


Preview text:
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 03/02/1930 là một bước ngoặt vĩ đại, chấm
dứt cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo tại Việt Nam đầu
thế kỷ XX. Trải qua gần một thế kỷ, thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng sự lãnh đạo đúng
đắn, sáng tạo của Đảng chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, từ
sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Trong giai đoạn 1945 - 1975, Đảng đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng và tài thao lược
xuất sắc khi lãnh đạo Nhân dân vượt qua những thử thách hiểm nghèo. Chỉ mới 15 tuổi, Đảng
đã lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân,
phong kiến và khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tiếp đó, trong hai cuộc kháng
chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng đã đề ra đường lối kháng
chiến "toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính". Những mốc son chói lọi
như Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 "lừng lẫy năm châu" và Đại thắng mùa Xuân năm
1975 đã hoàn thành sứ mệnh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đặc biệt, sự sáng tạo
của Đảng thể hiện rõ qua việc lãnh đạo đồng thời hai chiến lược cách mạng: xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tạo
nên sức mạnh tổng hợp vô địch để giành thắng lợi cuối cùng.
Sau khi đất nước thống nhất, trước những khó khăn của nền kinh tế hậu chiến và sự bao vây
cấm vận, Đảng đã một lần nữa khẳng định vai trò tiên phong bằng việc khởi xướng đường lối
Đổi mới tại Đại hội VI (1986). Đây là một bước ngoặt chiến lược, chuyển đổi từ cơ chế kế
hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,. Dưới sự lãnh
đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: từ một nước
nghèo nàn đã trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình, vị thế và uy tín quốc
tế không ngừng được nâng cao. Quy mô nền kinh tế tăng vọt, đời sống vật chất và tinh thần
của Nhân dân được cải thiện rõ rệt, và Việt Nam hiện đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia.
Trong bối cảnh hiện nay, Đảng tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện trong việc bảo
vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ,. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được triển
khai quyết liệt, đặc biệt là cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng với tinh thần "không có
vùng cấm", nhằm củng cố niềm tin của Nhân dân và tăng cường sức chiến đấu của Đảng.
Đảng cũng xác định mục tiêu đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình
của dân tộc, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Tóm lại, cảm nhận sâu sắc nhất về sự lãnh đạo của Đảng chính là sự gắn bó mật thiết giữa
Đảng và Nhân dân. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và của cả dân tộc. Với đường lối đúng đắn, khoa học và tinh thần tự đổi
mới, Đảng Cộng sản Việt Nam mãi là "người cầm lái" vững vàng, đưa con thuyền cách mạng
Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Lịch sử dân tộc Việt Nam từ giữa thế kỷ XX đến nay là câu chuyện về ý chí độc lập, khát
vọng hòa bình và nỗ lực không ngừng vươn lên của một dân tộc nhỏ bé nhưng kiên cường.
Trên hành trình đó, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vai trò quyết định, là lực lượng lãnh
đạo duy nhất, thống nhất, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Nhìn lại tiến trình đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước (1945–1975) và xây dựng,
bảo vệ Tổ quốc ngày nay, có thể cảm nhận sâu sắc rằng mọi thành tựu lịch sử của đất nước
đều gắn liền với sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng.
Ngay từ khi ra đời (1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về
đường lối cứu nước, xác lập con đường cách mạng vô sản phù hợp với bối cảnh dân tộc và xu
thế thời đại. Đảng đã quy tụ, đoàn kết các tầng lớp nhân dân vào một khối thống nhất, tạo nên
sức mạnh toàn dân vững chắc.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là minh chứng rõ nhất. Chỉ trong thời gian
ngắn, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã vùng lên giành chính quyền, khai sinh nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Đây là dấu mốc
mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Ngay sau đó, đất nước rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” với ba loại giặc: đói, dốt và
ngoại xâm. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xử lý tình hình với những quyết sách đúng đắn,
mềm dẻo nhưng kiên quyết, giữ vững chính quyền cách mạng non trẻ.
Trong kháng chiến chống Pháp (1946–1954), Đảng đã phát huy đường lối “toàn dân, toàn
diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh”, phát huy cao độ sức mạnh dân tộc và tinh thần đoàn kết.
Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” không chỉ giải phóng
miền Bắc mà còn phá vỡ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.
Ở giai đoạn 1954–1975, Đảng tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thực
hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Dưới ngọn cờ “Không có gì quý hơn độc
lập, tự do”, cả dân tộc đã đoàn kết một lòng, biến đau thương thành hành động, vượt qua
chiến tranh ác liệt và hy sinh vô bờ bến. Đại thắng mùa Xuân 1975, với chiến dịch Hồ Chí
Minh lịch sử, đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là
thắng lợi vĩ đại của trí tuệ, bản lĩnh và sự lãnh đạo tài tình của Đảng.
Sau năm 1975 và đặc biệt từ Đổi mới (1986), Đảng tiếp tục thể hiện vai trò lãnh đạo toàn
diện, sáng tạo và quyết đoán. Trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn do hậu quả chiến
tranh và khủng hoảng kinh tế - xã hội, Đảng đã tiến hành đổi mới tư duy, đổi mới mô hình
kinh tế, mở cửa hội nhập với thế giới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Đây là bước ngoặt mang tính chiến lược, thể hiện tầm nhìn xa và quyết tâm chính trị của Đảng.
Nhờ đó, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn: kinh tế tăng trưởng mạnh, tỷ lệ nghèo
giảm sâu, cơ sở hạ tầng phát triển, vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao. Việt Nam trở
thành thành viên tích cực của nhiều tổ chức quốc tế, tham gia các hiệp định thương mại tự do
thế hệ mới, đóng vai trò có trách nhiệm trong các vấn đề toàn cầu.
Song song với phát triển kinh tế, Đảng rất chú trọng xây dựng chỉnh đốn Đảng và phòng
chống tham nhũng. Công tác chống tham nhũng được triển khai quyết liệt, tạo ảnh hưởng xã
hội sâu rộng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đây chính là minh
chứng cho tinh thần “Đảng tự làm trong sạch mình để xứng đáng là người lãnh đạo, là người
đày tớ trung thành của nhân dân”.
Trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Đảng kiên trì đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh
nhân dân, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời tăng cường hợp tác quốc
tế, giải quyết các vấn đề hòa bình, linh hoạt, phù hợp với lợi ích quốc gia. Trước bối cảnh
biến động toàn cầu, Đảng đã có những định hướng chiến lược về chuyển đổi số, phát triển
khoa học – công nghệ, kinh tế xanh, kinh tế tri thức… nhằm đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Nhìn lại chặng đường lịch sử từ 1945 đến nay, có thể khẳng định rằng: mọi thắng lợi của cách
mạng Việt Nam đều gắn liền với vai trò lãnh đạo đúng đắn, kiên định và sáng tạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Chính Đảng đã đưa dân tộc đi từ nước bị đô hộ, nghèo nàn, lạc hậu trở
thành quốc gia độc lập, thống nhất, đang từng bước phát triển phồn vinh, hội nhập sâu rộng vào thế giới.
Đối với thế hệ trẻ hôm nay, hiểu đúng và trân trọng vai trò lãnh đạo của Đảng không chỉ là
trách nhiệm mà còn là niềm tự hào dân tộc. Đồng thời, mỗi người càng phải nỗ lực học tập, tu
dưỡng, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới – giai đoạn khát vọng hùng cường.