







Preview text:
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA SAU ĐẠI HỌC BÀI KIỂM TRA MÔN: LUẬT KÍNH TẾ Hà Nội, tháng 10 năm 2023
1. Một số khó khăn, vướng mắc về mặt pháp lý trong hoạt động của NHCSXH 1.1. Về nguồn vốn
- Nguồn lực để thực hiện tín dụng chính sách xã hội tuy đã được quan tâm
bổ sung hằng năm nhưng còn hạn chế so với nhu cầu thực tế của người nghèo và
các đối tượng chính sách khác.
- Cơ cấu nguồn vốn chưa thực sự hợp lý và đảm bảo tính bền vững. Nguồn
vốn tín dụng chính sách chủ yếu sử dụng cho vay trung dài hạn (dư nợ trung, dài
hạn chiếm 99,4%) với một số chương trình có thời hạn cho vay dài, tối đa đến 25
năm. Mặc dù cơ cấu nguồn vốn đã có sự chuyển biến theo hướng tăng dần các
nguồn vốn trung, dài hạn và giảm dần các nguồn vốn ngắn hạn nhưng đến nay
nguồn vốn có thời hạn dài trên 05 năm chiếm 41,8%, nguồn vốn ngắn hạn chiếm
58,2%. Nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp giảm dần qua các năm (từ 35,5%
năm 2003 giảm xuống 23,1% năm 2010, 19,2% năm 2015 và hiện nay còn
14,3%). Nguồn vốn huy động từ thị trường chiếm tỷ trọng cao, tạo áp lực về khả năng thanh khoản.
- Nguồn vốn huy động thiếu tính ổn định, chủ yếu phụ thuộc vào nguồn
vốn nhận tiền gửi 2% của các tổ chức tín dụng Nhà nước và nguồn vốn phát
hành trái phiếu NHCSXH được Chính phủ bảo lãnh, trong khi lãi suất huy động
tiền gửi 2% thường cao hơn các nguồn huy động khác;nguồn vốn từ phát hành
trái phiếu NHCSXH được Chính phủ bảo lãnh, trong một số năm gần đây, tối đa
chỉ được phát hành bằng nghĩa vụ trả nợ trái phiếu đến hạn,NHCSXH không tận
dụng được cơ hội để huy động thêm nguồn vốn giá rẻ, ảnh hưởng đến việc cân đối nguồn vốn cho vay.
- Nguồn vốn ủy thác từ ngân sách địa phương tại một số tỉnh còn hạn chế,
chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh phát triển kinh tế - xã hội.
1.2. Về cơ chế tài chính
- Tín dụng chính sách xã hội chủ yếu đầu tư vào sản xuất nông, lâm, ngư
nghiệp; đối tượng vay vốn có trình độ sản xuất kinh doanh hạn chế, cư trú ở
vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế xã hội kém phát triển; lĩnh vực đầu
tư sản xuất thường xuyên bị tác động bởi thiên tai, dịch bệnh và giá cả thị
trường... tiềm ẩn rủi ro cao. Vì vậy, quy định mức trích lập dự phòng rủi ro tín
dụng (bao gồm cả dự phòng chung và dự phòng cụ thể) tối đa không vượt quá
nợ quá hạn và nợ khoanh chưa thực sự phù hợp; chưa tạo được nguồn dự phòng
đủ lớn, ổn định để xử lý đối với những rủi ro do thiên tai, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng.
- Hiện nay, Trưởng thôn, ấp, bản… tham gia nhiều hoạt động trong quá
trình triển khai tín dụng chính sách xã hội tại cơ sở,tuy nhiên, chưa có chế độ
phụ cấp, gắn quyền lợi với trách nhiệm được giao nhằm tạo động lực, khuyến
khích nâng cao hiệu quả việc thực thi nhiệm vụ.
- Một số chương trình tín dụng tuy đã được nâng mức cho vay nhưng việc
điều chỉnh chưa kịp thời, chưa phù hợp với nhu cầu đầu tư và diễn biến giá cả thị
trường như: chương trình cho vay NS&VSMTNT, cho vay hộ gia đình sản xuất
kinh doanh và thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn…
- Công tác điều tra, xác nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo ở một số địa phương
chưa được quan tâm rà soát, bổ sung kịp thời, nhất là những hộ mới phát sinh,
làm ảnh hưởng tới việc tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi của các đối tượng thụ hưởng.
