* Giảng viên Khoa Lut, Trưng Đi hc Kinh tế - Đại học Đà Nng.
MỘT SỐ BẤT CP TRONG QUY ĐNH CA LUT THƯƠNG MI 2005
VỀ CHTÀI BI THƯNG THIT HI VÀ KIN NGHHOÀN THIỆN
Ths. Đỗ Trn Hà Linh*
Tóm tắt:
Bồi thưng thit hi do vi phm hp đng mt biện pháp pháp quan
trng giúp đp cho bên bị thit hi nhng tn tht gây ra bởi hành vi vi phm
hợp đng. Tính phbiến cũng như hiu qucủa giúp chế tài bi thưng thit
hại trthành bin pháp bo van toàn cho bên bvi phm. Tuy nhiên, nhng quy
định ca Luật Thương mại năm 2005 về chế tài bi thường thit hi hin vn còn
một sbất cp cn phi đưc sửa đi. Do đó, vic mt đánh giá chuyên sâu v
chế tài bi thưng thit hi cn thiết nhm hoàn thin nhng quy đnh ca Lut
Thương mại năm 2005 vchếi quan trng này.
Từ khóa: chế tài bi thưng thit hi; Lut Thương mi 2005; vi phm hp
đồng; Công ưc Viên 1980; vi phm thy trưc.
1. Đặt vn đ
Các hp đng trong hot đng thương mi thường những hp đng giá
tr lớn trong nhiu trường hp tính cht dây chuyền, tức s nh
hưởng ti li ích ca nhiu thương nhân khác nhau. Cho nên, khi hành vi vi
phm hp đng xy ra thì tn tht cho bên bvi phm thường không nhth
khiến hlâm vào tình trng khó khăn vtài chính. Do đó, vic bo vquyn và li
ích hp pháp cho bên bvi phm, đc bit giúp hkhôi phc li nhng li ích
kinh tế đã bmất đtiếp tc đu tư kinh doanh điu hết sc cn thiết. Vic khôi
phc li nhng li ích kinh tế đã bmất ca mt bên do hành vi vi phm hp đng
của bên kia chính là chc năng ca chế tài bi thưng thit hi.
2
Như vy, có thnói, chế tài bi thường thit hi một bin pháp pháp
quan trng giúp đp cho bên bthit hi nhng tn tht y ra bi hành vi vi
phm hp đồng. Tính phbiến ng như hiu qucủa giúp chế tài bi thưng
thit hi trthành bin pháp bo van toàn cho bên bvi phm. Tuy nhiên, các quy
định ca Luật Thương mi năm 2005 (LTM 2005”) vchế tài bi thưng thit hi
hin vn còn một số bất cp cn phi sa đi. Do đó, vic mt đánh giá chuyên
sâu vchế tài bi thưng thit hi là cần thiết, nhm hoàn thin nhng quy đnh ca
LTM 2005 về chế tài quan trng này.
2. Một số bt cp trong quy đnh ca Lut Thương mi năm 2005 vchế
tài bi thưng thit hại
2.1. Bất cp trong quy đnh vvi phm thy trước
Hành vi vi phm hp đng ca mt n điu kin đu tiên không ththiếu
để bên kia tháp dng các chế tài trong thương mi nói chung chế tài bi
thưng thit hi nói riêng. thế, mun áp dng chế tài bi thưng thit hi, trưc
tiên bên bvi phm phi chng minh đưc bên vi phm đã hành vi vi phm hp
đồng. Thông thưng thì sau khi hết hn thc hin nghĩa vsẽ sđể khng
định mt bên trong hp đng hành vi vi phm hp đng hay không, da trên
nhng gì mà hđã thhin.
Tuy nhiên, pháp lut thương mi ca mt squc gia trên thế giới, dnhư
Mỹ
1
mt sđiu ưc quc tế như Công ưc Viên 1980 vhợp đng mua bán
hàng hóa quc tế, đưa ra mt trưng hp đc bit mà theo đó, ngay ckhi chưa
hết thi hn thc hin nghĩa vụ, bên bvi phm đã thkhng đnh hành vi ca
bên kia hành vi vi phm hp đng quyn tuyên bhủy bhợp đng gọi
là vi phm thy trưc.
1
Xem mc 2-609, Blut Thương mi thng nht ca Hoa K2002 [Uniform Commercial Code],
https://www.law.cornell.edu/ucc/2/2-609, truy cp ngày 18/8/2023.
3
Theo Điu 72 ca Công ưc Viên 1980, nếu trưc ngày quy đnh cho vic thi
hành hp đng, thấy hiển nhiên rng mt bên sgây ra mt vi phm cơ bn đến
hợp đng, bên kia có thtuyên b hp đng bhủy bỏ. Nếu có đthi gi, bên nào
ý đnh tuyên bhợp đng bhủy bỏ thì phi gi mt thông báo hp cho bên
kia đ cho phép hcung cp nhng bảo đm đy đrằng h sẽ thc hin nghĩa v
của mình. Quy đnh này không áp dng nếu bên kia đã tuyên b rằng hsẽ không
thc hin nghĩa v
2
.
Công ưc Viên cũng dành riêng Điu 73 để quy đnh vvi phm thy trưc
trong trưng hp giao hàng từng phần
3
, theo đó:
- Nếu hp đng quy đnh giao hàng tng phn nếu skin mt bên không
thc hin mt nghĩa vliên quan đến mt hàng cu thành mt svi phm
bản đến hp đng vhàng đó thì bên kia thtuyên b hủy bỏ hợp đng v
phn lô hàng đó.
- Nếu skin mt bên không thc hin mt nghĩa vliên quan đến bt c
hàng nào cho phép bên kia do xác đáng đcho rng smt svi phm
bn đến hp đng vi các hàng sđưc giao trong tương lai thì hth
tuyên bhủy bỏ hợp đng đối vi các hàng tương lai đó vi điu kin phi làm
vic đó trong mt thi hn hp lý.
- Ngưi mua tuyên bhủy bỏ hợp đng đi vi bt khàng nào th
cùng mt lúc, tuyên bố hợp đng bị hủy bỏ đối vi các lô hàng đã giao hoc đi vi
các lô hàng sđưc giao trong tương lai nếu do tính liên kết, các lô hàng này không
thsử dụng đưc cho nhng mc đích do hai bên đã dtính vào lúc kết hp
đồng.
2
Xem Điu 72 Công ưc ca Liên Hip Quc về Hợp đng mua bán hàng hóa quc tế năm 1980,
https://uncitral.un.org/sites/uncitral.un.org/files/media-documents/uncitral/en/19-09951_e_ebook.pdf, truy cp ngày
18/08/2023.
3
Xem Điu 73 Công ưc ca Liên Hip Quc về Hợp đng mua bán hàng hóa quc tế năm 1980,
https://uncitral.un.org/sites/uncitral.un.org/files/media-documents/uncitral/en/19-09951_e_ebook.pdf, truy cập ngày
18/08/2023.
4
ththấy, các quy đnh ca Công ưc Viên rt cht ch, đy đ, bo v
cho quyn li ca cả bên bán bên mua, đng thi tháp dng cho tt ccác
loi hợp đng, không riêng hp đng giao hàng tng phn.
LTM 2005 trên tinh thn đưa pháp lut thương mi c ta đến gn hơn vi
thông lquc tế cũng đã đưa ra quy định vtrưng hp “vi phm nhìn thy trưc”
tại Điu 313. Cụ th, Điu 313 LTM 2005 quy đnh như sau:
- Trưng hp thỏa thun vgiao hàng, cung ng dch vtừng phn, nếu
một bên không thc hin nghĩa vcủa mình trong vic giao hàng, cung ng dch v
vic này cu thành mt vi phm bn đi vi ln giao hàng, cung ng dch v
đó thì bên kia có quyn tuyên b hubỏ hợp đng đi vi ln giao hàng, cung ng
dịch vụ.
- Trưng hợp một bên không thc hin nghĩa vđối vi mt ln giao hàng,
cung ng dch vcơ sđể bên kia kết lun rng vi phm cơ bn s xảy ra đi vi
nhng ln giao hàng, cung ng dch vsau đó thì bên bvi phm quyn tuyên
bố hu bỏ hợp đng đi với nhng ln giao hàng, cung ng dch vsau đó, vi
điu kin là bên đó phi thc hin quyn này trong thi gian hp lý.
