Học viên: Hoàng Thùy Dương
học viên: CHCQK31D2069
Lớp: CH31 B08 (Tài chính - Ngân hàng)
BÀI KIỂM TRA CHUYÊN ĐỀ THỰC TẾ:
QUẢN TÀI CHÍNH CÔNG
Câu hỏi: Phân cấp quản ngân sách giữa các cấp chính quyền địa
phương Thành phố Nội.
Bài làm:
I.1. Ngân sách Nhà nước:
Điều 4 Luật Ngân sách Nhà nước 2015 của Việt Nam quy định:
“Ngân sách nhà nước toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự
toán thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do quan nhà nước
thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nước.”
Thực chất, NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá
trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước
tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của
Nhà nước trên sở luật định. NSNN gồm ngân sách trung ương ngân sách địa
phương.
Ngân sách trung ương (NSTW) các khoản thu NSNN phân cấp cho cấp
trung ương hưởng các khoản chi NSNN thuộc nhiệm vụ chi của cấp trung ương.
Ngân sách trung ương gồm các đơn vị dự toán của các quan trung ương (Bộ,
quan ngang Bộ, quan trực thuộc Chính phủ. Tchức hội thuộc trung ương, tổ
chức đoàn thể trung ương,…).
Ngân sách địa phương (NSĐP) các khoản thu NSNN phân cấp cho cấp địa
phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương
các khoản chi NSNN thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương. Ngân sách địa phương
gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, trong đó:
(i) Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm ngân sách cấp
tỉnh ngân sách của các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc
thành phố trực thuộc trung ương;
1
STT
12
(ii) Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc
thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm ngân sách cấp huyện ngân sách của
các xã, phường, thị trấn;
(iii) Ngân sách các xã, phường, thị trấn.
I.2. Phân cấp quản NSNN:
Phân cấp quản NSNN việc phân chia phạm vi, trách nhiệm, quyền quyết
định quyền quản NSNN giữa các cấp chính quyền nhà nước nhằm giảm thiểu
sự cồng kềnh về bộ máy, chậm chễ về thời gian kém hiệu quả để Chính quyền
trung ương thể tập trung thực hiện các chức năng cốt lõi của các Chính
quyền địa phương được chia sẻ nhiều quyền lực, được chủ động hơn trong quá trình
xử những nhiệm vụ, công việc trong khả năng. Như vậy, phân cấp quản NSNN
không chỉ liên quan đến việc phân chia nguồn lực trách nhiệm chi tiêu giữa
trung ương địa phương còn hàm ý rằng cần sự sắp xếp lại cấu thể
chế của chính phủ, các mối quan hệ trách nhiệm giữa các cấp chính quyền khác
nhau, qua đó phân bổ các nguồn lực công một cách tối ưu giữa các cấp chính quyền.
Mục tiêu cốt lõi của phân cấp quản NSNN là nhằm đảm bảo các nguồn lực
tài chính quốc gia được huy động phân phối sử dụng một cách hiệu quả nhất,
đồng thời, đảm bảo tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động khai thác, sử dụng vốn
NSNN, sự hài hòa về quyền lực trong quản lý kinh tế - hội quản ngân sách
của các cấp chính quyền.
Việc phân cấp quản ngân sách nhà nước phải đáp ứng các yêu cầu về tuân
thủ các quy định về pháp luật ngân sách, về hiệu quả kinh tế, về hiệu quả hội
cũng như hiệu quả chính trị, nâng cao uy tín, củng cố vững chắc vai trò của các
quan chính quyền trước người dân.
Nội dung của phân cấp quản NSNN bao gồm: Phân chia nguồn thu giữa các
cấp ngân sách; Giao nhiệm vụ chi cho các cấp; Các khoản bổ sung từ ngân sách cấp
trên cho ngân sách cấp ới; Vay nợ của chính quyền địa phương; Vấn đề trao
quyền tự chủ cho các đơn vị sử dụng vốn NSNN. Theo đó, mỗi cấp chính quyền
được phân chia trách nhiệm quyền hạn, nghĩa vụ lợi ích trong việc quyết
định các nội dung chủ yếu của NSNN thu, chi, lập, chấp hành, kế toán quyết
toán NSNN.
Về mặt nguyên tắc, phân cấp quản ngân sách phải đảm bảo các nguyên tắc
sau:
a. Phân cấp quản Ngân sách phải phù hợp đồng bộ với phân cấp tổ
chức bộ máy chính quyền nhà nước
2
Quá trình phân cấp quản NSNN nói chung, Ngân sách địa phương nói riêng
cần phải chú ý đến quan hệ giữa quản theo ngành với quản theo lãnh thổ. Kết
hợp giữa quản theo ngành với quản lý theo lãnh thổ một trong những nguyên
tắc quan trọng trong quản nhà nước về kinh tế - hội các quốc gia. Cần phải
chú ý tôn trọng nguyên tắc này để phân bổ ngân sách cho các ngành, các địa phương
phù hợp với chính sách phân cấp quản nhà nước.
b. Mỗi cấp quan địa phương được phân cấp nguồn thu nhiệm vụ chi
cụ thể
Vấn đề bản được tất cả các cấp chính quyền quan tâm nhất trong phân
cấp quản NSNN nguồn thu, nhiệm vụ chi.Vì vậy, Luật NSNN của các nước đều
quy định cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi của NSTW NSĐP. Nhiệm vụ chi thuộc
ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; việc ban hành thực hiện chính
sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải giải pháp bảo đảm nguồn tài chính
phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp; việc quyết định đầu tư các
chương trình, dự án sử dụng vốn ngân sách phải bảo đảm trong phạm vi ngân sách
theo phân cấp.
c. Đảm bảo vai tchủ đạo của ngân sách cấp tỉnh, thành phố tính chủ
động của ngân sách các cấp dưới
Vai trò chủ đạo của Ngân sách cấp thành phố thể hiện chỗ: Nguồn lực chủ
yếu đã được phân cấp cho địa phương được đưa vào Ngân sách cấp tỉnh để thực hiện
những nhiệm vụ trọng yếu của tỉnh; Ngân sách cấp tỉnh trung tâm điều hòa của
NSĐP (bao gồm cấp tỉnh các cấp bên dưới). Để phát huy sự chủ động của CQĐP,
cũng không thể tập trung quyền hạn ngân sách quá mức vào cấp tỉnh, cần phải phân
cấp nguồn thu đảm bảo cho cấp dưới chủ động thực hiện nhiệm vụ chi được giao.
d. Phân cấp quản ngân sách phải phù hợp với phân cấp quản kinh tế -
hội trình độ quản của chính quyền nhà nước các cấp
Sự phân cấp về quản kinh tế - hội cho các cấp chính quyền đòi hỏi phải
quyền tự quản tương ứng về tài chính để thực hiện những quyền tự quản về kinh
tế - hội. Phân cấp quản kinh tế - hội tiền đề, điều kiện quyết định phân
cấp quản ngân sách ngược lại, nếu phân cấp quản ngân sách phù hợp với
phân cấp quản kinh tế - hội, sẽ giúp các cấp chính quyền thực hiện tốt các
nhiệm vụ kinh tế - hội được giao. vậy, phân cấp quản ngân sách cần phù
hợp với năng lực quản của các cấp chính quyền, bao gồm năng lực về quản lý,
phát triển nguồn thu thực hiện các nhiệm vụ chi ngân sách. Điều đó sẽ phát huy
3
lợi ích của phân cấp quản ngân sách, nâng cao hiệu quả phân bổ sử dụng ngân
sách.