- Chính sách tín dụng với mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền
vững đã tạo điều kiện cho nhiều nhóm đối tượng được thụ hưởng chính sách tín
dụng ưu đãi của Nhà nước nhưng chưa triệt để. Chưa có chính sách cho vay vốn
phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh đối với hộ có mức sống trung bình làm
nông, lâm, ngư, diêm nghiệp trong khi nhu cầu của đối tượng này rất lớn nhưng
khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng thương mại. Chưa có chính sách cho vay đối với
hộ cận nghèo ở khu vực nông thôn để xây dựng, sửa chữa nhà ở, trong khi nhà ở
là một tiêu chí đánh giá việc tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản khi điều tra, phân loại
hộ nghèo, hộ cận nghèo.
1.3. Về hoạt động ủy thác, Tổ TK&VV
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hoạt động ủy thác đối với tổ chức
chính trị - xã hội cấp dưới, nhất là công tác kiểm tra, giám sát, củng cố, nâng cao
chất lượng tín dụng, chất lượng công tác ủy thác, hoạt động Tổ TK&VV ở một
số địa phương chưa thực sự quyết liệt, còn hạn chế và thiếu tính bền vững.
1.4. Về đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin
Hạ tầng và nguồn nhân lực công nghệ thông tin chưa thực sự đáp ứng
được yêu cầu phát triển công nghệ thông tin của ngành ngân hàng và chiến lược
chuyển đổi số quốc gia, khả năng cung cấp dịch vụ trực tuyến (Internet banking,
mobile banking,...) cho khách hàng còn hạn chế. Việc tiếp cận ứng dụng công
nghệ thông tin của một bộ phận khách hàng còn gặp nhiều khó khăn. Đầu tư ứng
dụng công nghệ chưa theo kịp yêu cầu quản trị, điều hành và phát triển các sản
phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại. 2. Nguyên nhân
2.1. Nguồn lực của Nhà nước có hạn, trong khi phải thực hiện đồng thời
nhiều mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nên mức độ đầu tư vốn của Nhà nước
cho việc triển khai các chương trình tín dụng chính sách xã hội còn hạn chế,
chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
2.2. Một số địa phương chưa thực sự coi công tác lãnh đạo, chỉ đạo đối
với hoạt động tín dụng chính sách xã hội là nhiệm vụ trọng tâm triển khai kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, việc cân đối, bố trí ngân sách địa
phương ủy thác qua NHCSXH để bổ sung nguồn vốn cho vay chưa thỏa đáng.
2.3. Chưa có quy định cụ thể về tỷ lệ và nguyên tắc xác định nguồn vốn
chủ đạo, phù hợp với đặc thù tín dụng chính sách xã hội. Hạn mức phát hành trái
phiếu được Chính phủ bảo lãnh khống chế tối đa bằng nghĩa vụ trả nợ trái phiếu
đến hạn hằng năm theo quy định. Mặt khác, do chưa có cơ chế, chính sách cụ
thể nên NHCSXH khó tiếp cận nguồn nguồn vốn viện trợ không hoàn lại, vốn
ODA và vốn vay ưu đãi của Chính phủ.
2.4. Các quy định về quản lý tài chính, tín dụng thường xuyên được các bộ
ngành, NHCSXH nghiên cứu, tham mưu sửa đổi, bổ sung. Tuy nhiên, thực tiễn
triển khai tín dụng chính sách xã hội diễn ra trong bối cảnh có những thay đổi liên
tục về mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế - xã hội và các chương trình mục
tiêu quốc gia trong từng thời kỳ cần sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách có liên quan.
2.5. NHCSXH và tổ chức chính trị - xã hội ở một số địa phương chưa
thực sự kiên trì, quyết liệt trong việc tham mưu cho cấp ủy, chính quyền triển
khai các giải pháp củng cố, nâng cao chất lượng tín dụng. Một bộ phận khách
hàng sử dụng vốn vay chưa hiệu quả, còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà
nước, chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ
gốc, lãi, làm phát sinh nợ quá hạn. Bên cạnh đó, diễn biến phức tạp của biến đổi
khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, hạn hán, mưa lũ, sạt lở đất, xâm nhập mặn...đại
dịch Covid-19 xảy ra trên diện rộng, trong thời gian dài ảnh hưởng tiêu cực đến
đời sống, hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn của người vay.
2.6. Việc lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền đối với hoạt động ủy
thác và sự phối hợp giữa NHCSXH với tổ chức chính trị - xã hội ở một số địa
phương, nhất là cấp xã chưa được thường xuyên, thiếu chặt chẽ. Một số nơi điều
kiện tự nhiên, địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn trong khi lực lượng
cán bộ tổ chức hội tại cấp xã còn hạn chế sau khi tổ chức sắp xếp lại theo Nghị
quyết của trung ương, dẫn đến những khó khăn trong việc thực hiện các nội dung
công việc ủy thác. Năng lực, trình độ cán bộ phụ trách công tác ủy thác, Ban
quản lý Tổ TK&VV ở một số nơi, nhất là miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế chưa được khắc phục triệt để.
