất,theo đó ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất
khách quan vào bộ óc con người và có sự cải biên và sáng tạo.Ý thức có mối
quan hệ biện chứng với vật.
Ý thức hoặc “cảm nhận” có thể được mô tả là một cái gì đó xảy ra khi
não được kích hoạt theo những cách nhất định, chẳng hạn như khi màu đỏ là 13
những gì được nhìn thấy sau khi võng mạc được kích thích bởi sóng ánh sáng.
Việc hình thành khái niệm này được đặt ra trong bối cảnh khó khăn trong việc
phát triển một định nghĩa phân tích về nhận thức hoặc nhận thức cảm tính.
1.1.2.1. Nguồn gốc của ý thức 1.1.2.1.1. Nguồn gốc tự nhiên
Bộ óc và sự hoạt động cùng các mối quan hệ thế giới khách quan và con
người được nhận định là các yếu tố tự nhiên là sự bắt nguồn và cũng là nguồn
gốc tự nhiên của ý thức. Sự hình thành ý thức từ con người đối với thế giới
khách quan là do có sự tác động của thế giới khách quan tới bộ óc của con
người tạo ra khả năng về sự hình thành ý này. Như vậy, có thể nhận định một
điều rằng sự phản ánh về thế giới khách quan từ con người được xem là ý
thức.Mà trong đó, phản ảnh được hiểu là sự sự tái tạo về đặc điểm dạng vật
chất này bởi dạng vật chất khác khi tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng.
Phản ánh sinh học, phản ánh tâm lý, phản ánh vật lý hóa học, phản ánh năng
động sáng tạo được hiểu là hình thức của những sự phản ánh và phản ánh là
một thuộc tính từ tất cả các dạng vật chất.
Một hình thức thấp nhất và đặc trưng cho vật chất vô sinh là phản ánh về
hóa học vật lý. Những biến đổi về lý, hóa, cơ khi có sự tác động lẫn nhau bởi
các dạng vật chất vô sinh được nhận định là phản ánh về hóa học vật lý. Hình
thức được phản ánh chỉ mang tính thụ động của vật nhận tác động chứ phản
ánh chưa định hướng lựa chọn.
Phản ánh tâm lý được nhận định là sự phản ánh cho động vật đặc trưng
đã được phát triển đến trình độ mà có hệ thần kinh trung ương, phản ánh này
thể hiện dưới cơ chế phản xạ có điều kiện lên những tác động môi trường
sống. Hình thức để phản ánh năng động và sáng tạo bởi con người đó chính là phản ánh ý thức. 14
Hình thức được phản ánh cao hơn và đặc trưng giới tự nhiên hữu sinh đó
là phản ánh sinh học. Quá trình phát triển giới tự nhiên hữu sinh, được thể
hiện qua tính kích thích, phản xạ và tính cảm ứng. 1.1.2.1.2. Nguồn gốc xã hội
Nguồn gốc xã hội của ý thức bao gồm các nhân tố cơ bản nhất như lao
động và ngôn ngữ, nó trực tiếp tạo thành nguồn gốc xã hội của ý thức.
Một quá trình con người sử dụng về công cụ tác động với giới tự nhiên
để thay đổi giới tự nhiên phù hợp nhu cầu con người được nhận định là lao
động. Còn cái vỏ của vật chất từ ý thức, hình thức vật chất nhân tạo có vai trò
trong thể hiện, lưu trữ nội dung ý thức thì chính là ngôn ngữ. 1.1.2.1.3.
Ví dụ về nguồn gốc của ý thức
Ý thức được bắt nguồn từ nguồn gốc xã hội, trong đó bao gồm lao động
và ngôn ngữ, ví dụ cụ thể: Con người khi lao động cụ thể là lao động chế tạo
ra các công cụ lao động, công cụ dùng trong sinh hoạt, từ đó con người có ý
thức về việc thay đổi thói quen ăn uống hay mục đích của hoạt động biến đổi phát triển xã hội.
1.1.2.2. Bản chất của ý thức
Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc
con người; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh ý thức được thể hiện ở
khả năng hoạt động tâm – sinh lý của con người trong việc định hướng tiếp
nhận thông tin, chọn lọc thông tin, xử lý thông tin, lưu giữ thông tin và trên cơ
sở những thông tin đã có nó có thể tạo ra những thông tin mới và phát hiện ý
nghĩa của thông tin được tiếp nhận. Tính chất năng động, sáng tạo của sự
phản ánh ý thức còn được thể hiện ở quá trình con người tạo ra những giả
tưởng, giả thuyết, huyền thoại,.. trong đời sống tinh thần của mình hoặc khái 15
quát bản chất, qui luật khách quan, xây dựng các mô hình tư tưởng, tri thức
trong các hoạt động của con người.