- Trưng hp mt bên đã tuyên bhubỏ hợp đng đi vi mt ln giao hàng,
cung ng dch vthì bên đó vn có quyn tuyên b hubỏ hợp đng đi vi nhng
lần giao hàng, cung ng dch vđã thc hin hoc sthc hin sau đó nếu mi
quan hqua li gia các ln giao hàng dn đến vic hàng hoá đã giao, dch vđã
cung ng không thđưc sdụng theo đúng mc đích các bên đã dkiến vào
thi đim giao kết hợp đng.
Đây là đim mi ca LTM 2005 so vi LTM 1997. Tuy nhiên, có ththấy sự
điu chnh ca LTM 2005 về vi phm thy trưc rt hp, chmới dng li trưng
hợp giao hàng cung ng dch vtừng phn, trong khi vi phm thy trưc th
xảy ra tất cả các loi hp đng. Đồng thời, LTM 2005 ng chmới dng li
việc bảo vquyn li cho bên mua, bên sdụng dch vchkhông bo vcho bên
bán, bên cung ng dch v. Cụ th, Điu 313 LTM 2005 chđề cập đến các hành vi
vi phm ca phía bên bán, bên cung ng dch v, không đcập đến các hành vi
vi phm ca phía bên mua, bên sdng dch v. Trong khi trên thc tế, bên bán,
5
bên cung ng dch vcũng thbị lâm vào trưng hp khi chưa đến thi hn
thc hin nghĩa vnhưng hđã sđể khng đnh bên mua, bên s dụng dịch
vụ sẽ vi phm hp đng. Và s rất lý nếu theo lut h vẫn phi bràng buc vi
hợp đng ngay ckhi thy ràng bên kia, trưc khi đến hn đã gây ra nhng vi
phm bn hoc nhng tuyên bcách xsự ràng hsẽ không thc
hin nghĩa vụ của mình.
Quy đnh ca LTM 2005 vì vy là chưa toàn din và công bng.
2.2. Bất cp trong quy đnh vnghĩa vụ hạn chế tổn tht
Theo quy đnh ti khon 2 Điu 302 LTM 2005, giá trbồi thưng thit hi
bao gm những tn tht thc tế, trc tiếp bên bvi phm phi chu do bên vi
phm gây ra khon li trc tiếp bên b vi phm đáng l đưc ng nếu
không có hành vi vi phạm.
Để đưc bi thưng nhng tn tht nói trên, bên b vi phm nghĩa v
chng minh tn tht, mc đtổn tht do hành vi vi phm gây ra khon li trc
tiếp mà hđáng lđưc hưng nếu không có hành vi vi phm.
Ngoài ra, bên bvi phm còn phi thc hin nghĩa v hạn chế tổn tht. Nếu
bên b vi phm không thc hin nghĩa vhạn chế tn tht đó, bên vi phm hp
đồng có quyn yêu cu gim bt giá trbồi thưng thit hi bng mc tn tht đáng
lẽ có thể hạn chế đưc.
Đây mt quy đnh mang ý nghĩa thc tin cao ca LTM 2005, sth
hin ca nguyên tc thc hin hp đồng trung thc, thiện chí theo tinh thn hp tác
li nht cho các bên.
4
Tuy nhiên, LTM 2005 quy đnh như vy chưa hoàn
toàn công bng đi vi bên bthit hại, bởi nó buc bên bthit hi phi thc
hin nghĩa vhạn chế tổn tht ngay ckhi bên kia đã cố tình vi phm hp đng.
Trong khi đó, nếu mt bên đã c tình vi phm hp đng thì nghĩa h
không sthin chí tinh thn hp tác khi thc hin hp đng, hđã la chn
vic vi phm hp đng thay vì thc hin nghĩa v, điu đó lợi hơn cho họ
4
Điu 305 LTM 2005.
6
không tính đến li ích ca đi tác. vậy, srất nếu pháp lut buc bên b
thit hi phi thhin sthin chí, hp tác đi vi bên đã không thin chí vi mình
bằng vic phi nlực hn chế tổn tht. ràng không ng bằng khi mt bên đã
cố tình vi phm hp đng vì li ích ca bn thân mình, li còn quyn đòi hi
bên kia phi có nghĩa vụ hạn chế tn tht đđưc gim bt stin phi bi thưng.
Ngoài ra, LTM 2005 cũng chưa dliu đưc các vn đthny sinh trên
thc tế như:
- Chưa dự liu đưc các chi phí phát sinh do vic áp dng các biện pháp hp
để hạn chế tổn tht sdo bên nào gánh chịu.
Nghĩa vhạn chế tổn tht đưc hiu nhng công vic bên bthit hi
phi tiến hành nhm hn chế đến mc thnhng tn tht do hành vi vi phm
hợp đng gây ra. dnhư: bảo qun hàng hóa (che chắn, lưu kho, lưu bãi,…), t
chc bán hàng hóa trong trưng hp bên mua không nhn hàng, hoc mua hàng
hóa khác đthay thế trong trưng hp bên bán không giao hàng. nhng bin
pháp hạn chế tổn tht này thlàm phát sinh các chi phí khi áp dụng, chẳng hn
nchi phí lưu kho, lưu bãi. LTM 2005 vn chưa quy đnh vvic nhng chi
phí phát sinh này sdo bên nào phi gánh chu.
- Chưa dliu được trưng hp bên bvi phm hp đng đã áp dng các
bin pháp hp đhạn chế tổn tht, nhưng li không thành công thm chí làm
tăng tn thất thì sẽ xlý như thế nào.
Theo yêu cu ca LTM 2005 thì bên bị thit hi phi áp dng các bin pháp
hợp đhạn chế tổn tht do hành vi vi phm hp đng gây ra. Tuy nhiên, trên
thc tế thể xy ra tờng hp là mc dù bên bthit hi đã cân nhắc và thin chí
khi áp dng các bin pháp hp lý nhằm hạn chế tổn tht, nhưng kết quhọ có th
không nhng không hạn chế đưc tn thất còn làm gia tăng tn tht. LTM 2005
vẫn chưa xác đnh rõ những tn thất tăng thêm trong trưng hp này sdo bên nào
gánh chịu.
7
Đây là nhng thiếu sót trong quy đnh ca LTM 2005 và có thgây khó khăn
cho vic gii quyết tranh chp gia các bên.
2.3. Bt cp trong quy đnh của Điu 294 Luật Thương mại năm 2005 v
các trường hp miễn trách nhim
(i) Bt cp trong quy đnh vtrưng hp min trách nhim theo tha thun
của các bên
Trên thc tế, rt nhiu hp đng khi kết, các bên tha thun trưc
nhng trưng hp mt bên đưc min trtrách nhim ngay ckhi bên đó không
thc hin hay thc hin không đúng hp đng.
Vic tha nhn giá tr pháp ca các tha thun min trách nhim do vi
phm hp đng thhin stôn trng tdo ý chí ca các bên tham gia kết hp
đồng. Tuy nhiên, quy đnh ca LTM 2005 vtrưng hợp min trách do tha thun
của các bên vn còn thiếu cht chvà chưa toàn din vì chưa quy đnh điu kin đ
các tha thun min trách nhiệm có giá trpháp lý
5
.
Về vấn đ hiu lc ca tha thun min trách nhiệm, Bluật Dân scủa Đc
quy đnh, bên vi phm sẽ không đưc min trtrách nhim trong tương lai nếu cý
vi phm hp đng. Quy đnh này đồng nghĩa vi vic các tha thun min trtrách
nhim skhông có giá trpháp lý nếu hành vi vi phm hp đng là do mt bên cý
thc hiện
6
. Bộ lut Dân sca Nga cũng khng đnh: Tha thun min trtrách
nhim đưc kết trưc đó s không giá tr trong trưng hp cố ý vi phạm
nghĩa vụ”
7
. Pháp lut ca Thy cũng quan đim tương t, theo Điu 100 Bộ
lut Dân scủa Thuy Sĩ thì điu khoản min trtrách nhim sbị hiu trong
5
Dương Anh Sơn & Nguyn Ngc Sơn, Tác đng ca các hình thc li đến vic xác đnh trách nhim hp đng
nhìn tgóc đnguyên tc trung thc và thin chí,
https://phapluatdansu.edu.vn/2008/10/07/06/19/1786/, truy cp ngày 18/8/2023.
