



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ & THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ ----------o0o---------- BÁO CÁO THẢO LUẬN
Học phần: Triết học Mác-Lênin Đề tài:
Bài học tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy-trình bày cơ
sở lí luận và vận dụng các bài học đó vào trong lĩnh vực đời
sống học tập của mỗi người. Lớp học phần : 232_MLNP0221_10 Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Phương Kỳ Sơn Nhóm thực hiện : Nhóm 03 Hà Nội_2024 1 LỜI HAY Ý ĐẸP
“Người duy nhất không mắc lỗi là người không làm gì cả…Đừng sợ thừa nhận
thất bại. Hãy học từ thất bại” 2 LỜI CẢM ƠN
Có thể thấy rằng sự thành công không bao giờ đến một mình. Nó luôn gắn liền
với sự hỗ trợ, giúp đỡ của những người xung quanh. Dù cho sự giúp đỡ ấy là ít hay
nhiều thì nó cũng trực tiếp góp phần vào sự thành công. Trong suốt khoảng thời gian
làm tiểu luận đến nay, chúng em đã nhận được sự quan tâm, chỉ dạy giúp đỡ của bạn
bè, thầy cô và mọi người xung quanh.
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới toàn bộ
thầy, cô giáo của trường Đại học Thương Mại cùng những tri thức với sự tâm huyết đã
tận tâm chỉ dạy chúng em để có thể truyền đạt cho chúng em vốn kiến thức quý báu
trong khoảng thời gian vừa qua và cả trong khoảng thời gian sắp tới.
Đặc biệt chúng em xin gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Phương Kỳ Sơn đã tận tâm
chỉ bảo hướng dẫn chúng em qua từng buổi học, từng buổi nói chuyện, thảo luận về
đề tài nghiên cứu. Nhờ có những sự hướng dẫn dạy bảo đó mà bài thảo luận của
chúng em mới hoàn thành được 1 cách xuất sắc nhất. Một lần nữa em xin trân thành
gửi lời cảm ơn tới thầy!
Bài thảo luận được hoàn thành trong khoảng thời gian ngắn. Do nguồn kiến
thức còn hạn hẹp nên chúng em không thể tránh được những thiếu sót không đáng có.
Chúng em rất mong muốn được nhận ý kiến đóng góp từ thầy và các bạn để bài thảo
luận có thể hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2024 3 LỜI CAM ĐOAN
Nhóm 3 chúng em xin cam đoan bài tiểu luận này là do các thành viên trong
nhóm thực hiện cùng sự hỗ trợ, tham khảo tài liệu từ các tư liệu, giáo trình liên
quan đến đề tài thảo luận và nội dung thuộc phạm vi môn Triết học Mác- Lênin.
Tuy nhiên, nhóm 3 xin cam đoan rằng không có sự sao chép y nguyên các tài liệu
nhóm đã biết trước đó. Các tài liệu, kết luận được trình bày trong bài thảo luận là
trung thực và đảm bảo tính khách quan. 4 BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ STT HỌ VÀ TÊN CHỨC CÔNG VIỆC TỰ NHÓM KẾT TRÁCH ĐÁNH ĐÁNH LUẬN GIÁ GIÁ 23 Nguyễn Đức Dũng Thành Lời trích dẫn, viên soát bài 24 Lê Quỳnh Dương Thành Tổng hợp, viên chỉnh sửa, làm Word 25 Lê Thị Thùy Dương Thành Phần mở đầu viên 27 Ngô Duy Đông Thành Lời cảm ơn viên 28 Bùi Trung Đức Thành Lý thuyết I viên 29 Nguyễn Đăng Đức Thành Lý thuyết II viên 30 Nguyễn Đắc Đức Thành Lời cam đoan viên 31 Đinh Thị Quỳnh Giang Nhóm Lý thuyết III trưởng 32 Trương Thị Giang Thành Lý thuyết IV viên Nhóm trưởng Thư ký 5 MỤC LỤC
LỜI HAY Ý ĐẸP..........................................................................................................1
LỜI CẢM ƠN...............................................................................................................2
LỜI CAM ĐOAN.........................................................................................................3
BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ..............................................................................................4
PHẦN MỞ ĐẦU...........................................................................................................6
1.Tầm quan trọng của đề tài...........................................................................................6
2.Ý nghĩa đề tài..............................................................................................................6
3.Mục đích triển khai.....................................................................................................7
4.Cách thức triển khai....................................................................................................7
CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI........................................................................8
I. VẬT CHẤT...............................................................................................................8
1.1. Phạm trù vật chất..................................................................................................8
a.Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan - cái tồn tại hiện thực bên ngoài ý thức và
không lệ thuộc vào ý thức..............................................................................................8
b.Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan của con người thì đem lại
cho con người cảm giác.................................................................................................8
c.Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua là sự phản ánh của nó............................9
1.2. Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất..................................................9
a.Vận động.....................................................................................................................9
b.Không gian và thời gian..............................................................................................9
1.3. Tính thống nhất vật chất của thế giới................................................................10
a.Tồn tại của thế giới là tiền đề cho sự thống nhất của thế giới...................................10
b.Thế giới thống nhất ở tính vật chất...........................................................................10
II. Ý THỨC.................................................................................................................10