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nghĩa là: ý thức là
hình ảnh về thế giới khách quan, hình ảnh ấy bị thế giới khách quan qui định
cả về nội dung, cả về hình thức biểu hiện nhưng nó không còn y nguyên như
thế giới khách quan mà nó đã cải biến thông qua lăng kính chủ quan của con
người. Theo Mác: ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào trong
đầu óc con người và được cải biến đi trong đó”.
Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội. Sự ra đời và
tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối không chỉ
của các qui luật sinh học mà chủ yếu là của các qui luật xã hội, do nhu cầu
giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của xã hội qui định. Với
tính năng động, ý thức đã sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn xã hội.
1.1.2.3. Kết cấu của ý thức
Ý thức có kết cấu cực kỳ phức tạp. Có nhiều ngành khoa học, nhiều cách
tiếp cận, nghiên cứu về kết cấu của ý thức. Ở đây chỉ tiếp cận kết cấu của ý
thức theo các yếu tố cơ bản nhất hợp thành nó. Theo cách tiếp cận này, ý thức
bao gồm ba yếu tố cơ bản nhất là: tri thức, tình cảm và ý chí, trong đó tri thức
là nhân tố quan trọng nhất. Ngoài ra ý thức còn có thể bao gồm các yếu tố khác.
Tri thức là toàn bộ những hiểu biết của con người, là kết quả của quá
trình nhận thức, là sự tái tạo lại hình ảnh của đối tượng được nhận thức dưới
dạng các loại ngôn ngữ.
Mọi hoạt động của con người đều có tri thức, được tri thức định hướng.
Mọi biểu hiện của ý thức đều chứa đựng nội dung tri thức. Tri thức là phương
thức tồn tại của ý thức và là điều kiện để ý thức phát triển. theo Mác:
“phương thức mà theo đó ý thức tồn tại và theo đó một cái gì đó tồn tại đối
với ý thức là tri thức”. 16
Căn cứ vào lĩnh vực nhận thức, tri thức có thể chia thành nhiều loại như
tri thức về tự nhiên, tri thức về xã hội, tri thức nhân văn. Căn cứ vào trình độ
phát triển của nhận thức, tri thức có thể chia thành tri thức đời thường và tri
thức khoa học, tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận, tri thức cảm tính và tri thức lý tính,…
Tình cảm là những rung động biểu hiện thái độ con người trong các quan
hệ. Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh hiện thực, được hình
thành từ sự khái quát những cảm xúc cụ thể của con người khi nhận sự tác
động của ngoại cảnh. Tình cảm biểu hiện và phát triển trong mọi lĩnh vực đời
sống của con người; là một yếu tố phát huy sức mạnh, một động lực thúc đẩy
hoạt động nhận thức và thực tiễn. Lênin cho rằng: không có tình cảm thì “xưa
nay không có và không thể có sự tìm tòi chân lý”; không có tình cảm thì
không có một yếu tố thôi thúc những người vô sản và nửa vô sản, những công
nhân và nông dân nghèo đi theo cách mạng.
Tùy vào từng đối tượng nhận thức và sự rung động của con người về đối
tượng đó trong các quan hệ mà hình thành nên các loại tình cảm khác nhau,
như tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ, tình cảm tôn giáo,…
Ý chí là khả năng huy động sức mạnh bản thân để vượt qua những cản
trở trong quá trình thực hiện mục đích của con người. Ý chí được coi là mặt
năng động của ý thức, một biểu hiện của ý thức trong thực tiễn mà ở đó con
người tự giác được mục đích của hoạt động nên tự đấu tranh với mình để thực
hiện đến cùng mục đích đã lựa chọn. có thể coi ý chí là quyền lực của con
người đối với mình; nó điều khiển, điều chỉnh hành vi để con người hướng
đến mục đích một cách tự giác; nó cho phép con người tự kìm chế, tự làm chủ
bản thân và quyết đoán trong hành động theo quan điểm và niềm tin của
mình. Giá trị chân chính của ý chí không chỉ thể hiện ở cường độ của nó
mạnh hay yếu mà chủ yếu thể hiện ở nội dung, ý nghĩa của mục đích mà ý chí
hướng đến. Lênin cho rằng: ý chí là một trong những yếu tố tạo nên sự nghiệp 17
cách mạng của hàng triệu người trong cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt nhằm
giải phóng mình, giải phóng nhân loại.
Tất cả các yếu tố tạo thành ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau
song tri thức là yếu tố quan trọng nhất; là phương thức tồn tại của ý thức,
đồng thời là nhân tố định hướng đối với sự phát triển và quyết định mức độ
biểu hiện của các yếu tố khác.