e. Đảm bảo tính hiệu quả
Nguyên tắc về nh hiệu quả trong phân cấp quản NSNN bao hàm hai nội
dung bản tính hiệu quả kinh tế tính hiệu suất. Tính hiệu quả kinh tế đòi hỏi
phải đạt được kết quả cụ thể với đầu vào nguồn ngân sách nhỏ nhất. Tính hiệu
suất yêu cầu đạt được kết quả tốt nhất thể với nguồn ngân sách đầu vào đã xác
định trước.
f. Đảm bảo tính công bằng
NSNN được từ sự đóng góp của người dân trên cả nước thông qua các
phương thức khác nhau. Do đó, thể các khoản đóng góp của người dân nơi này
đôi khi lại được Nhà nước thu về một nơi khác, dẫn đến việc nguồn thu phát sinh
chỉ một địa phương nào đó. thế, chưa chắc đã phản ánh đúng mức độ đóng
góp của địa phương đó cho Nhà nước. Việc phân cấp nguồn thu nhiệm vụ chi
NSNN giữa trung ương địa phương công cụ chủ yếu để thực hiện việc điều hoà
trong toàn bộ hệ thống NSNN. Nhà nước đóng vai trò người điều phối thông qua
NSTW bằng phương thức bổ sung ngân sách. Bổ sung ngân sách thể bổ sung
để cân đối ngân sách hoặc bổ sung ngân sách mục tiêu. Quy định này cho phép
điều tiết các nguồn lực giữa các địa phương để tạo điều kiện cùng nhau phát triển.
Bên cạnh đó, giữa các địa phương những đặc điểm tự nhiên, hội, trình độ phát
triển kinh tế khác nhau, việc áp dụng giản đơn về phân cấp quản NSNN theo kiểu
“cào bằng” như nhau cho tất cả các địa phương rất thể sẽ dẫn tới những bất công
bằng, tạo ra khoảng cách chênh lệch ngày càng lớn về điều kiện phát triển giữa các
địa phương.
g. Đảm bảo tăng cường hiệu lực quản lý, kiểm soát NSNN
Bất kỳ hệ thống NSNN nào cũng cần phải giảm thiểu những thất thoát thể
xảy ra sau khi thực hiện phân cấp quản NSNN. Để đảm bảo tăng cường hiệu lực
quản lý, kiểm soát NSNN thì cần xây dựng một thiết chế kiểm soát NSNN mức
độ độc lập cũng như thẩm quyền xử các vi phạm trong quản ngân sách.
Thiết chế này cho phép ngăn ngừa sai phạm trong các quyết định về ngân sách của
các cấp chính quyền cũng như phát hiện các vi phạm dẫn đến lãng phí, tham nhũng
trong quá trình quản sử dụng NSNN.
II. Thực trạng phân cấp quản Ngân sách nhà nước tại Thành phố
Nội trong thời gian qua:
II.1 Thực trạng:
4
Kịp thời triển khai đồng bộ hiệu quả Luật NSNN năm 2015, hiệu lực
từ năm 2017, HĐND Tp. Nội đã ban hành Nghị quyết số 13/2016/NQ-HĐND
ngày 05/12/2016 về Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách; tỷ lệ
phần trăm phân chia nguồn thu giữa các cấp ngân sách định mức phân bổ chi
ngân sách thành phố Nội giai đoạn 2017-2020 để chính quyền các cấp sở
định hướng triển khai các hoạt động liên quan cụ thể. Trên thực tế, do ảnh hưởng
của dịch Covid-19, Nghị quyết này được kéo dài thời gian thực hiện đến hết năm
2021 mới được thay thế bằng Nghị quyết số 11/2021/NQ-HĐND ngày 08/12/2021
về Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách, định mức phân bổ
ngân sách của thành phố Nội.
Kết quả trên thực tế về thu, chi ngân sách đạt được trong quá trình triển khai
các năm kể từ khi Luật NSNN năm 2015 các Nghị quyết liên quan của HĐND
Tp. Nội đi vào đời sống cụ thể như sau:
Năm 2017, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Tp. Nội đạt 207.628
tỷ đồng, bằng 101,4% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao, tăng 15,8% so với
thực hiện năm 2016, trong đó, thu nội địa đạt 187.640 tỷ đồng, bằng 101% dự toán,
tăng 16,2% so với cùng kỳ. Chi ngân sách địa phương năm 2017 thực hiện 77.262 tỷ
đồng, chi đầu tư phát triển 33.106 tỷ đồng, đạt 101,2% dự toán, chi xây dựng bản
đạt 100,4% dự toán (tăng so với dự toán đầu năm 2017 do bổ sung chi từ nguồn tăng
thu, kết ngân sách địa phương). Nội triển khai đồng bộ các giải pháp thu ngân
sách tạo nguồn thu bền vững, chỉ đạo các đơn vị thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chi
ngân sách các cấp. Thành phố cũng đơn vị đầu tiên của cả nước triển khai thực
hiện mua sắm tài sản nhà nước theo phương thức tập trung, thí điểm khoán xe công
tại 8 quan, đơn vị của thành phố.
Năm 2018, tổng thu ngân sách nhà nước của Tp. Nội 244.374 tỷ đồng,
đạt 102,52% dự toán. Trong đó, thu nội địa được 226.795 tỷ đồng, đạt 103,9% dự
toán; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 17.579 tỷ đồng. Thu điều tiết ngân sách
địa phương đạt 99.807 tỷ đồng, đạt 106,4% dự toán; thu điều tiết ngân sách trung
ương đạt 144.566 tđồng, đạt 100% dự toán. Nhiệm vụ thu ngân sách trên địa bàn
Nội đã hoàn thành toàn diện, vượt trên 6 nghìn tỷ so với kế hoạch Trung ương
giao. Số chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Nội 250.158 tỷ đồng.
Trong đó, chi ngân sách trung ương 60.509 tỷ đồng; chi ngân sách địa phương
60.952 tỷ đồng. Kết quả giải ngân vốn đầu công năm 2018 của TP Nội đạt
70,6%.
Năm 2019, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 270.019 tỷ đồng, đạt
102,6% dự toán giao, tăng 7,9% so với năm 2018. Trong đó: Thu thoạt động xuất,
5
nhập khẩu: 18.934 tỷ đồng; Thu từ dầu thô: 3.305 tỷ đồng; Thu nội địa 247.765 tỷ
đồng.
Tổng chi ngân sách địa phương: 152.907 tỷ đồng, trong đó:
+ Chi cân đối ngân sách địa phương: 79.706 tỷ đồng, đạt 79,8% dự toán sau
điều chỉnh, bổ sung. Trong đó: Chi đầu xây dựng bản địa phương: 31.715 tỷ
đồng; Chi thường xuyên: 46.182 tỷ đồng.
+ Chi chuyển nguồn: Tổng số chi chuyển nguồn ngân sách địa phương năm
2019 sang năm 2020 73.201 tỷ đồng; Trong đó: Chuyển nguồn ngân sách cấp
Thành phố: 39.589; Chuyển nguồn của ngân sách cấp quận, huyện, thị xã:
phường, thị trấn: 33.612 tỷ đồng.
Năm 2020, tổng thu NSNN trên địa bàn Thủ đô đạt 287.572 tỷ đồng, đạt
103% so với dự toán giao. Trong đó: Thu nội địa 266.748 tỷ đồng; Thu từ hoạt
động xuất, nhập khẩu: 18.704 tỷ đồng; Thu từ dầu thô: 2.089 tỷ đồng. Tổng chi ngân
sách nhà nước 172.237 tỷ đồng, trong đó: chi đầu phát triển đạt 42.591 tỷ đồng,
chi thường xuyên đạt 45.000 tỷ đồng, chi chuyển nguồn 80.334 tỷ đồng.