2.1.Nguồn gốc của ý thức...........................................................................................10
2.2.Bản chất và kết cấu của ý thức............................................................................11 6
a. Bản chất của ý thức..................................................................................................12
b. Kết cấu của ý thức....................................................................................................12
III. MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC..............13
3.1.Vai trò của vật chất đối với ý thức......................................................................13
3.2.Vai trò của ý thức đối với vật chất......................................................................13
IV.NỘI DUNG BÀI HỌC TÔN TRỌNG KHÁCH QUAN VÀ ĐỔI MỚI TƯ
DUY.............................................................................................................................15
4.1.Tư duy...................................................................................................................15
4.2.Nội dung bài học tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy:............................18
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG NỘI DUNG ĐỀ TÀI VÀO ĐỜI SỐNG THỰC TIỄN
......................................................................................................................................19
1. STT 23: Nguyễn Đức Dũng...................................................................................20
2. STT 24: Lê Quỳnh Dương.....................................................................................22
3. STT 25: Lê Thị Thùy Dương.................................................................................24
4. STT 27: Ngô Duy Đông..........................................................................................26
5. STT 28: Bùi Trung Đức.........................................................................................28
6. STT 29: Nguyễn Đăng Đức....................................................................................30
7. STT 30: Nguyễn Đắc Đức......................................................................................33
8. STT 31: Đinh Thị Quỳnh Giang...........................................................................36
9. STT 32: Trương Thị Giang....................................................................................39 7 PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tầm quan trọng của đề tài
Immanuel Kant từng nói rằng: "Triết học là đèn lửa hướng dẫn xã hội qua
những thời kỳ tối tăm và khám phá ra những giá trị cao đẹp trong cuộc sống." Triết
học không chỉ đơn thuần là một lĩnh vực nghiên cứu trừu tượng, mà còn là một nguồn
động viên, là một nguồn sáng soi trong cuộc sống hàng ngày của con người. Những
nguyên lý cơ bản của triết học, đặc biệt là triết học Mac –Lênin, là môn khoa học cơ
bản trang bị cho con người những kiến thức trong nhận thức và hành động, là nguồn
gốc lý luận và tiền đề khoa học tự nhiên, mang đến những định hướng đúng đắn cho
con người trong cuộc sống.
Trong triết học, chức năng của thế giới quan là định hướng cho con người nhận
thức đúng đắn về thế giới thực, giúp con người hình thành quan điểm khoa học định
hướng. Từ đó xác định thái độ và cách thức hoạt động của mình, nâng cao vai trò sáng
tạo tích cực của con người.
Chức năng vai trò của phương pháp luận là giúp con người có hệ thống phương
pháp luận chung nhất cho toàn bộ nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn.
Tóm lại, Triết học là định hướng, là dẫn dắt, là hạt nhân lý luận của thế giới, chỉ đạo
hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Qua quá trình nghiên cứu
học tập, hiểu được vai trò của môn học đối với việc nhận thức thế giới và hành động của bản thân.
Trong một thế giới đang phát triển với tốc độ chóng mặt, chúng ta đối mặt với
những thách thức về đa dạng văn hóa, sự biến đổi công nghệ và mối quan hệ xã hội
phức tạp. Trong tình hình này, việc tôn trọng khách quan là vô cùng quan trọng. Tôn
trọng khách quan đòi hỏi chúng ta không chỉ nhìn nhận vấn đề từ góc độ cá nhân mà
còn từ góc độ bao quát, không lẫn lộn với cảm xúc hay lợi ích cá nhân. Trên cơ sở
quan điểm về bản chất vật chất của thế giới, bản chất năng động, sáng tạo của ý thức
và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, chủ nghĩa duy vật biện chứng xây
dựng nên một nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, chung nhất đối với mọi hoạt động
nhận thức và thực tiễn của con người. Đó chính là “đổi mới tư duy”, để từ đó vận
dụng vào đời sống học tập của mỗi người. 2.Ý nghĩa đề tài
+ Về lý luận: Đề tài hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết cơ bản của bài học
tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy bao gồm phạm trù vật chất, ý thức, mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức, nội dung bài học tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy. 8
+ Về thực tiễn: Nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho sinh viên ứng dụng nhằm
nâng cao hiệu quả học tập. Đặc biệt, bài làm đã đưa ra một số đề xuất, góp phần nâng
cao hiệu quả học tập, làm việc của sinh viên. 3.Mục đích triển khai
Hiểu được tầm quan trọng của đề tài, từ đó vận dụng được bài học tôn trọng
khách quan và đổi mới tư duy vào lĩnh vực học tập, đời sống của sinh viên. 4.Cách thức triển khai
Vận dụng các kiến thức đã học dưới sự dẫn dắt của PGS.TS Phương Kỳ Sơn –
Giảng viên cao cấp, cũng như tìm hiểu thêm về đề tài thông qua tài liệu tham khảo,
qua một số trang website... bài thảo luận gồm 2 chương chính :
+ Chương 1 : Cơ sở lí luận về bài học tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy.