2.7. Thiếu cơ chế chỉ đạo, điều hành tập trung, thống nhất của các ngành,
các cấp trong việc phối hợp, lồng ghép các chương trình, dự án, kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội, các hoạt động chuyển giao khoa học kỹ thuật, đào tạo
nghề, phát triển mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, chương trình mỗi xã
một sản phẩm... với hoạt động tín dụng chính sách xã hội.
2.8. Việc đầu tư ứng dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động ngân hàng
đòi hỏi nguồn vốn lớn, đi đôi với hạ tầng kỹ thuật, trình độ dân trí phát triển
đồng đều. Tuy nhiên, nguồn vốn đượctập trung triển khai cho vay các chương
trình tín dụng nên khả năng tài chính để đầu tư hiện đại hóa công nghệ còn hạn
chế. Mặt khác, khách hàng của NHCSXH chủ yếu là hộ nghèo, hộ cận nghèo,
đối tượng chính sách, sinh sống chủ yếu ở miền núi, vùng sâu, vùng xa có hạ
tầng kỹ thuật kém phát triển; năng lực, trình độ sản xuấtchưa cao, khả năng tiếp
cận công nghệ còn hạn chế... 3. Giải pháp:
3.1.Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội
- Chủ động đề xuất, tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các
Bộ, ngành Trung ương, cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp, phối hợp chặt
chẽ với các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác thực hiện hiệu quả Chỉ thị số
40-CT/TW và Kết luận số 06-KL/TW của Ban Bí thư.
- Phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và người
dân, thực hiện tốt chức năng giám sát cộng đồng, phản biện xã hội đối với việc
thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giảm nghèo, bảo
đảm an sinh xã hội cũng như đối với hoạt động tín dụng chính sách xã hội.
3.2. Duy trì và thực hiện hiệu quả mô hình tổ chức, phương thức
quản lý tín dụng chính sách đặc thù, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới
- Phát huy vai trò, trách nhiệm, nâng cao chất lượng hoạt động của
HĐQT, Ban đại diện HĐQT các cấp. Tăng cường vai trò, trách nhiệm của Chủ
tịch UBND cấp xã, sự tham gia, giám sát của Trưởng cấp thôn trong việc quản
lýnguồn lực của Nhà nước đầu tư cho người nghèo, đối tượng chính sách, nâng
cao chất lượng tín dụng.
- Thực hiện có hiệu quả công tác điều hành từ trung ương đến cơ sở, hoàn
thành tốt mọi chỉ tiêu kế hoạch, nhiệm vụ được giao. Xây dựng kế hoạch, giải
pháp triển khai thành công mục tiêu, nhiệm vụ trong Chiến lược phát triển NHCSXH đến năm 2030.
- Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị - xã hội tăng cường đào tạo,
tập huấn nhằm duy trì, nâng cao chất lượng hoạt động ủy thác, hoạt động Tổ
TK&VV và chất lượngĐiểm giao dịch xã.
3.3.Tập trung huy động, đa dạng hóa nguồn lực
- Chủ động báo cáo, tham mưu trình Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ, các bộ ngành cân đối, cấp đủ vốn điều lệ, cấp bù lãi suất, phí quản lý
và vốn thực hiện chính sách tín dụng mới được ban hành, đảm bảo nguồn vốn
hoạt động được bố trí trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm. Đồng
thời, tiếp tục rà soát, tập trung các nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội có
nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước, nguồn vốn có tính chất từ thiện và các nguồn
vốn hợp pháp khác vào NHCSXH; ưu tiên các nguồn vốn ưu đãi có thời hạn dài,
lãi suất thấp để cải thiện cơ cấu nguồn vốn theo hướng ổn định, bền vững.
- Tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương cân đối, ưu tiên
bố trí nguồn vốn từ ngân sách địa phương ủy thác sang NHCSXH nhằm bổ sung nguồn vốn cho vay.
- Chủ động thực hiện việc huy động, đa dạng hóa nguồn vốn, quản lý và
sử dụng vốn có hiệu quả.Nghiên cứu, ban hành sản phẩm huy động vốn phù
hợp, chú trọng khai thác thị trường vốn khu vực nông thôn, nhằm phát huy lợi
thế hoạt động tại các Điểm giao dịch xã.
3.4.Triển khai thực hiện tốt các chương trình tín dụng chính sách xã hội
- Phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã
hội nhận ủy thác thực hiện có hiệu quả các chương trình tín dụng. Tập trung ưu
tiên nguồn vốn đầu tư cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi, vùng đặc biệt khó
khăn, biên giới, hải đảo. Mở rộng đối tượng được vay đến các dự án sản xuất,
kinh doanh với quy mô lớn, sản phẩm được tạo ra theo chuỗi giá trị, phù hợp với
điều kiện tự nhiên từng vùng miền, tạo động lực thúc đẩy người dân sản xuất
hàng hóa có giá trị cao, góp phần tạo sinh kế, nâng cao thu nhập.