Năm 2021, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 324.133 tỷ đồng,
trong đó: thu nội địa đạt 299.550 tỷ đồng, thu từ hoạt động XNK 22.576 tỷ đồng, thu
từ dầu thô 1.973 tỷ đồng. Tổng chi ngân sách nhà nước 196.382 tỷ đồng, trong đó:
chi thường xuyên 46.901 tỷ đồng, chi đầu phát triển 37.638 tđồng chi chuyển
nguồn 111.809 tỷ đồng.
Về tình hình giải ngân vốn đầu công năm 2021, tính đến thời điểm trên,
giải ngân qua Kho bạc Nhà nước Nội 60.713 tỷ đồng không bao gồm phần giải
ngân qua Quỹ Đầu phát triển ghi thu chi nguồn tiền sử dụng đất đối ứng cho
các dự án xây dựng chuyển giao (BT), giải ngân 35.444 tỷ đồng, đạt 58,4% kế hoạch
vốn giao. Trong số đó, vốn ngân sách địa phương đạt 61,2% kế hoạch thành phố
giao 68,6% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Giải ngân vốn đầu công năm
2020 kéo dài đạt 73,7% kế hoạch vốn giao.
Năm 2022, tổng thu ngân sách trên địa bàn thành phố Nội 332.089 tỷ
đồng, đạt 106,6% dự toán. Trong đó, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu phát sinh trên
địa bàn 26.272 tỷ đồng, đạt 120% dự toán, bằng 116,4% so với cùng kỳ; thu tdầu
thô 2.900 tỷ đồng, đạt 263,6% dự toán, bằng 147,0% so với cùng kỳ; thu nội địa
302.917 tỷ đồng, đạt 104,9% dự toán, bằng 101,1% so với cùng kỳ.
Đối với chi ngân sách địa phương của Nội 83.731 tỷ đồng, đạt 78,3% dự
toán đầu năm, bằng 99% so với cùng kỳ, trong đó chi đầu phát triển 39.608 tỷ
đồng, đạt 77,6% dự toán, bằng 105,2% so với cùng kỳ; chi thường xuyên 43.752
tỷ đồng, đạt 82,1% dự toán, bằng 93,3% so với cùng kỳ.
6
II.2 Kết quả đạt được:
Kết quả nổi bật đạt được từ việc thực hiện các Nghị quyết liên quan của
HĐND Tp. Nội nhằm triển khai Luật NSNN năm 2015 trên địa bàn TP. Nội
cụ thể như sau:
Thứ nhất, đã đảm bảo các quy định pháp luật, phù hợp với phân cấp quản
kinh tế - hội của Thành phố, tạo động lực phát triển kinh tế xây dựng bộ máy
chính quyền các cấp; tạo tính đồng bộ trong quản điều hành ngân sách trên địa
bàn Thành phố.
Thứ hai, tạo điều kiện nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp chính quyền
sở; Quy định trách nhiệm quyền hạn để các cấp chủ động tự chịu trách
nhiệm; Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành
chính nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản nhà nước về lĩnh vực tài chính - ngân
sách.
Thứ ba, phân cấp tối đa nguồn thu cho quận, huyện, thị xã, góp phần nâng cao
tính năng động của chính quyền cấp huyện, cấp trong quản lý, khai thác các
nguồn thu trên địa bàn; Chủ động trong việc sử dụng nguồn lực ngân sách đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ chi của sở; Đảm bảo nguyên tắc khoản thu nào gắn với quận,
huyện, thị quản phân cấp, điều tiết cho quận, huyện, thị hưởng. Cụ thể,
Thành phố đã phân cấp tối đa số thu về quận, huyện, thị đối với nguồn thu từ khu
vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh, lệ phí trước bạ, thuế sử dụng đất phi nông
nghiệp, thuế thu nhập nhân, tiền thuê mặt đất mặt nước, tiền sử dụng đất, các loại
phí, lệ phí quận huyện thị quản lý.
Thứ , thu ngân sách địa phương đã đáp ứng các nhiệm vụ chi, đảm bảo hoạt
động thường xuyên của các cấp, các ngành, các chính sách an sinh hội, phát triển
giáo dục, y tế, văn hóa, hội, giữ vững an ninh quốc phòng trật tự an toàn hội
của địa phương.
Thứ năm, việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi đã góp phần khuyến khích
các quận, huyện, thị trên địa bàn Thành phố tăng cường công tác quản lý, khai
thác nguồn thu; đồng thời, nâng cao tính chủ động trong thực hiện các nhiệm vụ phát
triển kinh tế - hội. Nhờ đó, số quận, huyện tự đảm bảo cân đối ngân sách trong
giai đoạn này được nâng lên 10 đơn vị (các quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa,
Hai Trưng, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Nam Từ Liêm, Tây Hồ, Hoàng Mai Long
Biên), tăng 03 đơn vị (các quận Tây Hồ, Hoàng Mai Long Biên) so với giai đoạn
2013-2016. Bên cạnh đó xu ớng giảm tỷ lệ % phân chia các khoản thu thuế,
phí, lệ phí giữa ngân sách thành phố ngân sách quận huyện trong giai đoạn này so
với giai đoạn 2013-2016. Theo đó, 07 đơn vị tự đảm bảo cân đối ngân sách từ giai
7
đoạn 2013-2016 tỷ lệ chia sẻ được giảm từ các mức 16-18% (cá biệt tỷ lệ này của
quận Ba Đình 12%) về mức 11% (riêng quận Đống Đa còn giảm hẳn về 10%); 03
đơn vị tự đảm bảo cân đối ngân sách tăng thêm trong giai đoạn này các quận Tây
Hồ, Hoàng Mai Long Biên tỷ lệ chia sẻ được điều chỉnh từ mức 42% lần lượt về
các mức 32%, 28% 21%; thị Sơn Tây điều chỉnh từ tỷ lệ 50% về 35% các
quận, huyện, thị còn lại điều chỉnh từ tỷ lệ 42% về 35%.
II.3 Một số hạn chế:
Thứ nhất, phân cấp quản ngân sách của Thành phố đã được sửa đổi, cải
thiện nhưng đôi chỗ vẫn còn chồng chéo, chưa đồng bộ với phân cấp quản kinh tế
trên địa bàn. Trong quá trình thực hiện, sửa đổi bổ sung nội dung phân cấp quản
giữa thành phố các quận huyện, một số lĩnh vực vẫn chưa đáp ng đòi hỏi của
thực tiễn, bộc lộ hạn chế, bất hợp lý. Nguyên nhân trong một số trường hợp xuất
phát từ việc một số nội dung phân cấp quản kinh tế - hội chưa thực sự phù hợp,
gây nên bất cập đối với việc phân cấp quản ngân sách. Bên cạnh đó cũng
trường hợp phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi đã không theo kịp sự phát triển của
phân cấp về quản kinh tế hội, dẫn tới thiếu đồng bộ làm cho địa phương không
đủ nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ kinh tế - hội được giao.
Thứ hai, phân cấp nguồn thu cho các quận, huyện thị mức thấp; các
khoản thu được phân cấp chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chi, ngân sách thành
phố phải bổ sung mức cao cho ngân sách các quận, huyện thị xã. Hiện nay,
ngoài 10 đơn vị hành chính cấp huyện tự cân đối được thu, chi ngân sách như đã nêu
trên (chiếm khoảng 1/3 số đơn vị hành chính cấp huyện), các đơn vị hành chính cấp
huyện còn lại hầu hết đơn vị hành chính cấp chưa tự cân đối được thu, chi
ngân sách. Các huyện Gia Lâm, Hoài Đức, Đan Phượng, Đông Anh Thanh Tđã
được Tp. Nội quyết định phê duyệt đề án đến năm 2025 nâng cấp lên quận cũng
nằm trong số này, còn khoảng cách tương đối với tiêu chí tự cân đối thu, chi ngân
sách không đủ nguồn lực nội tại để hoàn thành tiêu chí lên quận. Với các quy
định về phân cấp nguồn thu hiện nay, các huyện chưa tự cân đối được thu chi ngân
sách không đủ nguồn lực phát triển hoàn thành các tiêu chí lên quận.