+ Chương 2: Vận dụng bài học vào lĩnh vực đời sống, học tập của mỗi sinh viên. 9
CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI I. VẬT CHẤT 1.1. Phạm trù vật chất
Vật chất là một phạm trù nền tảng của chủ nghĩa duy vật triết học, xung quanh
vấn đề này có rất nhiều các quan niệm khác nhau. V.I. Lênin đã đưa ra định nghĩa
hoàn chỉnh về vật chất như sau: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực
tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng
ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Định nghĩa vật chất của V.I. Lênin bao hàm các nội dung cơ bản sau đây:
a.Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan - cái tồn tại hiện thực bên ngoài
ý thức và không lệ thuộc vào ý thức.
Vật chất là sản phẩm của sự trừu tượng hóa, không có sự tồn tại cảm tính. V.I.
Lênin nhấn mạnh rằng, phạm trù triết học này dùng để chỉ “Đặc tính duy nhất của vật
chất mà chủ nghĩa duy vật triết học gắn liền với việc thừa nhận đặc tính này - là cái
đặc tính tồn tại với tư cách là hiện thực khách quan, tồn tại ở ngoài ý thức chúng ta”
b.Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan của con người
thì đem lại cho con người cảm giác.
V.I. Lênin khẳng định rằng, vật chất luôn biểu hiện đặc tính hiện thực khách
quan của mình thông qua sự tồn tại không lệ thuộc vào ý thức của các sự vật, hiện
tượng cụ thể, tức là luôn biểu hiện sự tồn tại hiện thực của mình dưới dạng thực thể.
c.Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua là sự phản ánh của nó.
Các hiện tượng vật chất luôn tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào các hiện
tượng tinh thần. còn các hiện tượng tinh thần (cảm giác, tư duy, ý thức…), lại luôn
luôn có nguồn gốc từ các hiện tượng vật chất và những gì có được trong các hiện
tượng tinh thần ấy chẳng qua cũng chỉ là chép lại, chụp lại, là bản sao của các sự vật,
hiện tượng đang tồn tại với tính cách là hiện thực khách quan. 10
1.2. Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất a.Vận động
Ph.Ăngghen viết: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, là một phương thức
tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự
thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến
tư duy”. Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất. Không ở đâu và ở nơi nào lại có
thể có vật chất không vận động. Sự tồn tại của vật chất là tồn tại bằng cách vận động,
tức là vật chất dưới các dạng thức của nó luôn luôn trong quá trình biến đổi không
ngừng. Các dạng tồn tại cụ thể của vật chất không thể không có thuộc tính vận động.
Hình thức vận động của vật chất rất đa dạng, được biểu hiện ra với các quy mô, trình
độ và tính chất hết sức khác nhau. Việc khám phá và phân chia các hình thức vận
động của vật chất diễn ra cùng với sự phát triển nhận thức của con người. Dựa vào
những thành tựu khoa học của thời đại mình, Ph.Ăngghen đã chia vận động của vật
chất thành năm hình thức cơ bản: cơ học, vật lý, hoá học, sinh học và xã hội. b.Không gian và thời gian
Dựa trên những thành tựu của khoa học và thực tiễn, chủ nghĩa duy vật biện
chứng đã khẳng định tính khách quan của không gian và thời gian, xem không gian và
thời gian là hình thức tồn tại của vật chất vận động. V.I. Lênin viết: “Trong thế giới
không có gì ngoài vật chất đang vận động và vật chất đang vận động không thể vận
động ở đâu ngoài không gian và thời gian”
Tính chất của không gian và sự biến đổi của nó bao giờ cũng gắn liền với tính
chất và sự biến đổi của thời gian và ngược lại. Do đó, không gian và thời gian, về thực
chất là một thể thống nhất không - thời gian. Vật chất có ba chiều không gian(chiều
cao, chiều dài, chiều rộng) và một chiều thời gian(quá khứ đến tương lai). Ngoài ra,
không gian và thời gian có những tính chất chung như tính chất của vật chất đó là tính
khách quan, tính vĩnh cửu, tính vô tận, vô hạn.