6
Xem khon 3 Điu 276 Blut Dân sự ca Đức, https://www.gesetze-im-
internet.de/englisch_bgb/englisch_bgb.html#p0854, truy cập ngày 18/08/2003.
7
Xem khon 4 Điu 401 Blut Dân sự của Nga,
https://www.wto.org/english/thewto_e/acc_e/rus_e/wtaccrus58_leg_360.pdf, truy cập ngày 18/08/2023.
8
trưng hp thit hi xy ra do c ý hoc sut nghiêm trng (gross
negligence)
8
.
Về vấn đnêu trên, LTM 2005 chquy đnh bên vi phm nghĩa vhợp đng
đưc min trtrách nhim nếu ti thi đim ký kết hợp đng các bên tha thun
về trưng hp min trđó, hoàn toàn không sphân bit gia hành vi vi
phm hp đng do ý vi hành vi vi phm cý. Điu này thdẫn ti trưng
hợp mt bên trong quan hhợp đng (thưng là bên mạnh hơn về mặt kinh tế và có
kinh nghim hơn) li dng các điu khon min trtrách nhim đctình vi phm
hợp đng mà không phi bi thưng thit hi.
(ii) Thiếu quy đnh về min trách nhim cho mt bên trong trưng hp bên
thba đưc hthuê rơi vào trưng hp bt khkháng
Để minh chng cho nhn đnh này, tác giđưa ra mt dcụ thnhư sau:
Trong mt vtranh chp về hợp đng mua bán xi măng gia mt công ty Vit Nam
và mt công ty n Đ, bđơn có đưa ra mt lp lun như sau: “bđơn ký hợp đng
mua xi măng ca nhà cung cp thuc c th ba nhưng nhà cung cấp gp sự
kin bất khkháng (nhà máy ngng sn xut do lt) không giao đưc hàng cho
bị đơn nên bđơn không giao đưc hàng cho nguyên đơn. Do đó bđơn cũng gp
sự kin bất kh kháng đưc min trách nhim”. Trung tâm trng tài quc tế Vit
Nam đã đưa ra lp lun bác bbđơn đã biết trưc vsự kin lt nên không
thcoi đó skin bt khkháng.
9
Vậy, gisử bị đơn hoàn toàn không thbiết
trưc vsự kin lt thì snhư thế nào, liu bđơn đưc coi rơi vào trưng
hợp xảy ra sự kin bất khkháng hay không, khi mà trong vtranh chp này không
phi bn thân bđơn bên thba nhà cung cp ca bđơn rơi vào trưng
hợp xảy ra sự kiện bất khkháng.
8
Xem khon 1 Điu 100 Blut Dân sự của Thy Sĩ,
https://fedlex.data.admin.ch/filestore/fedlex.data.admin.ch/eli/cc/27/317_321_377/20210101/en/pdf-a/fedlex-data-
admin-ch-eli-cc-27-317_321_377-20210101-en-pdf-a.pdf, truy cập ngày 18/08/2023.
9
Trung tâm Trng tài quốc tế Vit Nam, 50 phán quyết Trng tài Quc tế chọn lọc, Nhà xut bản Chính Tr, Hà Ni,
năm 2002, tr.132-133.
9
Sỡ , chúng tôi đặt vn đnhư vy LTM 2005 cBộ lut Dân s
2015 (BLDS 2015) đều chưa quy đnh cụ thnào vvic xem xét min trách
nhim cho mt bên trong hp đng khi bên thba đưc hthuê đthc hin toàn
bộ hay mt phn hp đng rơi vào trưng hp xảy ra skin bất khkháng.
ràng, đây mt đim thiếu sót ca LTM 2005 sgây ra khó khăn cho các
quan gii quyết tranh chấp khi xem xét gii quyết các vtranh chp đòi bi thưng
thit hi.
2.4. Sự thiếu rõ ràng trong quy đnh vcác loại thit hi đưc bi thưng
Theo quy đnh của LTM 2005 thì các loi thit hi đưc bi thưng gm
“các tn tht thc tế, trc tiếp bên bvi phm phi chu do bên vi phm gây ra
và khon li trc tiếp mà bên bvi phm đáng lđưc ng nếu không có hành vi
vi phạm”.
10
ththấy, quy đnh này không tht s ràng vvic nhng thit hi
phi vt cht (như s tổn hi uy tín ca thương nhân hay uy tín ca nhãn hiu hàng
hóa, thương phm) thuc nghĩa vbồi thưng ca bên vi phạm hp đng hay
không. Trong khi đó, snhững trưng hp đi vi bên bvi phm, nhng
tổn tht phi vt cht mi là nhng tn tht đáng knht.
Sự không ràng của LTM 2005 đã dn ti nhng cách hiu khác nhau.
quan điểm cho rng, các thit hi đưc bi thưng theo LTM 2005 ch bao gm các
tổn tht vt chất.
11
Tuy nhiên, cũng quan đim cho rng, LTM 2005 chnói
chung “các tn tht thc tế, trc tiếp…”, do đó, nhng thit hi thđưc bi
thưng nên đưc hiu theo ng bao gm cthit hại vật cht thit hi tinh
thn.
12
Về vấn đnày, BLDS 2015 quy đnh khá ràng như sau: “Theo yêu cầu
của người quyền, a án thể buộc người nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về
10
Khon 2 Điu 302 LTM 2005.
11
Xem Trương Nht Quang, Hiu lc ca tha thun bi thưng thit hi ưc tính, Tạp chí Nghiên cu lập pháp, s
05, năm 2021, tr.20.
12
Xem Đỗ Văn Đi, Lut hp đng Vit Nam - Bản án và bình lun bn án, tp 2, Nhà xut bn Đi học Quc gia
TP. HChí Minh, năm 2020, tr.528.
10
tinh thần cho người có quyền. Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội
dung vụ việc.
Theo chúng tôi, LTM 2005 cần quy định ràng theo hướng phù hợp với
quy định của BLDS 2015. Điều này giúp các bên tham gia hợp đồng cũng như các
chủ thể giải quyết tranh chấp cách hiểu thống nhất ràng về quy định của
luật.
2.5. Bt cp trong quy đnh riêng vtrách nhim bi thưng thit hi ca
thương nhân kinh doanh dịch vgiám đnh
LTM 2005 nhng quy đnh riêng cho thương nhân kinh doanh dch v
giám đnh vtrách nhim bi thưng thiêt hi ngoài các quy đnh chung bt c
thương nhân nào cũng phi tuân thđể nhm ngăn chn hành vi vi phm ca h.
Theo đó, thương nhân kinh doanh dch vgiám đnh phi bi thưng thit hi phát
sinh cho khách hàng trc tiếp yêu cu giám đnh trong trưng hp thương nhân đó
cấp chng thư giám đnh kết qusai do li cý ca mình (khoản 2 Điu 266
LTM 2005). Còn nếu kết qugiám đnh sai do lỗi ý thì thương nhân kinh
doanh dch vgiám đnh không phi bi thưng thit hi phát sinh, thay vào đó, họ
sẽ phi trtin pht cho khách hàng vi mc pht ti đa gp i ln thù lao dch
vụ giám đnh (khoản 1 Điu 266 LTM 2005). Cth, Điu 266 LTM 2005 quy
định như sau:
- Trưng hp thương nhân kinh doanh dch v giám đnh cp chng thư
giám đnh có kết qusai do li vô ý ca mình thì phi trtin pht cho khách hàng.
Mức pht do các bên tha thun, nhưng không t quá i ln thù lao dịch v
giám đnh.
- Trưng hp thương nhân kinh doanh dch v giám đnh cp chng thư
giám đnh có kết qusai do li cý ca mình thì phi bi thưng thit hi phát sinh
cho khách hàng trc tiếp yêu cu giám đnh
13
.
13
Điu 266 LTM 2005.