Thứ ba, phân cấp về quy trình quản NSĐP chưa khắc phục được tính lồng
ghép ngân sách các cấp chính quyền. Hệ thống ngân sách nước ta hiện nay mang
tính lồng ghép, giữa ngân sách trung ương với ngân sách địa phương, trong ngân
sách địa phương lại lồng ghép ngân sách các cấp chính quyền. Do đó dẫn đến tình
trạng trùng lắp, chồng chéo về thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp ngân sách; hạn
chế tính độc lập của từng cấp ngân sách; làm cho quy trình ngân sách phức tạp
8
kéo dài. Việc lập dự toán, tổng hợp dự toán cũng như quyết toán mỗi cấp bị lệ
thuộc vào cấp dưới việc quyết định dự toán cấp dưới mang tính hình thức
phụ thuộc vào quyết định dự toán của cấp trên.
Thứ , phân cấp nguồn thu tiền sử dụng đất chưa hợp lý. Nguồn thu tiền sử
dụng đất theo phân cấp hiện nay, toàn bộ các huyện Thị Sơn Tây được hưởng
100% tiền sử dụng đất đối với đất đấu giá trên 5.000 m dưới 5.000 m tiếp giáp
2 2
đường phố, đất xen kẹt; các quận được hưởng tỷ lệ 30% đối với dự án đấu giá; các
dự án giao đất các quận, huyện, thị được hưởng theo tỷ lệ từ 30 - 60%. Tuy nhiên,
việc chia quy các dự án đất đấu giá như đã nêu trên hiện nay thể tạo kẽ hở cho
việc chia nhỏ các dự án thành đất dưới 5.000m để ngân sách các quận, huyện hưởng
2
100%. Thực tế ngân sách Thành phố các năm qua đều hụt thu tiền sử dụng đất, trong
khi các quận, huyện đều vượt thu tiền sử dụng đất. Hơn nữa, đến nay, bản các
huyện, thị hoàn thành xây dựng nông thôn mới, tiếp theo chỉ thực hiện nhiệm vụ
duy trì nâng cao các tiêu chí nên nhu cầu kinh phí đầu sẽ ít hơn. Do vậy, việc
phân cấp nguồn thu tiền sử dụng đất cần được điều chỉnh phù hợp.
Thứ năm, về phân cấp về nhiệm vụ chi.
Trong quá trình tổ chức thực hiện quy định về phân cấp nhiệm vụ chi,
trường hợp một số nội dung chi trên địa bàn các quận, huyện, thị nhưng thuộc
nhiệm vụ chi của cấp Thành phố nên phải phản ánh lên cấp Thành phố để triển khai
thực hiện chưa giải quyết nhanh chóng các kiến nghị của cử tri nhân dân. Mặt
khác, một số nhiệm vụ chi của cấp huyện, cấp nhưng các quận, huyện, thị chưa
chủ động cân đối, bố tngân sách để giải quyết còn đề xuất ngân sách Thành phố
hỗ trợ. Tình trạng trên đã ảnh hưởng đến công tác lập dự toán ngân sách hàng năm
trung hạn của Thành phố.
Bên cạnh đó, khi phát sinh một số nội dung, lĩnh vực do sự thay đổi chính
sách từ trung ương, phân cấp quản kinh tế hội một số lĩnh vực trên địa bàn
Thành phố thay đổi. Tuy nhiên, do tỷ lệ điều tiết thực hiện ổn định trong cả giai
đoạn nên chưa thực hiện điều chỉnh nhiệm vụ chi đang điều hành kinh phí giữa
các cấp ngân sách khi HĐND Thành phố quyết nghị phân bổ dự toán.
Ngoài ra, một số nội dung phân cấp quản kinh tế - hội chưa thực sự phù
hợp như: Đối với lĩnh vực duy trì chiếu sáng, thoát nước các khu đô thị, thị trấn
thuộc thành phố quản lý... dẫn đến chưa đáp ứng việc duy tu, sửa chữa khi gặp sự cố.
Thứ sáu, phân cấp quản NSNN còn tình trạng không thực hiện triệt để việc
khoán biên chế kinh phí quản hành chính. Khi thực hiện chế tự chủ về biên
chế tài chính, các quan, đơn vị chưa chủ động gắn tự chủ về tài chính với tinh
giản biên chế, tinh giản bộ máy, chưa xây dựng cụ thể phân định ràng cấu
9
cán bộ, chức danh, tiêu chuẩn từng chức danh, nhiệm vụ đảm nhiệm, quyền hạn
trách nhiệm. Việc xây dựng Đề án vị trí việc làm tại các quan, đơn vị hành chính
mang tính hình thức, chưa mang lại hiệu quả thực sự trong việc sử dụng lao động;
các đơn vị sự nghiệp công lập liên tục nhận lao động hợp đồng với số lượng lớn,
ngân sách hàng năm phải bố trí tăng kinh phí cho trả lương lao động; việc triển khai
các dịch vụ đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cho các doanh nghiệp công ích còn
chậm. Trong khi ngân sách của thành phố còn hạn hẹp, cấu chi cho con người
chiếm tỷ trọng cao, dẫn đến các quan, đơn vị không còn nguồn lực để tái đầu
trang thiết bị tăng thu nhập cho người lao động.
III. Một số giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới:
Nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế, nâng cao công tác quản lý, thu chi
NSNN trên địa bàn, trong thời gian tới, Tp. Nội cần quan tâm triển khai một số
nội dung sau:
Một , phân cấp nguồn thu đúng quy định, bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân
sách cấp Thành phố sự độc lập, chủ động tương đối của chính quyền các cấp địa
phương. Xác định cấu phù hợp giữa phần thu giành cho ngân sách cấp tỉnh
phần thu giành cho ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã, sao cho ngân sách cấp
Thành phố luôn trạng thái thặng dư, ngân sách các quận đạt được cân đối thu
chi, còn ngân sách các huyện, thị chỉ thiếu hụt mức vừa phải.
Hai , đối với các huyện đã được Thành phố phê duyệt Đề án lên quận, nên
xem xét tăng cường phân cấp cho các huyện được hưởng tối đa số thu phát sinh trên
địa bàn để tạo nguồn lực đầu tư, phát triển đột phá.
Ba , các khoản thu tiền sử dụng đất cần tập trung phân cấp nhiều hơn ngân
sách cấp Thành phố để đảm bảo vai trò chủ đạo nguồn lực dành cho các dự án
đầu lớn trên địa bàn như: đường sắt đô thị, các dự án hạ tầng khung, nhà máy xử
rác thải sử dụng công nghệ hiện đại...
Bốn , việc phân cấp nhiệm vụ chi đầu phát triển cho ngân sách các cấp
địa phương cần cụ thể, ràng ổn định; đồng thời, thực hiện đồng bộ việc xây
dựng định mức phân bổ vốn đảm bảo cân đối thu, chi ngân sách, trong đó:
Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp tỉnh gồm: Các dự án tính chuyên ngành
cao, quy lớn, các dự án (công trình) liên quan tới quy hoạch vùng, các dự án
liên quan đến nhiều huyện thị, các dự án phải đảm bảo tính đồng bộ… Trong đó,
thực hiện ưu tiên bố trí các dự án theo mục tiêu, cấu đầu thuộc kế hoạch tài
10

Preview text:

Học viên: Hoàng Thùy Dương STT Mã học viên: CHCQK31D2069 12
Lớp: CH31 – B08 (Tài chính - Ngân hàng)
BÀI KIỂM TRA CHUYÊN ĐỀ THỰC TẾ: QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG
Câu hỏi: Phân cấp quản lý ngân sách giữa các cấp chính quyền địa
phương ở Thành phố Hà Nội. Bài làm: I.