1.3. Tính thống nhất vật chất của thế giới
a.Tồn tại của thế giới là tiền đề cho sự thống nhất của thế giới
Trong quan niệm về sự thống nhất của thế giới phải lấy việc thừa nhận sự tồn
tại của nó làm tiền đề. Không thừa nhận sự tồn tại của thế giới thì không thể nói tới
việc nhận thức thế giới. Hình thức tồn tại của thế giới là hết sức đa dạng. Vì thế, tồn
tại của thế giới là tiền đề cho sự thống nhất của thế giới. Song, tính thống nhất của thế
giới không phải ở sự tồn tại của nó. Sự khác nhau về nguyên tắc giữa quan niệm duy
vật và quan niệm duy tâm không phải ở việc có thừa nhận hay không thừa nhận tính 11
thống nhất của thế giới, mà là ở chỗ chủ nghĩa duy vật cho rằng, cơ sở của sự thống
nhất của thể giới là ở tính vật chất của nó.
b.Thế giới thống nhất ở tính vật chất
Căn cứ vào đời sống thực tiễn và sự phát triển lâu dài của triết học và khoa học,
chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định bản chất của thế giới là vật chất, thế giới
thống nhất ở tỉnh vật chất. Điều đó được thể hiện ở những điểm cơ bản sau đây:
Chỉ một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế giới vật chất
tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức con người, được ý thức con người phản ánh.
Mọi bộ phận của thế giới có mối quan hệ vật chất thống nhất với nhau, biểu
hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là sản phẩm của vật
chất, cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan, phổ biến của thế giới vật chất.
Thế giới vật chất không do ai sinh ra và cũng không tự mất đi, nó tồn tại vĩnh
viễn, vô hạn và vô tận. Trong thế giới, các sự vật, hiện tượng luôn luôn vận
động, biến đổi không ngừng và chuyển hoá lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên
nhân và kết quả của nhau, về thực chất, đều là những quá trình vật chất. II. Ý THỨC
2.1.Nguồn gốc của ý thức
-Theo quan điểm duy vật biện chứng, nguồn gốc có từ tự nhiên và nguồn gốc
xã hội.Nguồn gốc tự nhiên của ý thức: Nguồn gốc tự nhiên của ý thức là bộ não của
con người và hoạt động của nó cùng với mối quan hệ giữa con người và thế giới
khách quan, trong đó, thế giới khách quan tác động đến bộ óc của con người, từ đó
tạo ra khả năng hình thành ý thức của con người về thế giới khách quan.
-Về bộ óc con người: Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao
là bộ óc của con người, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc. Bộ óc càng
hoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng có hiệu quả, ý thức của con
người càng phong phú và sâu sắc.
-Về mối quan hệ giữa con người và thế giới khách quan tạo ra quá trình phản
ánh năng động, sáng tạo: Quan hệ giữa con người với thế giới khách quan là quan hệ
tất yếu ngay từ khi con người xuất hiện. Trong mối quan hệ này, thế giới khách quan 12
được phản ánh thông qua hoạt động của các giác quan đã tác động nên bộ óc người,
và hình thành nên ý thức.
-Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất
khác trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng. Phản ánh là thuộc tính của
tất cả các dạng vật chất, song phản ánh được thể hiện dưới nhiều hình thức: phản ánh
vật lý, hóa học; phản ánh sinh học; phản ánh tâm lý và phản ánh năng động, sáng tạo.
-Nguồn gốc xã hội của ý thức: Có nhiều yếu tố cấu thành nguồn gốc xã hội của
ý thức nhưng trong đó cơ bản nhất và trực tiếp nhất là nhân tố lao động và ngôn ngữ.
-Lao động: lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới
tự nhiên nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người; là quá
trình trong đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi vật chất
giữa mình với giới tự nhiên. Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế
giới khách quan làm thế giới bộc lộ những quy luật của nó và biểu hiện thành những
hiện tượng nhất định mà con người có thể quan sát được. Những hiện tượng ấy, thông
qua hoạt động của các giác quan, tác động vào bộ óc của con người, tạo ra khả năng
hình thành nên những tri thức nói riêng và ý thức nói chung.
-Ngôn ngữ là tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức.
Không có ngôn ngữ ý thức không được tồn tại và thể hiện. Nhờ ngôn ngữ con người
đã không chỉ giao tiếp, trao đổi mà còn khái quát, tổng kết, truyền đạt kinh nghiệm, tư
tưởng, từ thế hệ này sang thế hệ khác, thông qua đó ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội và ngược lại.
2.2.Bản chất và kết cấu của ý thức
a. Bản chất của ý thức
-Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan của bộ óc con
người; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
-Tính năng động, sáng tạo của sự phản ánh ý thức được thể hiện ở khả năng
hoạt động tâm lý của con người trong việc định hướng tiếp nhận thông tin, xử lý, lưu
giữ và tạo ra những thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin mới được tiếp nhận.
-Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nghĩa là ý thức là hình
ảnh chủ quan của thế giới khách quan, hình ảnh ấy bị thế giới khách quan quy định cả 13
về nội dung và hình thức biểu hiện nhưng đã cải biến thông qua lăng kính chủ quan của con người.
-Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội. Sự ra đời và tồn tại
của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên
và xã hội, được quy định bởi nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện
thực của đời sống xã hội.
b. Kết cấu của ý thức
Ý thức có kết cấu cực kì phức tạp. Có nhiều ngành khoa học, có nhiều cách tiếp
cận, nghiên cứu về kết cấu của ý thức.
Theo cách tiếp cận các yếu tố cơ bản hợp nhất thành, ý thức bao gồm ba yếu tố
cơ bản là tri thức, tình cảm và ý thức, trong đó, tri thức là nhân tố quan trọng nhất.
-Tri thức là toàn bộ những sự hiểu biết của con người, là kết quả của quá trình
nhận thức, là sự tái tạo lại hình ảnh của đối tượng được nhận thức dưới dạng các loại
ngôn ngữ. Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức và là điều kiện để ý thức phát triển.
Căn cứ vào lĩnh vực nhận thức có thể chia ra thành nhiều loại tri thức về tự
nhiên, về con người và xã hội. Căn cứ vào trình độ phát triển của nhận thức, tri thức
có thể chia thành hai loại là tri thức đời thường và tri thức khoa học, tri thức kinh
nghiệm và tri thức lý luận, tri thức tình cảm và tri thức lý tính,…
-Tình cảm là những rung động biểu hiện thái độ của con người trong các quan
hệ. Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh hiện thực, được hình thành từ
sự khái quát những cảm xúc cụ thể của con người khi nhận sự tác động của ngoại cảnh.
Tùy vào từng đối tượng nhận thức và sự rung động của con người về đối tượng
đó trong các quan hệ mà từ đó hình thành nên các loại tình cảm khác nhau như tình
cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ,…
-Ý chí là biểu hiện sức mạnh bản than mỗi con người nhằm vượt qua những cản
trở trong quá trình thực hiện mục đích của nó. Ý chí được coi là mặt năng động của ý
thức, một biểu hiện của ý thức trong thực tiễn mà ở đó mà con người tự giác được
mục đích của hành động nên tự đấu tranh với mình và ngoại cảnh để thực hiện đến
cùng mục đích đã được chọn. 14
III. MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
3.1.Vai trò của vật chất đối với ý thức
Trong mối quan hệ với ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật
chất là nguồn gốc của ý thức, vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh được
về vật chất.Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người
nên chỉ khi có con người mới có ý thức.
Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật chất thì con người là kết quả
quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là sản phẩm của thế giới vật chất. Kết
luận này đã được chứng minh bởi sự phát triển hết sức lâu dài của khoa học về giới tự
nhiên; nó là một bằng chứng khoa học về giới tự nhiên; nó là một bằng chứng khoa
học chứng minh quan điểm: vật chất có trước, ý thức có sau.
Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức (bộ óc
con người, thế giới khách quan tác động đến bộ óc gây ra hiện tượng phản ánh, lao
động, ngôn ngữ), hoặc là chính bản thân thế giới vật chất (bộ óc người, hiện tượng
phản ánh, lao động, ngôn ngữ) đã khẳng định vật chất là nguồn gốc của ý thức.
Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật
chất nên nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất. Sự vận động và phát triển
của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị quy luật sinh học, các quy luật xã hội và
sự tác động của môi trường sống quyết định. Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật
chất nên vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu
hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức.
3.2.Vai trò của ý thức đối với vật chất
Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông
qua hoạt động thực tiễn của con người.
Vì ý thức là ý thức của con người nên nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai
trò của con người. Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện
thực. Muốn thay đổi hiện thực, con người phải tiến hành những hoạt động vật chất.
Song, mọi hoạt động của con người đều do ý thức chỉ đạo, nên vai trò của ý
thức không phải trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị cho con 15
người tri thức về thực tại khách quan, trên cơ sở ấy con người xác định mục tiêu, đề ra
phương hướng, xây dựng kế hoạch lựa chọn phương pháp, biện pháp,công cụ, phương
tiện... để thực hiện mục tiêu của mình. Ở đây, ý thức đã thể hiện sự tác động của mình
đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực
hoặc tiêu cực. Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách
mạng, có nghị lực, có ý chí hành động của con người phù hợp với các quy luật khách
quan, con người có năng lực vượt qua những thách thức trong quá trình thực hiện mục
đích của mình, thế giới được cải tạo - đó là sự tác động tích cực của ý thức; còn nếu ý
thức của con người phản ánh không đúng hiện thực khách quan,bản chất quy luật
khách quan, hành động ấy sẽ có tác dụng tiêu cực đối với hoạt động thực tiễn, đối với hiện thực khách quan.
Như vậy, bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, ý thức có thể
quyết định hành động của con người, hoạt động thực tiễn của con người đúng hay sai,
thành công hay thất bại, hiệu quả hay không hiệu quả.