1.1.3. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng. Trong
mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì vật chất có trước còn ý thức có sau,
vật chất là nguồn gốc của ý thức quyết định ý thức,ý thức tác động trở lại vật
chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
1.1.3.1. Vật chất quyết định ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: Vật chất là cái có trước,
ý thức là cái có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, bởi vì:
+ Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao, là sự phản
ánh của thế giới vật chất, là hình ảnh mang tính chủ quan của thế giới vật
chất. Vì vậy, nội dung của ý thức do vật chất quyết định. Nên vật chất không
chỉ quyết định nội dung mà hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức.
+ Các yếu tố cấu thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức
là bản thân thế giới khách quan hoặc các dạng tồn tại của vật chất đều khẳng
định vật chất là nguồn gốc của ý thức.
Ví dụ: Khi sống tại một môi trường hẻo lảnh xa xôi còn nhiều khó khan
bạn A có rất ít kinh nghiệm và kiến thức trong việc sử dụng các đồ điện tử.
Ngược lại bạn B sống ở thành phố lớn lại dùng một cách rất thuần thục từ bé. 18
1.1.3.2. Ý thức tác động ngược lại vật chất
Dù ý thức được sinh ra bởi vật chất, nhưng ý thức sẽ không thụ động mà
nó sẽ tác động trở lại vật chất thông qua những hoạt động thực tiễn của con
người. Ý thức sau khi sinh ra sẽ không bị vật chất gò bó, mà nó có thể tác
động làm thay đổi vật chất.
+ Thông qua hoạt động của con người, ý thức cũng sẽ có thể thay đổi và
cải tạo hiện thực khách quan theo nhu cầu phát triển của con người. Mức độ
tác động nhiều hay ít sẽ phụ thuộc vào các yếu tố như điều kiện, ý chí, nhu
cầu, môi trường,… Nếu được tổ chức tốt thì ý thức sẽ có khả năng tác động lớn tới vật chất.
+ Ý thức không thể thoát ly hiện thực khách quan và sức mạnh của ý
thức sẽ được chứng tỏ thông qua việc nhận thức hiện thực khách quan. Để từ
đó xây dựng kế hoạch và xác định mục tiêu, ý chí để hoạt động của con người
tác động ngược trở lại vật chất.
Do đó, khi tác động tích cực lên vật chất thì xã hội cũng sẽ ngày càng
phát triển. Ngược lại, nếu nhận thức không đúng thì ý thức sẽ kìm hãm sự phát triển.
Ví dụ: Ngôi nhà mới được xây một cách hoàn hảo sau những lần rút kinh
nghiệm từ sai lầm của những người thợ xây.
1.2.Nội dung bài học tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy 19
Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong triết học Mác – Lênn,
chúng em rút ra được một bài học là tôn trọng khách quan kết hợp với đổi mới tư duy.
1.2.1. Nội dung bài học tôn trọng khách quan
1.2.1.1. Khái niệm tôn trọng khách quan
Tôn trọng khách quan là tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các
quy luật tự nhiên và xã hội. Điều này đã được Lenin nhiều lần nhấn mạnh
rằng: “Không được lấy chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy
tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược cách mạng. Nếu chỉ
xuất phát từ ý muốn chủ quan, nếu lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng
thay cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí”, vì thế đòi hỏi
trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải xuất phát từ
thực tế khách quan, từ những điều kiện, tiền đề vật chất vốn có, lấy thực tế
khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình. 1.2.1.2. Nội dung bài học
Tôn trọng khách quan là xuất phát từ tính khách quan của vật chất, có
thái độ tôn trọng đối với hiện thực khách quan, mà căn bản là tôn trọng quy
luật, nhận thức và hành động theo quy luật; tôn trọng vai trò quyết định của
đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần của con người, của xã hội. Phải
tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, nếu không làm như vậy,
chúng ta sẽ phải chịu những hậu quả tai hại khôn lương. Nhận thức sự vật
hiện tượng phải chân thực, đúng đắn, tránh tô hồng hoặc bôi đen đối tượng,
không được gán cho đối tượng cái mà nó không có. Điều đó đòi hỏi trong
nhận thức và hành động, con người phải xuất phát từ thực tế khách quan để
xác định mục đích, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch, biện
pháp; nhận thức, cải tạo sự vật hiện tượng, nhìn chung phải xuất phát từ chính
bản thân sự vật hiện tượng đó với những thuộc tính, mối liên hệ bên trong vốn
có của nó, phải lấy thực tế khách quan làm cơ sở, phương tiện; phải tìm ra 20