Ngân sách nhà nước (NSNN) và phân cấp quản lý NSNN: I.1. Ngân sách Nhà nước:
Điều 4 Luật Ngân sách Nhà nước 2015 của Việt Nam quy định:
“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự
toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.”
Thực chất, NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá
trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước
tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của
Nhà nước trên cơ sở luật định. NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
Ngân sách trung ương (NSTW) là các khoản thu NSNN phân cấp cho cấp
trung ương hưởng và các khoản chi NSNN thuộc nhiệm vụ chi của cấp trung ương.
Ngân sách trung ương gồm các đơn vị dự toán của các cơ quan trung ương (Bộ, cơ
quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ. Tổ chức xã hội thuộc trung ương, tổ
chức đoàn thể trung ương,…).
Ngân sách địa phương (NSĐP) là các khoản thu NSNN phân cấp cho cấp địa
phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương và
các khoản chi NSNN thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương. Ngân sách địa phương
gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, trong đó:
(i) Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm ngân sách cấp
tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc
thành phố trực thuộc trung ương; 1
(ii) Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc
thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách của
các xã, phường, thị trấn;
(iii) Ngân sách các xã, phường, thị trấn.
I.2. Phân cấp quản lý NSNN:
Phân cấp quản lý NSNN là việc phân chia phạm vi, trách nhiệm, quyền quyết
định và quyền quản lý NSNN giữa các cấp chính quyền nhà nước nhằm giảm thiểu
sự cồng kềnh về bộ máy, chậm chễ về thời gian và kém hiệu quả để Chính quyền
trung ương có thể tập trung thực hiện các chức năng cốt lõi của nó và các Chính
quyền địa phương được chia sẻ nhiều quyền lực, được chủ động hơn trong quá trình
xử lý những nhiệm vụ, công việc trong khả năng. Như vậy, phân cấp quản lý NSNN
không chỉ có liên quan đến việc phân chia nguồn lực và trách nhiệm chi tiêu giữa
trung ương và địa phương mà nó còn hàm ý rằng cần có sự sắp xếp lại cơ cấu thể
chế của chính phủ, các mối quan hệ và trách nhiệm giữa các cấp chính quyền khác
nhau, qua đó phân bổ các nguồn lực công một cách tối ưu giữa các cấp chính quyền.
Mục tiêu cốt lõi của phân cấp quản lý NSNN là nhằm đảm bảo các nguồn lực
tài chính quốc gia được huy động và phân phối sử dụng một cách hiệu quả nhất,
đồng thời, đảm bảo tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động khai thác, sử dụng vốn
NSNN, sự hài hòa về quyền lực trong quản lý kinh tế - xã hội và quản lý ngân sách
của các cấp chính quyền.
Việc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước phải đáp ứng các yêu cầu về tuân
thủ các quy định về pháp luật ngân sách, về hiệu quả kinh tế, về hiệu quả xã hội
cũng như hiệu quả chính trị, nâng cao uy tín, củng cố vững chắc vai trò của các cơ
quan chính quyền trước người dân.
Nội dung của phân cấp quản lý NSNN bao gồm: Phân chia nguồn thu giữa các
cấp ngân sách; Giao nhiệm vụ chi cho các cấp; Các khoản bổ sung từ ngân sách cấp
trên cho ngân sách cấp dưới; Vay nợ của chính quyền địa phương; Vấn đề trao
quyền tự chủ cho các đơn vị sử dụng vốn NSNN. Theo đó, mỗi cấp chính quyền
được phân chia rõ trách nhiệm và quyền hạn, nghĩa vụ và lợi ích trong việc quyết
định các nội dung chủ yếu của NSNN là thu, chi, lập, chấp hành, kế toán và quyết toán NSNN.
Về mặt nguyên tắc, phân cấp quản lý ngân sách phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
a. Phân cấp quản lý Ngân sách phải phù hợp và đồng bộ với phân cấp tổ
chức bộ máy chính quyền nhà nước 2
Quá trình phân cấp quản lý NSNN nói chung, Ngân sách địa phương nói riêng
cần phải chú ý đến quan hệ giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ. Kết
hợp giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ là một trong những nguyên
tắc quan trọng trong quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội ở các quốc gia. Cần phải
chú ý tôn trọng nguyên tắc này để phân bổ ngân sách cho các ngành, các địa phương
phù hợp với chính sách phân cấp quản lý nhà nước.
b. Mỗi cấp Cơ quan địa phương được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể
Vấn đề cơ bản và được tất cả các cấp chính quyền quan tâm nhất trong phân
cấp quản lý NSNN là nguồn thu, nhiệm vụ chi.Vì vậy, Luật NSNN của các nước đều
quy định cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi của NSTW và NSĐP. Nhiệm vụ chi thuộc
ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; việc ban hành và thực hiện chính
sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính
phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp; việc quyết định đầu tư các
chương trình, dự án sử dụng vốn ngân sách phải bảo đảm trong phạm vi ngân sách theo phân cấp.
c. Đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách cấp tỉnh, thành phố và tính chủ
động của ngân sách các cấp dưới
Vai trò chủ đạo của Ngân sách cấp thành phố thể hiện ở chỗ: Nguồn lực chủ
yếu đã được phân cấp cho địa phương được đưa vào Ngân sách cấp tỉnh để thực hiện
những nhiệm vụ trọng yếu của tỉnh; Ngân sách cấp tỉnh là trung tâm điều hòa của
NSĐP (bao gồm cấp tỉnh và các cấp bên dưới). Để phát huy sự chủ động của CQĐP,
cũng không thể tập trung quyền hạn ngân sách quá mức vào cấp tỉnh, cần phải phân
cấp nguồn thu đảm bảo cho cấp dưới chủ động thực hiện nhiệm vụ chi được giao.
d. Phân cấp quản lý ngân sách phải phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế -
xã hội và trình độ quản lý của chính quyền nhà nước các cấp
Sự phân cấp về quản lý kinh tế - xã hội cho các cấp chính quyền đòi hỏi phải
có quyền tự quản tương ứng về tài chính để thực hiện những quyền tự quản về kinh
tế - xã hội. Phân cấp quản lý kinh tế - xã hội là tiền đề, điều kiện quyết định phân
cấp quản lý ngân sách và ngược lại, nếu phân cấp quản lý ngân sách phù hợp với
phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, sẽ giúp các cấp chính quyền thực hiện tốt các
nhiệm vụ kinh tế - xã hội được giao. Vì vậy, phân cấp quản lý ngân sách cần phù
hợp với năng lực quản lý của các cấp chính quyền, bao gồm năng lực về quản lý,
phát triển nguồn thu và thực hiện các nhiệm vụ chi ngân sách. Điều đó sẽ phát huy 3
lợi ích của phân cấp quản lý ngân sách, nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng ngân sách.
e. Đảm bảo tính hiệu quả
Nguyên tắc về tính hiệu quả trong phân cấp quản lý NSNN bao hàm hai nội
dung cơ bản là tính hiệu quả kinh tế và tính hiệu suất. Tính hiệu quả kinh tế đòi hỏi
phải đạt được kết quả cụ thể với đầu vào nguồn ngân sách là nhỏ nhất. Tính hiệu
suất là yêu cầu đạt được kết quả tốt nhất có thể với nguồn ngân sách đầu vào đã xác định trước.
f. Đảm bảo tính công bằng
NSNN có được là từ sự đóng góp của người dân trên cả nước thông qua các
phương thức khác nhau. Do đó, có thể các khoản đóng góp của người dân nơi này
đôi khi lại được Nhà nước thu về ở một nơi khác, dẫn đến việc nguồn thu phát sinh
chỉ ở một địa phương nào đó. Vì thế, nó chưa chắc đã phản ánh đúng mức độ đóng
góp của địa phương đó cho Nhà nước. Việc phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi
NSNN giữa trung ương và địa phương là công cụ chủ yếu để thực hiện việc điều hoà
trong toàn bộ hệ thống NSNN. Nhà nước đóng vai trò là người điều phối thông qua
NSTW bằng phương thức bổ sung ngân sách. Bổ sung ngân sách có thể là bổ sung
để cân đối ngân sách hoặc bổ sung ngân sách có mục tiêu. Quy định này cho phép
điều tiết các nguồn lực giữa các địa phương để tạo điều kiện cùng nhau phát triển.