Tìm hiểu về vật chất, về nguồn gốc, bản chất của ý thức, về vai trò của vật chất
của ý thức, quyết định nội dung và khả năng sáng tạo của ý thức, là điều kiện kiên
quyết để thực hiện ý thức, ý thức chỉ có khả năng tác động lại vật chất, sự tác động ấy
không phải tự thân mà phải thông qua hoạt động thực tiễn (hoạt động vật chất của con
người. Sức mạnh của ý thức trong sự tác động này phụ thuộc vào trình độ phản ánh
của ý thức, mức độ thâm nhập của ý thức vào những người hành động,trình độ tổ
chức của con người và những điều kiện vật chất, hoàn cảnh vật chất,trong đó con
người hành động theo định hướng của ý thức.
IV. NỘI DUNG BÀI HỌC TÔN TRỌNG KHÁCH QUAN VÀ ĐỔI MỚI TƯ DUY 4.1.Tư duy.
Tư duy của con người mang bản chất xã hội - lịch sử, có tính sáng tạo, có khả
năng khái quát và sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện. Tư duy con người được quy
định bởi các nguyên nhân, các yêu cầu của quá trình phát triển lịch sử - xã hội, chứ
không đừng lại ở mức độ tư duy bằng các thao tác chân tay hay bằng một chương
trình đã được lập sẵn. Có thể nói một cách khái quát, các nhà tâm lý học Mác - xít,
trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chúng, đã khẳng định: Tư duy là sản phẩm cao 16
cấp của một dạng vật chất hữu cơ có tổ chức cao, đó là bộ não của con người. Trong
quá trình phản ánh hiện thực khách quan bằng những khái niệm, phán đoán... tư duy
bao giờ cũng có mối liên hệ nhất định với một hình thức hoạt động của vật chất, với
sự hoạt động của não người. Trong khi xác đính sự giống nhau giữa tâm lý người và
động vật, các nhà tâm lý học Mác - xít cũng chỉ ra sự khác nhau căn bản giữa tư duy
của con người và hoạt động tâm lý động vật. Một trong chnhững khác nhau ấy là tư
duy con người sử dụng khái niệm để ghi lại những kết quả trừu tượng hoá, tư duy
được ra đời do lao động và trên cơ sở của sự phát triển xã hội. Thông qua hoạt động
thực tiễn, thế giới tự nhiên tác động vào các giác quan tạo ra cảm giác, tri giác và biểu
tượng là cơ sở ban đầu của tư duy. Tư duy khái quát những thu nhận của cảm giác
bằng những khái niệm và những phạm trù khoa học, mang lại cho chúng ta những
quan điểm rộng hơn, sâu hơn những cảm giác trực tiếp. Nhờ trừu tượng hoá mà tư
duy đã chỉ ra được những mối liên hệ, quan hệ của rất nhiều sự vật, hiện tượng, nêu ra
được những khái niệm, những phạm trù, những quy luật phản ánh các mối liên hệ,
quan hệ của rất nhiều sự vật, hiện tượng, nêu ra được những khái niệm, những phạm
trù, những quy luật phản ánh các mối liên hệ, quan hệ nội tại của các sự vật, hiện
tượng đó. Và chỉ có khái quát về lý luận mói cho phép tư duy của con người tìm ra
bản chất của các sự vật, hiện tượng và các quy luật phát triển của chúng.
Như vậy, tư duy trước hết là sự phản ánh ở trình độ cao bằng con đường khái
quát hoá, hướng sâu vào nhận thức bản chất, quy luật của đối tượng. Phản ánh ở đây
hiểu theo quan niệm của chủ nghĩa Mác là phản ánh biện chứng, "là một quá trình
phức tạp và mâu thuẫn của sự tác động qua lại giữa nhận thức cảm tính và nhận thức
lý tính, giữa hoạt động tư duy và hoạt động thực tiễn, như là một quá trình trong đó
con người không thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, mà tác động tới
nó, cải tạo nó và bắt nó phải phục tùng những mục đích của mình"(2). Đó là phản ánh
tâm lý, là sự phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính, các mối quan hệ, liên hệ bản
chất, quy luật vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng trong biện thực khách
quan(3). Theo V.I. Lê nin, tư duy là sự phản ánh thế giới tự nhiên sâu sắc hơn, trung
thành hơn, đầy đủ hơn, .đi sâu một cách vô hạn, tiến gần đến chân lý khách quan hơn.
"Tư duy của người ta - đi sâu một cách vô hạn, từ giả tưởng tới bản chất, từ bản chất
cấp một, nếu có thể như vậy, đến bản chất cấp hai... đến vô hạn"(4).
Tư duy là quá trình vận dụng các khái niệm, phạm trù theo những quy luật lôgíc
chặt chẽ nhằm đạt đến chân lý. Theo M.N. Sacđacôv "Khái niệm" là “sự hiểu biết
những dấu hiệu chung và bản chất của sự vật, hiện tượng của hiện thực"(5).