11
Quy định nêu trên ng chng tính răn đe mnh mđối vi thương nhân
kinh doanh dch vgiám đnh ch cần vi phm vi li ý thôi thương nhân
kinh doanh dch vgiám đnh đã bpht vi mc ti đa lên tới ời lần thù lao
dịch v giám đnh, mt con s không phi nh cũng ln hơn mc pht vi
phm thông thưng, thông thưng mc pht vi phm không đưc quá 08% giá tr
phn nghĩa vụ hợp đng bvi phạm
14
. Tuy nhiên, quy đnh ca LTM 2005 như vy
chưa hợp lý. Tính bt hp ca quy đnh đó thhin ch, chế tài bi thưng
thit hi chthđưc áp dng khi thit hi thc tế xảy ra, do đó, scó trưng
hợp thương nhân kinh doanh dch vgiám đnh cp chng thư giám đnh sai vi li
cố ý nhưng li không phi gánh chu chế tài nào cả - đó là trưng hp không xy ra
thit hi. Như vậy, theo quy đnh trên thì nếu vi phm vi li ý, thương nhân
kinh doanh dch vgiám đnh luôn luôn phi gánh chu chế tài, còn nếu vi phm
với li cý thì khi h không phi gánh chu chế tài nào c, trong khi li cý rõ
ràng là có mc đnghiêm trng hơn li vô ý rt nhiu.
3. Mt skiến nghnhm hoàn thin các quy đnh ca Luật Thương mại
2005 vchế tài bi thưng thit hại
Thnht, liên quan ti quy đnh vvi phm thy trưc. Tác gikiến ngh
cần phi sa đổi, bsung LTM 2005 theo ng mrộng phm vi điu chnh ca
điu khon vi phm thy trưc cho tt ccác loi hp đng chkhông ch hp
đồng giao hàng, cung ng dch vtng phần phải bảo vcả quyn li của bên
bán, bên cung ng dch v.
Về phn này, các nhà làm lut có ththam kho quy đnh ca Công ưc Viên
1980 tại các Điu 72 và 73 như đã phân tích ở mục 2.1.
Cụ th, các nhà làm lut cần bsung mt điu luật mới cho LTM 2005, để
quy đnh v vic hủy bỏ hp đng nói chung trong trưng hp vi phm thy
trước (chkhông chgii hn đi vi hợp đng giao hàng, cung ng dch vtừng
14
Điu 301 LTM 2005.
12
phn như quy đnh hin tại Điu 313). Điu Lut này thđưc đặt trưc Điu
313, với nội dung tương tự như Điu 72 của Công ước Viên 1980:
“- Nếu trưc ngày quy đnh cho vic thi hành hp đng, thy hin nhiên
rằng mt bên sgây ra mt vi phm chyếu đến hp đng, bên kia có thtuyên b
hợp đng bị hủy.
- Nếu có đthời gi, bên nào ý đnh tuyên bố hợp đng bị hủy thì phi gi
một thông báo hp cho bên kia đcho phép hcung cp nhng bo đm đy đ
rằng họ sẽ thc hin nghĩa vụ của mình.
- Các quy đnh ca khon trên không áp dng nếu bên kia đã tuyên brằng
họ sẽ không thc hin nghĩa vụ ca mình.”
Ngoài ra, cn sa đi Điu 313 LTM 2005 theo ng bo v quyn li
chung cho tt c các bên, bao gm cả bên mua và bên bán, bên cung ng dch v
bên sdụng dch vụ. Theo đó, tác giđề xut sa đi khon 1 và khon 2 Điu 313
như sau:
1. Trưng hp thỏa thun vgiao hàng, cung ng dch vtừng phn,
nếu mt bên không thc hin nghĩa vcủa mình vic này cu thành mt vi
phm bn hp đng vhàng hoc phn dch v đó, thì bên kia quyn
tuyên bhuỷ bỏ hợp đng về phn lô hàng hoặc phn dch vđó.”
2. Trưng hợp mt bên không thc hin nghĩa vđối vi mt lô hàng, hoc
một phn dch v sđể bên kia kết lun rng vi phm bn sxảy ra đi
với nhng lô hàng, hoc nhng phn dch vsau đó, thì bên bvi phm có quyn
tuyên bhubỏ hợp đng đối vi các hàng hoc các phn dch vsau đó, vi
điu kin là bên đó phi thc hin quyn này trong thi gian hp lý.
Thhai, liên quan ti quy đnh vnghĩa vhạn chế tổn tht. Đcông bng
hơn đi vi n bthit hi, tác gikiến nghvic sửa đi quy đnh ti Điu 305
LTM 2005 với ni dung cthnhư sau: “Bên yêu cu bi thưng thit hi phi áp
dụng các bin pháp hp đhạn chế tổn tht kcả tổn tht đi vi khon li trc
tiếp đáng lđưc ng do hành vi vi phm hp đng gây ra; nếu bên yêu cu bi
13
thưng thit hi không áp dng các bin pháp đó, bên vi phm hp đng quyn
yêu cu gim bt gtrbồi thưng thit hi bng mc tn tht đáng lthhạn
chế đưc, trtrường hp vi phm hp đng vi li cố ý.”
Đồng thi, LTM 2005 cn phi bsung các quy đnh đ làm các vn đ
như: các chi phí phát sinh do vic áp dng các bin pháp hp đhạn chế tổn tht
sẽ do bên nào gánh chu; nếu bên bvi phạm hp đng đã áp dng các bin pháp
hợp đhạn chế tổn tht, nhưng li không thành công hay thm chí còn làm tăng
tổn tht, vy thì bên vi phm phi bi thưng các chi phí tăng thêm này hay
không. Về vấn đnày, các nhà làm lut Vit Nam ththam kho mt squy
định ca các tchc quc tế hoc ca các c nn lp pháp tiên tiến. Chng
hạn, các án lệ của Vương quốc Anh đã xác đnh, bên bvi phm thđòi li các
chi phí phát sinh trong quá trình hthc hin các c hp đgim thiu tn
tht, ngay ckhi các c đó không thành công hay thm chí còn làm gia tăng tn
thất.
15
Bộ nguyên tc UNIDROIT vHợp đng thương mi quc tế cũng quy
định tương ttại Điu 7.4.8, theo đó: “Bên bthit hi quyn thu hi bt kchi
phí hp lý nào đã phát sinh trong nỗ lực gim thiu thit hại”.
16
Thba, liên quan ti tng hp min trách nhim do tha thun ca các
bên. Đcông bng hơn và bo vtốt hơn cho bên yếu thế trong quan hhợp đng,
tác gikiến ngh nên quy đnh bổ sung cho điểm a khoản 1 Điu 294 LTM 2005,
tương tnhư quy đnh tại khon 3 Điu 276 Bộ lut Dân scủa Đức với ni dung
cụ thlà: thỏa thun min trtrách nhim gia các bên skhông giá trpháp
lý nếu mt bên cý vi phm hp đng”.
Th, LTM 2005 BLDS 2015 đu chưa quy đnh nào vvic xem
xét min trách nhiệm cho mt n trong hp đng khi bên th ba đưc hthuê đ
thc hin toàn bhay mt phn hp đng rơi vào trưng hp xảy ra sự kin bt kh
15
Ví d, Lagden v. O’Connor [2004] 1 AC 1067, Lord Scott, para. 78,
https://publications.parliament.uk/pa/ld200304/ldjudgmt/jd031204/lagden-3.htm, truy cp ngày 18/08/2023.
16
Xem Điu 7.4.8 Bộ nguyên tc UNIDROIT về Hp đng thương mi quc tế, https://www.unidroit.org/wp-
content/uploads/2021/06/Unidroit-Principles-2016-English-bl.pdf, truy cp ngày 18/08/2023.
14
kháng. Rõ ràng đây là mt đim thiếu sót ca LTM 2005 và sgây ra khó khăn cho
Tòa án khi xem xét gii quyết các vtranh chp đòi bi thưng thit hi.
Về vấn đnày, trưc đây, khon 3 Điu 40 ca Pháp lnh Hp đng kinh tế
năm 1989 đã quy đnh. Theo đó, bên vi phm hp đng kinh tế sẽ đưc gim
trách nhim hoc min trách nhim hoàn toàn trong trưng hp do bên thba vi
phm hp đng kinh tế với bên vi phm nhưng bên thba không phi chu trách
nhim tài sn do hrơi vào trưng hp gp thiên tai, đch hocác tr lực khách
quan khác không thng trưc đưc đã thi hành mi bin pháp cn thiết đ
khc phc hoc do phi thi hành lnh khn cp ca quan n c thm
quyn theo quy đnh ca pháp luật
17
.