- Thường xuyên quan tâm, kiên trì thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm
duy trì, nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo mục tiêu bảo toàn, phát triển
vốn. Thực hiện tốt công tác xử lý nợ bị rủi ro do nguyên nhân khách quan, tạo
điều kiện để người vay tiếp tục đầu tư khôi phục sản xuất, tránh nguy cơ tái nghèo.
- Chủ động tham gia với các ngành, địa phương trong quá trình điều tra, rà
soát hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng chính sách khác để nhận diện đối
tượng, nắm bắt nhu cầu, xây dựng kế hoạch và triển khai cho vay kịp thời, đúng đối tượng.
- Phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, chính quyền địa phương gắn kết có
hiệu quả tín dụng chính sách xã hội với việc thực hiện các chương trình mục tiêu
quốc gia; các hoạt động chuyển giao khoa học và công nghệ; các chương trình
khuyến nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, tập huấn, đào tạo nghề; xây dựng mô hình
liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, chương trình mỗi xã một sản phẩm... nhằm
phát huy hiệu quả sử dụng vốn.
- Chủ động rà soát, đánh giá kết quả thực hiện để kịp thời đề xuất các sản
phẩm tín dụng phù hợp với người nghèo, đối tượng chính sách xã hội và yêu cầu
quản lý trong giai đoạn mới nhằm mở rộng chính sách tín dụng theo hướng tăng
định mức, mở rộng đối tượng được vay.
3.5. Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
- Phát triển nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất
là nguồn nhân lực công nghệ thông tin. Có chính sách thu hút được nguồn nhân
lực chất lượng cao, nguồn nhân lực phù hợp với tín dụng chính sách xã hội tại
vùng đồng bào dân tộc thiểu số,vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
- Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, đạo
đức nghề nghiệp; xây dựng đội ngũ cán bộ có uy tín, phong cách làm việc tiên
tiến, hiện đại, tận tâm, tận tụy phục vụ người dân với phương châm “Thấu hiểu
lòng dân, tận tâm phục vụ”.
- Chú trọng làm tốt công tác quy hoạch, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp cán bộ,
có đủ năng lực, trình độ, uy tín, sức khỏe nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
- Quan tâm chăm lo đảm bảo việc làm, thu nhập, nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần cho cán bộ, người lao động, nhất là cán bộ công tác ở các huyện
nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc miền núi, biên giới, hải đảo.
3.6. Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra, giám sát
- Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của HĐQT, Ban đại diện
HĐQT các cấp và hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ. Gắn hiệu quả hoạt động
kiểm tra, giám sát, kiểm toán nội bộ với việc nâng cao khả năng cảnh báo sớm rủi
ro. Phát hiện, xử lý kịp thời, triệt để sai sót, tồn tại phát sinh theo yêu cầu của các
cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán.
- Chủ động phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội tăng cường kiểm tra,
giám sát hoạt động ủy thác, ủy nhiệm đối với tổ chức hội, đoàn thể cấp dưới, Tổ
TK&VV; kiểm tra, nắm chắctình hình sử dụng vốn của người vay.
3.7. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ phù hợp
- Phát triển hệ thống công nghệ thông tin nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển
đổi số, hiện đại hóa ngân hàng, phù hợp với hoạt động đặc thù của tín dụng
chính sách xã hội. Đồng thời, triển khai các giải pháp đảm bảo an ninh, an toàn,
bảo mật nhằm đảm bảo hoạt động liên tục của các hệ thống thông tin.
-Đầu tư, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, phát triển đa dạng hóa
sản phẩm, dịch vụ theo hướng hiện đại, dễ sử dụng, chi phí phù hợp với nhu cầu
và khả năng chi trả của khách hàng khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa,
người có thu nhập thấp.
3.8. Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế và truyền thông; rà soát, đơn
giản hóa thủ tục giải quyết công việc
- Mở rộng hợp tác quốc tế nhằm chia sẻ kinh nghiệm trong hoạt động tín
dụng chính sách xã hội; đồng thời, khai thác nguồn lực hợp pháp nhằm nâng cao
năng lực hoạt động cho NHCSXH.
- Đẩy mạnh truyền thông trong nước, truyền thông quốc tế. Chú trọng
truyền thông đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
nhằm tuyên truyền đầy đủ, kịp thời chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
về tín dụng chính sách xã hội.
- Tiếp tục đơn giản hóa thủ tục giải quyết công việc, tạo điều kiện thuận
lợi cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác trong quá trình vay vốn
và tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ do ngân hàng cung cấp.