L.X.Vưgốtxki lại cho rằng “Khái niệm" xuất hiện khi hàng loạt các dấu hiệu đã được 17
trừu tượng hoá lại được tổng hợp, “sự tổng hợp trừu tượng trở thành hình thúc cơ bản
của tư duy nhờ đó người ta đạt được suy nghĩ về hiện thực bao quanh". Ông còn đi
sâu phân biệt hai dạng khái niệm thông thường và khái niệm khoa học. “Khi nói về
khái niệm thông thường, chúng ta cho rằng giao tiếp với môi trường xã hội rộng rãi và
thiếu hệ thống là chỉ báo cơ bản của điều kiện phát triển nguồn gốc của nó. Các quyết
định đối với khái niệm khoa học là chúng được lĩnh hội và phát triển dưới sự chỉ đạo
và giúp đỡ cuả giáo viên và tri thức ở đây được cung cấp cho trẻ em trong hệ thống
nhất định"(6). Ở đây, sự khác biệt mang tính quyết định của hai dạng khái tuệ không
phải trong nội dung khách quan của chúng mà ở phương pháp và con đường tiếp thu
nó. Như vậy, việc cung cấp và việc tiếp thu những tri thức những khái niệm khoa học
theo một hệ thống, theo những quy luật lôgíc, chặt chẽ không chỉ giúp trẻ mà ngay cả
chúng ta, những người lớn phát triển tư duy được tốt hơn.
Tư duy là quá trình sáng tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần. Theo C. Mác thì
cái tinh thần (ở đây, chúng ta cũng có thể hiểu đó chính là tư duy) chẳng qua là cái vật
chất được chuyển vào trong đầu và được cải tạo lại ở trong đó(7). Tư duy còn là quá
trình tiến tới cái mới, đề xuất những nhận thức mới, là quá trình không ngừng bổ sung
và đổi mới. Quy luật của tư duy thực chất là quy luật của sự phát triển và tìm tòi cái
mới. Vấn đề này được Rubinstêin cho rằng: Trong quá trình tư duy, khách thể được
tất cả nội dung mới, cứ mỗi lần lật đi, lật lại, nó lại được bộc lộ một khía cạnh mới, tất
cả các tính chất mới của nó được làm rõ. Một số tác giả khác lại cho rằng, trong quá
trình lập luận, tư duy đạt được những cứ liệu ngày càng mới, vượt ra ngoài phạm vi
các điều kiện ban đầu và khi sử dụng các điều kiện này, tư duy đi đến những kết luận
ngày càng mới, nhờ chủ đưa các đối tượng ở vị trí ban đầu vào trong các mối liên hệ
mới. Mỗi lần như vậy, tư duy tựa như lật ra một khía cạnh mới, phát hiện và rút ra hết
được các thuộc tính và quan hệ mới của chúng(8).
Như chúng ta đã biết, nét đặc trưng chung nhất trong phương thức tồn tại của
tâm lý người là tư duy với tư cách là một quá trình, một hoạt động. Tư duy với tư
cách là một quá trình được xuất phát từ tư tưởng chủ đạo của M. Xêtrênôv. Trong các
công trình nghiên cứu của mình, Xêtrênôv đã đưa ra luận điểm "cần phải lấy tư tưởng
cho rằng hành động tâm lý là một quá trình, một sự vận động tâm lý có mở đầu nào
đó, có diễn biến và kết thúc"(9). Từ đây, chúng ta có thể hiểu tư duy được phân chia
thành các khâu, các hoạt động. Mà trong các khâu này, mỗi một hành động tư duy sẽ
làm biến đổi mối quan hệ của chủ thể với khách thể, kích thích sự diễn biến của tình
huống có vấn đề đều kích thích sự chuyển biến tiếp theo của quá trình tư duy. Quá
trình tư duy chỉ diễn ra khi xuất hiện vấn đề, nhưng đòi hỏi chủ thể phải ý thức rõ 18
ràng được vấn đề và tiếp nhận nó như một mâu thuẫn cần phải hành động để giải
quyết. Theo X L. Rubinstêin, tư duy thường bắt đầu từ một vấn đề hay một câu hỏi, từ
sự ngạc nhiên, sự thắc mắc hay từ một mâu thuẫn nào đó lôi cuốn cá nhân vào hoạt
động tư duy. Những vấn đề đó được ông gọi là tình huống có vấn đề. Để một vấn đề
trở thành tình huống có vấn đề của tư duy, đòi hỏi chủ thể phải có nhu cầu, mong
muốn giải quyết vấn đề đó. Mặt khác, chủ thể cũng phải có tri thức cần thiết có liên
quan thì việc giải quyết vấn đề mới có thể diễn ra, quá trình tư duy mới được diễn ra.