Tuy nhiên theo quan đim ca tác gi, quy đnh ca Pháp lnh Hp đng
kinh tế như vy chưa ng, không sphân bit khi nào thì bên vi phm
đưc gim trách nhim, khi nào thì đưc min trách nhiệm quy đnh đó cũng
không hp lý. Tính không hp thhin ch, theo Pháp lnh thì chcần bên th
ba rơi vào c trưng hp gim hay min trách nhim như đã nêu bên vi phm
hợp đng kinh tế đã thđưc min hoc gim trách nhim mà không cn xét ti
liu rng liu vic vi phm đó ca bên thba khiến cho bên vi phm hp đng
kinh tế rơi vào các trưng hp không ththc hin hin hp đồng đã áp dng
mọi bin pháp khc phc cn thiết hay không. Như vy, mc dù Pháp lnh Hp
đồng kinh tế đim tiến b đã quy đnh v trưng hp min, gim trách
nhim cho mt bên trong hp đng khi bên thba đưc hthuê đthc hiện hp
đồng rơi vào các trưng hp đưc min trách nhim, tuy nhiên đim hn chế quy
định ca Pháp lnh còn chưa rõ ràng và thiếu tính hp lý như đã phân tích trên.
Chính thế, theo quan đim ca tác gi, đxây dng mt quy đnh hp
về vic min trách nhim cho bên vi phm hp đng khi bên th ba được họ thuê
để thc hin mt phn hay toàn bhợp đng rơi vào trưng hp bt khkháng, các
nhà làm lut nên tránh nhng hn chế mà Pháp lnh Hp đng kinh tế đã mc phi.
17
Xem Điu 40 Pháp lnh Hp đng kinh tế năm 1989.
15
Về vấn đnày các nhà làm luật th tham khảo quy đnh ca Công ưc
Viên 1980 về Hợp đng mua bán hàng hóa quc tế
18
. Công ưc đã quy đnh rt hp
lý và rõ ràng:
Theo khon 1 Điu 79 Công ưc Viên: “Một bên sđưc min trách nhim
về vic không thực hin bt kmột nghĩa vnào đó nếu hchng minh đưc rng
vic không thc hin y là do mt tr ngi nm ngoài skim soát ca hvà ngưi
ta không thchđi mt ch hp rng hphi tính ti trngi đó vào lúc
kết hp đng hoc là tránh được hay khc phc các hu quả của nó”.
Theo khon 2 Điu 79 Công ưc Viên: “Nếu mt bên không thc hin nghĩa
vụ của mình do bên th ba hthđthc hin toàn phn hay mt phn hp
đồng không thc hin nghĩa vthì bên đó chđưc min trách nhim nếu:
a. Hđưc min trách nhim chiếu theo quy đnh ti khon 1, và
b. Nếu bên thba cũng sđưc min trách khi các quy đnh ca khon 1 áp
dụng cho họ.”
Thnăm, cần sa đổi khoản 1 Điu 302 LTM 2005 theo ng phù hp vi
quy đnh ca BLDS 2015, theo đó cho phép bên bvi phm đưc yêu cu đp
nhng tn tht phi vật cht hphi gánh chu do hành vi vi phm hp đng ca
bên còn li. Cụ thể, cần quy định như sau: “Bồi thưng thit hi vic bên vi
phm bi thưng nhng tn tht do hành vi vi phm hp đng gây ra cho bên bvi
phạm. Nhng tổn tht này bao gồm tổn tht vật cht tổn thất phi vật cht.”
Quy định như trên giúp các bên tham gia hp đng cũng như các chủ thgii
quyết tranh chp cách hiu thng nht vquy đnh ca lut. Từ đó, tránh đưc
nhng tranh cãi không đáng có. Đồng thi cũng to chế pháp đbên bvi
phm có thyêu cu bù đp mt cách đy đủ mọi tn tht mà hphi gánh chu.
18
Xem Điu 79 Công ưc ca Liên Hip Quc về Hợp đng mua bán hàng hóa quc tế năm 1980,
https://uncitral.un.org/sites/uncitral.un.org/files/media-documents/uncitral/en/19-09951_e_ebook.pdf, truy cp ngày
18/08/2023.
16
Thsáu, các nhà làm lut cn phi sa đi khoản 2 Điu 266 LTM 2005 v
trách nhim bi thưng thit hi ca thương nhân kinh doanh dch vgiám đnh đ
quy đnh đó mang tính hp hơn. Cthlà, cn phi quy đnh trong trưng hp
thương nhân kinh doanh dch vụ giám đnh vi phm vi li cý thì ngoài vic phi
bồi thưng thit hi h còn phi gánh chu cchế tài pht vi phạm, có th quy đnh
như sau: Trưng hp thương nhân kinh doanh dch vgiám đnh cp chng thư
giám đnh kết qusai do li c ý ca mình thì phi bi thưng thit hi phát
sinh cho khách hàng trc tiếp yêu cu giám đnh, đồng thi phải trtin pht cho
khách hàng. Mc pht do các bên tha thun, nhưng không t quá i ln
thù lao dch vgiám đnh.”
4. Kết lun
Trong bài viết, chúng tôi đã đưa ra các đánh giá chuyên sâu vchế tài
bồi thưng thit hại một số bất cập trong quy đnh của LTM 2005 về chế tài
quan trng này. Trên sở đó, chúng tôi cũng đề xut các kiến nghnhm hoàn
thin các quy định của LTM 2005 về chế tài bồi thưng thit hại, giúp LTM 2005
có thphù hp hơn vi thc tin cuc sng và phát huy đưc nhiu hơn na vai trò
của LTM trong nn kinh tế thtrưng.
Tài liu tham khảo
1 Bộ luật Dân snăm 2015.
2. Lut Thương mại năm 2005.
3. Pháp lnh Hp đng kinh tế năm 1989.
4. Bộ lut Dân s Đức, https://www.gesetze-im-
internet.de/englisch_bgb/englisch_bgb.html#p0854, truy cập ngày 18/8/2003.
5. Bộ lut Thương mi thng nht ca Hoa K năm 2002,
https://www.law.cornell.edu/ucc/2/2-609, truy cp ngày 18/8/2023.
17
6. Bộ lut Dân s Nga,
https://www.wto.org/english/thewto_e/acc_e/rus_e/wtaccrus58_leg_360.pdf, truy
cập ngày 18/8/2023.
7. Bộ lut Dân s Thụy ,
https://fedlex.data.admin.ch/filestore/fedlex.data.admin.ch/eli/cc/27/317_321_377/
20210101/en/pdf-a/fedlex-data-admin-ch-eli-cc-27-317_321_377-20210101-en-
pdf-a.pdf, truy cập ngày 18/8/2023.
8. Công ưc của Liên Hp quốc về Hợp đng mua bán hàng hóa quc tế m
1980,https://uncitral.un.org/sites/uncitral.un.org/files/media-
documents/uncitral/en/19-09951_e_ebook.pdf, truy cp ngày 18/8/2023.
9. Bộ nguyên tc UNIDROIT v Hp đng thương mi quc tế,
https://www.unidroit.org/wp-content/uploads/2021/06/Unidroit-Principles-2016-
English-bl.pdf, truy cp ngày 18/8/2023.
10. Lagden v. O’Connor [2004] 1 AC 1067, Lord Scott, para. 78,
https://publications.parliament.uk/pa/ld200304/ldjudgmt/jd031204/lagden-3.htm,
truy cp ngày 18/8/2023.
11. Dương Anh Sơn & Nguyn Ngc Sơn, Tác đng ca các hình thc li đến vic
xác đnh trách nhim hp đng nhìn tgóc đnguyên tc trung thc thin
chí, https://phapluatdansu.edu.vn/2008/10/07/06/19/1786/, truy cp ngày
18/8/2023.
12. Đỗ Văn Đại, Lut hp đng Vit Nam - Bản án bình lun bn án, tp 2,
Nhà xut bn Đại học Quốc gia TP.HChí Minh, năm 2020.
13. Trương Nht Quang, Hiu lc ca tha thun bi thưng thit hi ưc tính,
Tạp chí Nghiên cứu lp pháp, số 05, năm 2021.
14. Trung tâm Trng tài quốc tế Vit Nam, 50 phán quyết Trng tài Quc tế
chọn lọc, N xut bản Chính Tr, Hà Nội, năm 2002.