Bên cạnh đó, giữa các địa phương có những đặc điểm tự nhiên, xã hội, trình độ phát
triển kinh tế khác nhau, việc áp dụng giản đơn về phân cấp quản lý NSNN theo kiểu
“cào bằng” như nhau cho tất cả các địa phương rất có thể sẽ dẫn tới những bất công
bằng, tạo ra khoảng cách chênh lệch ngày càng lớn về điều kiện phát triển giữa các địa phương.
g. Đảm bảo tăng cường hiệu lực quản lý, kiểm soát NSNN
Bất kỳ hệ thống NSNN nào cũng cần phải giảm thiểu những thất thoát có thể
xảy ra sau khi thực hiện phân cấp quản lý NSNN. Để đảm bảo tăng cường hiệu lực
quản lý, kiểm soát NSNN thì cần xây dựng một thiết chế kiểm soát NSNN có mức
độ độc lập cũng như có thẩm quyền xử lý các vi phạm trong quản lý ngân sách.
Thiết chế này cho phép ngăn ngừa sai phạm trong các quyết định về ngân sách của
các cấp chính quyền cũng như phát hiện các vi phạm dẫn đến lãng phí, tham nhũng
trong quá trình quản lý sử dụng NSNN. II.
Thực trạng phân cấp quản lý Ngân sách nhà nước tại Thành phố
Hà Nội trong thời gian qua: II.1 Thực trạng: 4
Kịp thời triển khai đồng bộ và có hiệu quả Luật NSNN năm 2015, có hiệu lực
từ năm 2017, HĐND Tp. Hà Nội đã ban hành Nghị quyết số 13/2016/NQ-HĐND
ngày 05/12/2016 về Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách; tỷ lệ
phần trăm phân chia nguồn thu giữa các cấp ngân sách và định mức phân bổ chi
ngân sách thành phố Hà Nội giai đoạn 2017-2020 để chính quyền các cấp có cơ sở
và định hướng triển khai các hoạt động liên quan cụ thể. Trên thực tế, do ảnh hưởng
của dịch Covid-19, Nghị quyết này được kéo dài thời gian thực hiện đến hết năm
2021 mới được thay thế bằng Nghị quyết số 11/2021/NQ-HĐND ngày 08/12/2021
về Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách, định mức phân bổ
ngân sách của thành phố Hà Nội.
Kết quả trên thực tế về thu, chi ngân sách đạt được trong quá trình triển khai
các năm kể từ khi Luật NSNN năm 2015 và các Nghị quyết liên quan của HĐND
Tp. Hà Nội đi vào đời sống cụ thể như sau:
Năm 2017, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Tp. Hà Nội đạt 207.628
tỷ đồng, bằng 101,4% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao, tăng 15,8% so với
thực hiện năm 2016, trong đó, thu nội địa đạt 187.640 tỷ đồng, bằng 101% dự toán,
tăng 16,2% so với cùng kỳ. Chi ngân sách địa phương năm 2017 thực hiện 77.262 tỷ
đồng, chi đầu tư phát triển 33.106 tỷ đồng, đạt 101,2% dự toán, chi xây dựng cơ bản
đạt 100,4% dự toán (tăng so với dự toán đầu năm 2017 do bổ sung chi từ nguồn tăng
thu, kết dư ngân sách địa phương). Hà Nội triển khai đồng bộ các giải pháp thu ngân
sách và tạo nguồn thu bền vững, chỉ đạo các đơn vị thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chi
ngân sách các cấp. Thành phố cũng là đơn vị đầu tiên của cả nước triển khai thực
hiện mua sắm tài sản nhà nước theo phương thức tập trung, thí điểm khoán xe công
tại 8 cơ quan, đơn vị của thành phố.
Năm 2018, tổng thu ngân sách nhà nước của Tp. Hà Nội là 244.374 tỷ đồng,
đạt 102,52% dự toán. Trong đó, thu nội địa được 226.795 tỷ đồng, đạt 103,9% dự
toán; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 17.579 tỷ đồng. Thu điều tiết ngân sách
địa phương đạt 99.807 tỷ đồng, đạt 106,4% dự toán; thu điều tiết ngân sách trung
ương đạt 144.566 tỷ đồng, đạt 100% dự toán. Nhiệm vụ thu ngân sách trên địa bàn
Hà Nội đã hoàn thành toàn diện, vượt trên 6 nghìn tỷ so với kế hoạch Trung ương
giao. Số chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Hà Nội là 250.158 tỷ đồng.
Trong đó, chi ngân sách trung ương là 60.509 tỷ đồng; chi ngân sách địa phương là
60.952 tỷ đồng. Kết quả giải ngân vốn đầu tư công năm 2018 của TP Hà Nội đạt 70,6%.
Năm 2019, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn là 270.019 tỷ đồng, đạt
102,6% dự toán giao, tăng 7,9% so với năm 2018. Trong đó: Thu từ hoạt động xuất, 5
nhập khẩu: 18.934 tỷ đồng; Thu từ dầu thô: 3.305 tỷ đồng; Thu nội địa là 247.765 tỷ đồng.
Tổng chi ngân sách địa phương: 152.907 tỷ đồng, trong đó:
+ Chi cân đối ngân sách địa phương: 79.706 tỷ đồng, đạt 79,8% dự toán sau
điều chỉnh, bổ sung. Trong đó: Chi đầu tư xây dựng cơ bản địa phương: 31.715 tỷ
đồng; Chi thường xuyên: 46.182 tỷ đồng.
+ Chi chuyển nguồn: Tổng số chi chuyển nguồn ngân sách địa phương năm
2019 sang năm 2020 là 73.201 tỷ đồng; Trong đó: Chuyển nguồn ngân sách cấp
Thành phố: 39.589; Chuyển nguồn của ngân sách cấp quận, huyện, thị xã: xã
phường, thị trấn: 33.612 tỷ đồng.
Năm 2020, tổng thu NSNN trên địa bàn Thủ đô đạt 287.572 tỷ đồng, đạt
103% so với dự toán giao. Trong đó: Thu nội địa là 266.748 tỷ đồng; Thu từ hoạt
động xuất, nhập khẩu: 18.704 tỷ đồng; Thu từ dầu thô: 2.089 tỷ đồng. Tổng chi ngân
sách nhà nước là 172.237 tỷ đồng, trong đó: chi đầu tư phát triển đạt 42.591 tỷ đồng,
chi thường xuyên đạt 45.000 tỷ đồng, chi chuyển nguồn 80.334 tỷ đồng.
Năm 2021, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 324.133 tỷ đồng,
trong đó: thu nội địa đạt 299.550 tỷ đồng, thu từ hoạt động XNK 22.576 tỷ đồng, thu
từ dầu thô 1.973 tỷ đồng. Tổng chi ngân sách nhà nước 196.382 tỷ đồng, trong đó:
chi thường xuyên 46.901 tỷ đồng, chi đầu tư phát triển 37.638 tỷ đồng và chi chuyển nguồn 111.809 tỷ đồng.