Phân tích dưới góc độ lý luận tính hai mặt của quá trình tư duy thống nhất, tác
giả Nguyễn Bá Dương (10) đã đi đến nhận định: Quá trình tìm kiếm, phát minh cái
mới trong khoa học cũng giống như quá trình tái tạo lại kinh nghiệm của lịch sử - xã
hội loài người diễn ra dưới hình thức giải quyết các tình huống có vấn đề. Bản thân
mỗi kinh nghiệm lịch sử - xã hội luôn có tính tổng hợp chứa đựng bên trong nó. Điều
đó có nghĩa là, nó chính là sản phẩm có tính tổng hòa của hoạt động sáng tạo của xã
hội loài người. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn cơ bản của sự phát triển trí tuệ loài người
là ở chỗ "tư duy một mặt là một quá trình tìm kiếm và phát hiện ra cái mới, cái bản
chất, mặt khác nó còn là quá trình tái tạo lại những tri thức, những kinh nghiệm lịch
sử - xã hội đã được loài người tích luỹ". Chú thích:
1.X L. Rubinstêin, Cơ sở tâm lý học đại cương,, NXB Giáo dục, Mátxcơva, 1989, tập 1.
2. Từ điển Triết học, NXB Mátxcơva, 1975, tr. 430.
3. Đại học Quốc gia Hà Nội, Tâm lý học đại cương, NXB Giáo dục, 1996, tr.17.
4. V.I. Lê nin, Bút ký triết học, NXB Sự thật, Hà Nội, 1977.
5. M.N. Sacđacôv, Tư duy của học sinh, NXB Giáo dục, H., 1970, tr.43.
6. M.N. Sacđacôv, tư duy của học sinh, NXB Giáo dục, H., 1970, tr.43.
7. V.V. Đavưđôv, Các dạng khái quát hoá trong dạy học, NXB ĐHQG, H.,2000, tr.234, 244.
8. C. Mác, Tư bản, NXB Sự thật, H., 1971 , tập 1 , tr.33.
9. Tâm lý học Liên Xô, NXB Tiến bộ, M., 1978, tr. 282, 275.
10. Nguyễn Bá Dương, Quan niệm tâm lý học về dạy học nêu vấn đề trong tâm lý học
Xô - viết, Luận án PTS, 1983. 19
4.2.Nội dung bài học tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy:
Trên cơ sở quan điểm về bản chất vật chất của thế giới, bản chất năng động, sáng
tạo của ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, chủ nghĩa duy vật
biện chứng xây dựng nên một nguyên tắc phương pháp luận cơ bản , chung nhất đối
với mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người. Nguyên tắc đó là: Trong mọi
hoạt động nhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn
trọng khách quan đồng thời phát huy tính năng động chủ quan. Theo nguyên tắc
phương pháp luận này, mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người chỉ có thể
đúng đắn, thành công và có hiệu quả khi và chỉ khi thực hiện đồng thời giữa việc xuất
phát từ thực tế khách quan, tôn trọng thực tế khách quan với phát huy tính năng động
chủ quan; phát huy tính năng động chủ quan phải là trên cơ sở và trong phạm vi điều
kiện khách quan, chống chủ quan duy ý chí trong nhận thức và thực tiễn.
Tôn trọng khách quan là tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các quy luật
tự nhiên và xã hội, có thái độ tôn trọng đối với hiện thực khách quan mà căn bản là
tôn trọng quy luật, nhận thức và hành động theo quy luật; tôn trọng vai trò quyết định
của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần của con người, của xã hội. Điều này
đòi hỏi trong nhận thức và hành động con người phải xuất phát từ thực tế khách quan
để xác định mục đích, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch, biện pháp;
phải lấy thực tế khách quan lam cơ sở, phương tiện; phải tìm ra những nhân tố vật
chất, tổ chức những nhân tố ấy thành lực lượng vật chất để hành động. V.I. Lênin đã
nhiều lần nhấn mạnh không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách,
không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược cách mạng.
Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan, nếu lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng
thay cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí.
Có thể nói, tôn trọng thế giới khách quan trong hoạt động thực tiễn là đặc trưng
cơ bản của duy vật biện chứng và phân tích sự tồn tại thế giới theo các phạm trù, quy
luật là đặc trưng của phép biện chứng duy vật, và là phương pháp căn bản để chúng ta
xem xét triết học nói chung và bản thân triết học duy vật nói riêng. Chúng ta không
chỉ dùng triết học Mác – Lê nin để soi triết học khác, mà phải dùng triết học Mác – Lê
nin để soi chính triết học Mác – Lê nin để đưa triết học lên đến đỉnh cao khách quan.
Có như vậy chúng ta mới loại trừ được sự “năng động chủ quan” một cách quá khích,
lấn át cả thực tế khách quan. Đem cái chủ quan phủ nhận cái khách quan thì thật là sai
lầm. Chúng ta đón nhận những thành tựu của Mác và Ăngghen trong triết học duy vật