Preview text:

MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI 2005
VỀ CHẾ TÀI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
Ths. Đỗ Trần Hà Linh* Tóm tắt:
Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là một biện pháp pháp lý quan
trọng giúp bù đắp cho bên bị thiệt hại những tổn thất gây ra bởi hành vi vi phạm
hợp đồng. Tính phổ biến cũng như hiệu quả của nó giúp chế tài bồi thường thiệt
hại trở thành biện pháp bảo vệ an toàn cho bên bị vi phạm. Tuy nhiên, những quy
định của Luật Thương mại năm 2005 về chế tài bồi thường thiệt hại hiện vẫn còn
một số bất cập cần phải được sửa đổi. Do đó, việc có một đánh giá chuyên sâu về
chế tài bồi thường thiệt hại là cần thiết nhằm hoàn thiện những quy định của Luật
Thương mại năm 2005 về chế tài quan trọng này.
Từ khóa: chế tài bồi thường thiệt hại; Luật Thương mại 2005; vi phạm hợp
đồng; Công ước Viên 1980; vi phạm thấy trước. 1. Đặt vấn đề
Các hợp đồng trong hoạt động thương mại thường là những hợp đồng có giá
trị lớn và trong nhiều trường hợp nó có tính chất dây chuyền, tức là có sự ảnh
hưởng tới lợi ích của nhiều thương nhân khác nhau. Cho nên, khi có hành vi vi
phạm hợp đồng xảy ra thì tổn thất cho bên bị vi phạm thường không nhỏ và có thể
khiến họ lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính. Do đó, việc bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho bên bị vi phạm, đặc biệt là giúp họ khôi phục lại những lợi ích
kinh tế đã bị mất để tiếp tục đầu tư kinh doanh là điều hết sức cần thiết. Việc khôi
phục lại những lợi ích kinh tế đã bị mất của một bên do hành vi vi phạm hợp đồng
của bên kia chính là chức năng của chế tài bồi thường thiệt hại.
* Giảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng.
Như vậy, có thể nói, chế tài bồi thường thiệt hại là một biện pháp pháp lý
quan trọng giúp bù đắp cho bên bị thiệt hại những tổn thất gây ra bởi hành vi vi
phạm hợp đồng. Tính phổ biến cũng như hiệu quả của nó giúp chế tài bồi thường
thiệt hại trở thành biện pháp bảo vệ an toàn cho bên bị vi phạm. Tuy nhiên, các quy
định của Luật Thương mại năm 2005 (“LTM 2005”) về chế tài bồi thường thiệt hại
hiện vẫn còn một số bất cập cần phải sửa đổi. Do đó, việc có một đánh giá chuyên
sâu về chế tài bồi thường thiệt hại là cần thiết, nhằm hoàn thiện những quy định của
LTM 2005 về chế tài quan trọng này.
2. Một số bất cập trong quy định của Luật Thương mại năm 2005 về chế
tài bồi thường thiệt hại
2.1. Bất cập trong quy định về vi phạm thấy trước
Hành vi vi phạm hợp đồng của một bên là điều kiện đầu tiên không thể thiếu
để bên kia có thể áp dụng các chế tài trong thương mại nói chung và chế tài bồi
thường thiệt hại nói riêng. Vì thế, muốn áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại, trước
tiên bên bị vi phạm phải chứng minh được bên vi phạm đã có hành vi vi phạm hợp
đồng. Thông thường thì sau khi hết hạn thực hiện nghĩa vụ sẽ có cơ sở để khẳng
định một bên trong hợp đồng có hành vi vi phạm hợp đồng hay không, dựa trên
những gì mà họ đã thể hiện.
Tuy nhiên, pháp luật thương mại của một số quốc gia trên thế giới, ví dụ như
Mỹ1 và một số điều ước quốc tế như Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế, có đưa ra một trường hợp đặc biệt mà theo đó, ngay cả khi chưa
hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ, bên bị vi phạm đã có thể khẳng định hành vi của
bên kia là hành vi vi phạm hợp đồng và có quyền tuyên bố hủy bỏ hợp đồng – gọi
là vi phạm thấy trước.
1 Xem mục 2-609, Bộ luật Thương mại thống nhất của Hoa Kỳ 2002 [Uniform Commercial Code],
https://www.law.cornell.edu/ucc/2/2-609, truy cập ngày 18/8/2023. 2
Theo Điều 72 của Công ước Viên 1980, nếu trước ngày quy định cho việc thi
hành hợp đồng, mà thấy hiển nhiên rằng một bên sẽ gây ra một vi phạm cơ bản đến
hợp đồng, bên kia có thể tuyên bố hợp đồng bị hủy bỏ. Nếu có đủ thời giờ, bên nào
có ý định tuyên bố hợp đồng bị hủy bỏ thì phải gửi một thông báo hợp lý cho bên
kia để cho phép họ cung cấp những bảo đảm đầy đủ rằng họ sẽ thực hiện nghĩa vụ
của mình. Quy định này không áp dụng nếu bên kia đã tuyên bố rằng họ sẽ không thực hiện nghĩa vụ2.
Công ước Viên cũng dành riêng Điều 73 để quy định về vi phạm thấy trước
trong trường hợp giao hàng từng phần3, theo đó:
- Nếu hợp đồng quy định giao hàng từng phần và nếu sự kiện một bên không
thực hiện một nghĩa vụ có liên quan đến một lô hàng cấu thành một sự vi phạm cơ
bản đến hợp đồng về lô hàng đó thì bên kia có thể tuyên bố hủy bỏ hợp đồng về phần lô hàng đó.
- Nếu sự kiện một bên không thực hiện một nghĩa vụ có liên quan đến bất cứ
lô hàng nào cho phép bên kia có lý do xác đáng để cho rằng sẽ có một sự vi phạm
cơ bản đến hợp đồng với các lô hàng sẽ được giao trong tương lai thì họ có thể
tuyên bố hủy bỏ hợp đồng đối với các lô hàng tương lai đó với điều kiện phải làm
việc đó trong một thời hạn hợp lý.
- Người mua tuyên bố hủy bỏ hợp đồng đối với bất kỳ lô hàng nào có thể
cùng một lúc, tuyên bố hợp đồng bị hủy bỏ đối với các lô hàng đã giao hoặc đối với
các lô hàng sẽ được giao trong tương lai nếu do tính liên kết, các lô hàng này không
thể sử dụng được cho những mục đích do hai bên đã dự tính vào lúc ký kết hợp đồng.
2 Xem Điều 72 Công ước của Liên Hiệp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980,
https://uncitral.un.org/sites/uncitral.un.org/files/media-documents/uncitral/en/19-09951_e_ebook.pdf, truy cập ngày 18/08/2023.
3 Xem Điều 73 Công ước của Liên Hiệp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980,
https://uncitral.un.org/sites/uncitral.un.org/files/media-documents/uncitral/en/19-09951_e_ebook.pdf, truy cập ngày 18/08/2023. 3
Có thể thấy, các quy định của Công ước Viên rất chặt chẽ, đầy đủ, bảo vệ
cho quyền lợi của cả bên bán và bên mua, đồng thời có thể áp dụng cho tất cả các
loại hợp đồng, không riêng hợp đồng giao hàng từng phần.
LTM 2005 trên tinh thần đưa pháp luật thương mại nước ta đến gần hơn với
thông lệ quốc tế cũng đã đưa ra quy định về trường hợp “vi phạm nhìn thấy trước”
tại Điều 313. Cụ thể, Điều 313 LTM 2005 quy định như sau:
- Trường hợp có thỏa thuận về giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần, nếu
một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc giao hàng, cung ứng dịch vụ
và việc này cấu thành một vi phạm cơ bản đối với lần giao hàng, cung ứng dịch vụ
đó thì bên kia có quyền tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với lần giao hàng, cung ứng dịch vụ.
- Trường hợp một bên không thực hiện nghĩa vụ đối với một lần giao hàng,
cung ứng dịch vụ là cơ sở để bên kia kết luận rằng vi phạm cơ bản sẽ xảy ra đối với
những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ sau đó thì bên bị vi phạm có quyền tuyên
bố huỷ bỏ hợp đồng đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ sau đó, với
điều kiện là bên đó phải thực hiện quyền này trong thời gian hợp lý.
- Trường hợp một bên đã tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với một lần giao hàng,
cung ứng dịch vụ thì bên đó vẫn có quyền tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với những
lần giao hàng, cung ứng dịch vụ đã thực hiện hoặc sẽ thực hiện sau đó nếu mối
quan hệ qua lại giữa các lần giao hàng dẫn đến việc hàng hoá đã giao, dịch vụ đã
cung ứng không thể được sử dụng theo đúng mục đích mà các bên đã dự kiến vào
thời điểm giao kết hợp đồng.