Về tình hình giải ngân vốn đầu tư công năm 2021, tính đến thời điểm trên,
giải ngân qua Kho bạc Nhà nước Hà Nội là 60.713 tỷ đồng không bao gồm phần giải
ngân qua Quỹ Đầu tư phát triển và ghi thu chi nguồn tiền sử dụng đất đối ứng cho
các dự án xây dựng chuyển giao (BT), giải ngân 35.444 tỷ đồng, đạt 58,4% kế hoạch
vốn giao. Trong số đó, vốn ngân sách địa phương đạt 61,2% kế hoạch thành phố
giao và 68,6% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Giải ngân vốn đầu tư công năm
2020 kéo dài đạt 73,7% kế hoạch vốn giao.
Năm 2022, tổng thu ngân sách trên địa bàn thành phố Hà Nội là 332.089 tỷ
đồng, đạt 106,6% dự toán. Trong đó, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu phát sinh trên
địa bàn 26.272 tỷ đồng, đạt 120% dự toán, bằng 116,4% so với cùng kỳ; thu từ dầu
thô 2.900 tỷ đồng, đạt 263,6% dự toán, bằng 147,0% so với cùng kỳ; thu nội địa
302.917 tỷ đồng, đạt 104,9% dự toán, bằng 101,1% so với cùng kỳ.
Đối với chi ngân sách địa phương của Hà Nội là 83.731 tỷ đồng, đạt 78,3% dự
toán đầu năm, bằng 99% so với cùng kỳ, trong đó chi đầu tư phát triển là 39.608 tỷ
đồng, đạt 77,6% dự toán, bằng 105,2% so với cùng kỳ; chi thường xuyên là 43.752
tỷ đồng, đạt 82,1% dự toán, bằng 93,3% so với cùng kỳ. 6
II.2 Kết quả đạt được:
Kết quả nổi bật đạt được từ việc thực hiện các Nghị quyết liên quan của
HĐND Tp. Hà Nội nhằm triển khai Luật NSNN năm 2015 trên địa bàn TP. Hà Nội cụ thể như sau:
Thứ nhất, đã đảm bảo các quy định pháp luật, phù hợp với phân cấp quản lý
kinh tế - xã hội của Thành phố, tạo động lực phát triển kinh tế và xây dựng bộ máy
chính quyền các cấp; tạo tính đồng bộ trong quản lý điều hành ngân sách trên địa bàn Thành phố.
Thứ hai, tạo điều kiện nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp chính quyền
cơ sở; Quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn để các cấp chủ động và tự chịu trách
nhiệm; Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành
chính và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về lĩnh vực tài chính - ngân sách.
Thứ ba, phân cấp tối đa nguồn thu cho quận, huyện, thị xã, góp phần nâng cao
tính năng động của chính quyền cấp huyện, cấp xã trong quản lý, khai thác các
nguồn thu trên địa bàn; Chủ động trong việc sử dụng nguồn lực ngân sách đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ chi của cơ sở; Đảm bảo nguyên tắc khoản thu nào gắn với quận,
huyện, thị xã quản lý phân cấp, điều tiết cho quận, huyện, thị xã hưởng. Cụ thể,
Thành phố đã phân cấp tối đa số thu về quận, huyện, thị xã đối với nguồn thu từ khu
vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh, lệ phí trước bạ, thuế sử dụng đất phi nông
nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, tiền thuê mặt đất mặt nước, tiền sử dụng đất, các loại
phí, lệ phí quận huyện thị xã quản lý.
Thứ tư, thu ngân sách địa phương đã đáp ứng các nhiệm vụ chi, đảm bảo hoạt
động thường xuyên của các cấp, các ngành, các chính sách an sinh xã hội, phát triển
giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội của địa phương.
Thứ năm, việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi đã góp phần khuyến khích
các quận, huyện, thị xã trên địa bàn Thành phố tăng cường công tác quản lý, khai
thác nguồn thu; đồng thời, nâng cao tính chủ động trong thực hiện các nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội. Nhờ đó, số quận, huyện tự đảm bảo cân đối ngân sách trong
giai đoạn này được nâng lên 10 đơn vị (các quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa,
Hai Bà Trưng, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Nam Từ Liêm, Tây Hồ, Hoàng Mai và Long
Biên), tăng 03 đơn vị (các quận Tây Hồ, Hoàng Mai và Long Biên) so với giai đoạn
2013-2016. Bên cạnh đó là xu hướng giảm tỷ lệ % phân chia các khoản thu thuế,
phí, lệ phí giữa ngân sách thành phố và ngân sách quận huyện trong giai đoạn này so
với giai đoạn 2013-2016. Theo đó, 07 đơn vị tự đảm bảo cân đối ngân sách từ giai 7
đoạn 2013-2016 tỷ lệ chia sẻ được giảm từ các mức 16-18% (cá biệt tỷ lệ này của
quận Ba Đình là 12%) về mức 11% (riêng quận Đống Đa còn giảm hẳn về 10%); 03
đơn vị tự đảm bảo cân đối ngân sách tăng thêm trong giai đoạn này là các quận Tây
Hồ, Hoàng Mai và Long Biên tỷ lệ chia sẻ được điều chỉnh từ mức 42% lần lượt về
các mức 32%, 28% và 21%; thị xã Sơn Tây điều chỉnh từ tỷ lệ 50% về 35% và các
quận, huyện, thị xã còn lại điều chỉnh từ tỷ lệ 42% về 35%. II.3 Một số hạn chế:
Thứ nhất, phân cấp quản lý ngân sách của Thành phố dù đã được sửa đổi, cải
thiện nhưng đôi chỗ vẫn còn chồng chéo, chưa đồng bộ với phân cấp quản lý kinh tế
trên địa bàn. Trong quá trình thực hiện, sửa đổi bổ sung nội dung phân cấp quản lý
giữa thành phố và các quận huyện, một số lĩnh vực vẫn chưa đáp ứng đòi hỏi của
thực tiễn, bộc lộ hạn chế, bất hợp lý. Nguyên nhân trong một số trường hợp xuất
phát từ việc một số nội dung phân cấp quản lý kinh tế - xã hội chưa thực sự phù hợp,
gây nên bất cập đối với việc phân cấp quản lý ngân sách. Bên cạnh đó cũng có
trường hợp phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi đã không theo kịp sự phát triển của
phân cấp về quản lý kinh tế xã hội, dẫn tới thiếu đồng bộ làm cho địa phương không
đủ nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội được giao.
Thứ hai, phân cấp nguồn thu cho các quận, huyện và thị xã ở mức thấp; các
khoản thu được phân cấp chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chi, ngân sách thành
phố phải bổ sung ở mức cao cho ngân sách các quận, huyện và thị xã. Hiện nay,
ngoài 10 đơn vị hành chính cấp huyện tự cân đối được thu, chi ngân sách như đã nêu
trên (chiếm khoảng 1/3 số đơn vị hành chính cấp huyện), các đơn vị hành chính cấp
huyện còn lại và hầu hết đơn vị hành chính cấp xã chưa tự cân đối được thu, chi
ngân sách. Các huyện Gia Lâm, Hoài Đức, Đan Phượng, Đông Anh và Thanh Trì đã
được Tp. Hà Nội quyết định phê duyệt đề án đến năm 2025 nâng cấp lên quận cũng
nằm trong số này, còn khoảng cách tương đối với tiêu chí tự cân đối thu, chi ngân
sách và không có đủ nguồn lực nội tại để hoàn thành tiêu chí lên quận. Với các quy
định về phân cấp nguồn thu hiện nay, các huyện chưa tự cân đối được thu chi ngân
sách và không có đủ nguồn lực phát triển hoàn thành các tiêu chí lên quận.