Đây là điểm mới của LTM 2005 so với LTM 1997. Tuy nhiên, có thể thấy sự
điều chỉnh của LTM 2005 về vi phạm thấy trước rất hẹp, chỉ mới dừng lại ở trường
hợp giao hàng và cung ứng dịch vụ từng phần, trong khi vi phạm thấy trước có thể
xảy ra ở tất cả các loại hợp đồng. Đồng thời, LTM 2005 cũng chỉ mới dừng lại ở
việc bảo vệ quyền lợi cho bên mua, bên sử dụng dịch vụ chứ không bảo vệ cho bên
bán, bên cung ứng dịch vụ. Cụ thể, Điều 313 LTM 2005 chỉ đề cập đến các hành vi
vi phạm của phía bên bán, bên cung ứng dịch vụ, mà không đề cập đến các hành vi
vi phạm của phía bên mua, bên sử dụng dịch vụ. Trong khi trên thực tế, bên bán, 4
bên cung ứng dịch vụ cũng có thể bị lâm vào trường hợp khi chưa đến thời hạn
thực hiện nghĩa vụ nhưng họ đã có cơ sở để khẳng định bên mua, bên sử dụng dịch
vụ sẽ vi phạm hợp đồng. Và sẽ rất vô lý nếu theo luật họ vẫn phải bị ràng buộc với
hợp đồng ngay cả khi thấy rõ ràng bên kia, trước khi đến hạn đã gây ra những vi
phạm cơ bản hoặc có những tuyên bố và cách xử sự rõ ràng là họ sẽ không thực
hiện nghĩa vụ của mình.
Quy định của LTM 2005 vì vậy là chưa toàn diện và công bằng.
2.2. Bất cập trong quy định về nghĩa vụ hạn chế tổn thất
Theo quy định tại khoản 2 Điều 302 LTM 2005, giá trị bồi thường thiệt hại
bao gồm những tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi
phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu
không có hành vi vi phạm.
Để được bồi thường những tổn thất nói trên, bên bị vi phạm có nghĩa vụ
chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực
tiếp mà họ đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.
Ngoài ra, bên bị vi phạm còn phải thực hiện nghĩa vụ hạn chế tổn thất. Nếu
bên bị vi phạm không thực hiện nghĩa vụ hạn chế tổn thất đó, bên vi phạm hợp
đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng
lẽ có thể hạn chế được.
Đây là một quy định mang ý nghĩa thực tiễn cao của LTM 2005, là sự thể
hiện của nguyên tắc thực hiện hợp đồng trung thực, thiện chí theo tinh thần hợp tác
và có lợi nhất cho các bên.4 Tuy nhiên, LTM 2005 quy định như vậy là chưa hoàn
toàn công bằng đối với bên bị thiệt hại, bởi vì nó buộc bên bị thiệt hại phải thực
hiện nghĩa vụ hạn chế tổn thất ngay cả khi bên kia đã cố tình vi phạm hợp đồng.
Trong khi đó, nếu một bên đã cố tình vi phạm hợp đồng thì có nghĩa họ
không có sự thiện chí và tinh thần hợp tác khi thực hiện hợp đồng, họ đã lựa chọn
việc vi phạm hợp đồng thay vì thực hiện nghĩa vụ, vì điều đó có lợi hơn cho họ mà 4 Điều 305 LTM 2005. 5
không tính đến lợi ích của đối tác. Vì vậy, sẽ rất vô lý nếu pháp luật buộc bên bị
thiệt hại phải thể hiện sự thiện chí, hợp tác đối với bên đã không thiện chí với mình
bằng việc phải nỗ lực hạn chế tổn thất. Rõ ràng là không công bằng khi một bên đã
cố tình vi phạm hợp đồng vì lợi ích của bản thân mình, mà lại còn có quyền đòi hỏi
bên kia phải có nghĩa vụ hạn chế tổn thất để được giảm bớt số tiền phải bồi thường.
Ngoài ra, LTM 2005 cũng chưa dự liệu được các vấn đề có thể nảy sinh trên thực tế như:
- Chưa dự liệu được các chi phí phát sinh do việc áp dụng các biện pháp hợp
lý để hạn chế tổn thất sẽ do bên nào gánh chịu.
Nghĩa vụ hạn chế tổn thất được hiểu là những công việc mà bên bị thiệt hại
phải tiến hành nhằm hạn chế đến mức có thể những tổn thất do hành vi vi phạm
hợp đồng gây ra. Ví dụ như: bảo quản hàng hóa (che chắn, lưu kho, lưu bãi,…), tổ
chức bán hàng hóa trong trường hợp bên mua không nhận hàng, hoặc mua hàng
hóa khác để thay thế trong trường hợp bên bán không giao hàng. Và những biện
pháp hạn chế tổn thất này có thể làm phát sinh các chi phí khi áp dụng, chẳng hạn
như chi phí lưu kho, lưu bãi. LTM 2005 vẫn chưa có quy định về việc những chi
phí phát sinh này sẽ do bên nào phải gánh chịu.
- Chưa dự liệu được trường hợp bên bị vi phạm hợp đồng đã áp dụng các
biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất, nhưng lại không thành công và thậm chí làm
tăng tổn thất thì sẽ xử lý như thế nào.
Theo yêu cầu của LTM 2005 thì bên bị thiệt hại phải áp dụng các biện pháp
hợp lý để hạn chế tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra. Tuy nhiên, trên
thực tế có thể xảy ra trường hợp là mặc dù bên bị thiệt hại đã cân nhắc và thiện chí
khi áp dụng các biện pháp hợp lý nhằm hạn chế tổn thất, nhưng kết quả là họ có thể
không những không hạn chế được tổn thất mà còn làm gia tăng tổn thất. LTM 2005
vẫn chưa xác định rõ những tổn thất tăng thêm trong trường hợp này sẽ do bên nào gánh chịu. 6
Đây là những thiếu sót trong quy định của LTM 2005 và có thể gây khó khăn
cho việc giải quyết tranh chấp giữa các bên.
2.3. Bất cập trong quy định của Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 về
các trường hợp miễn trách nhiệm
(i) Bất cập trong quy định về trường hợp miễn trách nhiệm theo thỏa thuận của các bên
Trên thực tế, có rất nhiều hợp đồng mà khi ký kết, các bên thỏa thuận trước
những trường hợp một bên được miễn trừ trách nhiệm ngay cả khi bên đó không
thực hiện hay thực hiện không đúng hợp đồng.
Việc thừa nhận giá trị pháp lý của các thỏa thuận miễn trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng thể hiện sự tôn trọng tự do ý chí của các bên tham gia ký kết hợp
đồng. Tuy nhiên, quy định của LTM 2005 về trường hợp miễn trách do thỏa thuận
của các bên vẫn còn thiếu chặt chẽ và chưa toàn diện vì chưa quy định điều kiện để
các thỏa thuận miễn trách nhiệm có giá trị pháp lý5.
Về vấn đề hiệu lực của thỏa thuận miễn trách nhiệm, Bộ luật Dân sự của Đức
quy định, bên vi phạm sẽ không được miễn trừ trách nhiệm trong tương lai nếu cố ý
vi phạm hợp đồng. Quy định này đồng nghĩa với việc các thỏa thuận miễn trừ trách
nhiệm sẽ không có giá trị pháp lý nếu hành vi vi phạm hợp đồng là do một bên cố ý
thực hiện6. Bộ luật Dân sự của Nga cũng khẳng định: “Thỏa thuận miễn trừ trách
nhiệm được ký kết trước đó sẽ không có giá trị trong trường hợp cố ý vi phạm
nghĩa vụ”7. Pháp luật của Thụy Sĩ cũng có quan điểm tương tự, theo Điều 100 Bộ
luật Dân sự của Thuy Sĩ thì điều khoản miễn trừ trách nhiệm sẽ bị vô hiệu trong
5 Dương Anh Sơn & Nguyễn Ngọc Sơn, Tác động của các hình thức lỗi đến việc xác định trách nhiệm hợp đồng
nhìn từ góc độ nguyên tắc trung thực và thiện chí
,
https://phapluatdansu.edu.vn/2008/10/07/06/19/1786/, truy cập ngày 18/8/2023.