Thứ ba, phân cấp về quy trình quản lý NSĐP chưa khắc phục được tính lồng
ghép ngân sách các cấp chính quyền. Hệ thống ngân sách nước ta hiện nay mang
tính lồng ghép, giữa ngân sách trung ương với ngân sách địa phương, trong ngân
sách địa phương lại lồng ghép ngân sách các cấp chính quyền. Do đó dẫn đến tình
trạng trùng lắp, chồng chéo về thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp ngân sách; hạn
chế tính độc lập của từng cấp ngân sách; làm cho quy trình ngân sách phức tạp và 8
kéo dài. Việc lập dự toán, tổng hợp dự toán cũng như quyết toán ở mỗi cấp bị lệ
thuộc vào cấp dưới và việc quyết định dự toán ở cấp dưới mang tính hình thức vì
phụ thuộc vào quyết định dự toán của cấp trên.
Thứ tư, phân cấp nguồn thu tiền sử dụng đất chưa hợp lý. Nguồn thu tiền sử
dụng đất theo phân cấp hiện nay, toàn bộ các huyện và Thị xã Sơn Tây được hưởng
100% tiền sử dụng đất đối với đất đấu giá trên 5.000 m2 và dưới 5.000 m2 tiếp giáp
đường phố, đất xen kẹt; các quận được hưởng tỷ lệ 30% đối với dự án đấu giá; các
dự án giao đất các quận, huyện, thị xã được hưởng theo tỷ lệ từ 30 - 60%. Tuy nhiên,
việc chia quy mô các dự án đất đấu giá như đã nêu trên hiện nay có thể tạo kẽ hở cho
việc chia nhỏ các dự án thành đất dưới 5.000m2 để ngân sách các quận, huyện hưởng
100%. Thực tế ngân sách Thành phố các năm qua đều hụt thu tiền sử dụng đất, trong
khi các quận, huyện đều vượt thu tiền sử dụng đất. Hơn nữa, đến nay, cơ bản các
huyện, thị xã hoàn thành xây dựng nông thôn mới, tiếp theo chỉ thực hiện nhiệm vụ
duy trì và nâng cao các tiêu chí nên nhu cầu kinh phí đầu tư sẽ ít hơn. Do vậy, việc
phân cấp nguồn thu tiền sử dụng đất cần được điều chỉnh phù hợp.
Thứ năm, về phân cấp về nhiệm vụ chi.
Trong quá trình tổ chức thực hiện quy định về phân cấp nhiệm vụ chi, có
trường hợp một số nội dung chi trên địa bàn các quận, huyện, thị xã nhưng thuộc
nhiệm vụ chi của cấp Thành phố nên phải phản ánh lên cấp Thành phố để triển khai
thực hiện và chưa giải quyết nhanh chóng các kiến nghị của cử tri và nhân dân. Mặt
khác, một số nhiệm vụ chi của cấp huyện, cấp xã nhưng các quận, huyện, thị xã chưa
chủ động cân đối, bố trí ngân sách để giải quyết và còn đề xuất ngân sách Thành phố
hỗ trợ. Tình trạng trên đã ảnh hưởng đến công tác lập dự toán ngân sách hàng năm
và trung hạn của Thành phố.
Bên cạnh đó, khi phát sinh một số nội dung, lĩnh vực do có sự thay đổi chính
sách từ trung ương, phân cấp quản lý kinh tế xã hội một số lĩnh vực trên địa bàn
Thành phố có thay đổi. Tuy nhiên, do tỷ lệ điều tiết thực hiện ổn định trong cả giai
đoạn nên chưa thực hiện điều chỉnh nhiệm vụ chi mà đang điều hành kinh phí giữa
các cấp ngân sách khi HĐND Thành phố quyết nghị phân bổ dự toán.
Ngoài ra, một số nội dung phân cấp quản lý kinh tế - xã hội chưa thực sự phù
hợp như: Đối với lĩnh vực duy trì chiếu sáng, thoát nước các khu đô thị, thị trấn
thuộc thành phố quản lý... dẫn đến chưa đáp ứng việc duy tu, sửa chữa khi gặp sự cố.
Thứ sáu, phân cấp quản lý NSNN còn tình trạng không thực hiện triệt để việc
khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính. Khi thực hiện cơ chế tự chủ về biên
chế và tài chính, các cơ quan, đơn vị chưa chủ động gắn tự chủ về tài chính với tinh
giản biên chế, tinh giản bộ máy, chưa xây dựng cụ thể và phân định rõ ràng cơ cấu 9
cán bộ, chức danh, tiêu chuẩn từng chức danh, nhiệm vụ đảm nhiệm, quyền hạn và
trách nhiệm. Việc xây dựng Đề án vị trí việc làm tại các cơ quan, đơn vị hành chính
mang tính hình thức, chưa mang lại hiệu quả thực sự trong việc sử dụng lao động;
các đơn vị sự nghiệp công lập liên tục nhận lao động hợp đồng với số lượng lớn,
ngân sách hàng năm phải bố trí tăng kinh phí cho trả lương lao động; việc triển khai
các dịch vụ đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cho các doanh nghiệp công ích còn
chậm. Trong khi ngân sách của thành phố còn hạn hẹp, cơ cấu chi cho con người
chiếm tỷ trọng cao, dẫn đến các cơ quan, đơn vị không còn nguồn lực để tái đầu tư
trang thiết bị và tăng thu nhập cho người lao động. III.
Một số giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới:
Nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế, nâng cao công tác quản lý, thu chi
NSNN trên địa bàn, trong thời gian tới, Tp. Hà Nội cần quan tâm triển khai một số nội dung sau:
Một là, phân cấp nguồn thu đúng quy định, bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân
sách cấp Thành phố và sự độc lập, chủ động tương đối của chính quyền các cấp địa
phương. Xác định cơ cấu phù hợp giữa phần thu giành cho ngân sách cấp tỉnh và
phần thu giành cho ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã, sao cho ngân sách cấp
Thành phố luôn ở trạng thái có thặng dư, ngân sách các quận đạt được cân đối thu
chi, còn ngân sách các huyện, thị xã chỉ thiếu hụt ở mức vừa phải.
Hai là, đối với các huyện đã được Thành phố phê duyệt Đề án lên quận, nên
xem xét tăng cường phân cấp cho các huyện được hưởng tối đa số thu phát sinh trên
địa bàn để tạo nguồn lực đầu tư, phát triển đột phá.
Ba là, các khoản thu tiền sử dụng đất cần tập trung phân cấp nhiều hơn ngân
sách cấp Thành phố để đảm bảo vai trò chủ đạo và có nguồn lực dành cho các dự án
đầu tư lớn trên địa bàn như: đường sắt đô thị, các dự án hạ tầng khung, nhà máy xử
lý rác thải sử dụng công nghệ hiện đại...
Bốn là, việc phân cấp nhiệm vụ chi đầu tư phát triển cho ngân sách các cấp ở
địa phương cần cụ thể, rõ ràng và ổn định; đồng thời, thực hiện đồng bộ việc xây
dựng định mức phân bổ vốn và đảm bảo cân đối thu, chi ngân sách, trong đó:
Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp tỉnh gồm: Các dự án có tính chuyên ngành
cao, quy mô lớn, các dự án (công trình) có liên quan tới quy hoạch vùng, các dự án
có liên quan đến nhiều huyện thị, các dự án phải đảm bảo tính đồng bộ… Trong đó,
thực hiện ưu tiên bố trí các dự án theo mục tiêu, cơ cấu đầu tư thuộc kế hoạch tài 10