6 Xem khoản 3 Điều 276 Bộ luật Dân sự của Đức, https://www.gesetze-im-
internet.de/englisch_bgb/englisch_bgb.html#p0854, truy cập ngày 18/08/2003.
7 Xem khoản 4 Điều 401 Bộ luật Dân sự của Nga,
https://www.wto.org/english/thewto_e/acc_e/rus_e/wtaccrus58_leg_360.pdf, truy cập ngày 18/08/2023. 7
trường hợp thiệt hại xảy ra là do cố ý hoặc sơ suất nghiêm trọng (gross negligence)8.
Về vấn đề nêu trên, LTM 2005 chỉ quy định bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
được miễn trừ trách nhiệm nếu tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên có thỏa thuận
về trường hợp miễn trừ đó, mà hoàn toàn không có sự phân biệt giữa hành vi vi
phạm hợp đồng do vô ý với hành vi vi phạm cố ý. Điều này có thể dẫn tới trường
hợp một bên trong quan hệ hợp đồng (thường là bên mạnh hơn về mặt kinh tế và có
kinh nghiệm hơn) lợi dụng các điều khoản miễn trừ trách nhiệm để cố tình vi phạm
hợp đồng mà không phải bồi thường thiệt hại.
(ii) Thiếu quy định về miễn trách nhiệm cho một bên trong trường hợp bên
thứ ba được họ thuê rơi vào trường hợp bất khả kháng
Để minh chứng cho nhận định này, tác giả đưa ra một ví dụ cụ thể như sau:
Trong một vụ tranh chấp về hợp đồng mua bán xi măng giữa một công ty Việt Nam
và một công ty Ấn Độ, bị đơn có đưa ra một lập luận như sau: “bị đơn ký hợp đồng
mua xi măng của nhà cung cấp thuộc nước thứ ba nhưng vì nhà cung cấp gặp sự
kiện bất khả kháng (nhà máy ngừng sản xuất do lũ lụt) không giao được hàng cho
bị đơn nên bị đơn không giao được hàng cho nguyên đơn. Do đó bị đơn cũng gặp
sự kiện bất khả kháng và được miễn trách nhiệm”. Trung tâm trọng tài quốc tế Việt
Nam đã đưa ra lập luận bác bỏ là bị đơn đã biết trước về sự kiện lũ lụt nên không
thể coi đó là sự kiện bất khả kháng.9 Vậy, giả sử bị đơn hoàn toàn không thể biết
trước về sự kiện lũ lụt thì sẽ như thế nào, liệu bị đơn có được coi là rơi vào trường
hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng hay không, khi mà trong vụ tranh chấp này không
phải bản thân bị đơn mà là bên thứ ba – nhà cung cấp của bị đơn rơi vào trường
hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng.
8 Xem khoản 1 Điều 100 Bộ luật Dân sự của Thụy Sĩ,
https://fedlex.data.admin.ch/filestore/fedlex.data.admin.ch/eli/cc/27/317_321_377/20210101/en/pdf-a/fedlex-data-
admin-ch-eli-cc-27-317_321_377-20210101-en-pdf-a.pdf, truy cập ngày 18/08/2023.
9 Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam, 50 phán quyết Trọng tài Quốc tế chọn lọc, Nhà xuất bản Chính Trị, Hà Nội, năm 2002, tr.132-133. 8
Sỡ dĩ, chúng tôi đặt vấn đề như vậy là vì LTM 2005 và cả Bộ luật Dân sự
2015 (BLDS 2015) đều chưa có quy định cụ thể nào về việc xem xét miễn trách
nhiệm cho một bên trong hợp đồng khi bên thứ ba được họ thuê để thực hiện toàn
bộ hay một phần hợp đồng rơi vào trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng. Rõ
ràng, đây là một điểm thiếu sót của LTM 2005 và sẽ gây ra khó khăn cho các cơ
quan giải quyết tranh chấp khi xem xét giải quyết các vụ tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại.
2.4. Sự thiếu rõ ràng trong quy định về các loại thiệt hại được bồi thường
Theo quy định của LTM 2005 thì các loại thiệt hại được bồi thường gồm có
“các tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra
và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi
vi phạm”.10 Có thể thấy, quy định này không thật sự rõ ràng về việc những thiệt hại
phi vật chất (như sự tổn hại uy tín của thương nhân hay uy tín của nhãn hiệu hàng
hóa, thương phẩm) có thuộc nghĩa vụ bồi thường của bên vi phạm hợp đồng hay
không. Trong khi đó, sẽ có những trường hợp mà đối với bên bị vi phạm, những
tổn thất phi vật chất mới là những tổn thất đáng kể nhất.
Sự không rõ ràng của LTM 2005 đã dẫn tới những cách hiểu khác nhau. Có
quan điểm cho rằng, các thiệt hại được bồi thường theo LTM 2005 chỉ bao gồm các
tổn thất vật chất.11 Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, vì LTM 2005 chỉ nói
chung là “các tổn thất thực tế, trực tiếp…”, do đó, những thiệt hại có thể được bồi
thường nên được hiểu theo hướng là bao gồm cả thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần.12
Về vấn đề này, BLDS 2015 quy định khá rõ ràng như sau: “Theo yêu cầu
của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về
10 Khoản 2 Điều 302 LTM 2005.
11 Xem Trương Nhật Quang, Hiệu lực của thỏa thuận bồi thường thiệt hại ước tính, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 05, năm 2021, tr.20.
12 Xem Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, tập 2, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
TP. Hồ Chí Minh, năm 2020, tr.528. 9
tinh thần cho người có quyền. Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc.”
Theo chúng tôi, LTM 2005 cần quy định rõ ràng theo hướng phù hợp với
quy định của BLDS 2015. Điều này giúp các bên tham gia hợp đồng cũng như các
chủ thể giải quyết tranh chấp có cách hiểu thống nhất và rõ ràng về quy định của luật.
2.5. Bất cập trong quy định riêng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định
LTM 2005 có những quy định riêng cho thương nhân kinh doanh dịch vụ
giám định về trách nhiệm bồi thường thiêt hại ngoài các quy định chung mà bất cứ
thương nhân nào cũng phải tuân thủ để nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm của họ.
Theo đó, thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định phải bồi thường thiệt hại phát
sinh cho khách hàng trực tiếp yêu cầu giám định trong trường hợp thương nhân đó
cấp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi cố ý của mình (khoản 2 Điều 266
LTM 2005). Còn nếu kết quả giám định sai là do lỗi vô ý thì thương nhân kinh
doanh dịch vụ giám định không phải bồi thường thiệt hại phát sinh, thay vào đó, họ
sẽ phải trả tiền phạt cho khách hàng với mức phạt tối đa gấp mười lần thù lao dịch
vụ giám định (khoản 1 Điều 266 LTM 2005). Cụ thể, Điều 266 LTM 2005 quy định như sau:
- Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư
giám định có kết quả sai do lỗi vô ý của mình thì phải trả tiền phạt cho khách hàng.
Mức phạt do các bên thỏa thuận, nhưng không vượt quá mười lần thù lao dịch vụ giám định.
- Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư
giám định có kết quả sai do lỗi cố ý của mình thì phải bồi thường thiệt hại phát sinh
cho khách hàng trực tiếp yêu cầu giám định13. 13 Điều 266 LTM 2005. 10
Quy định nêu trên tưởng chừng có tính răn đe mạnh mẽ đối với thương nhân
kinh doanh dịch vụ giám định vì chỉ cần vi phạm với lỗi vô ý thôi thương nhân
kinh doanh dịch vụ giám định đã bị phạt với mức tối đa lên tới mười lần thù lao
dịch vụ giám định, một con số không phải là nhỏ và cũng lớn hơn mức phạt vi
phạm thông thường, thông thường mức phạt vi phạm không được quá 08% giá trị
phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm14. Tuy nhiên, quy định của LTM 2005 như vậy
là chưa hợp lý. Tính bất hợp lý của quy định đó thể hiện ở chỗ, chế tài bồi thường
thiệt hại chỉ có thể được áp dụng khi có thiệt hại thực tế xảy ra, do đó, sẽ có trường
hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định sai với lỗi
cố ý nhưng lại không phải gánh chịu chế tài nào cả - đó là trường hợp không xảy ra
thiệt hại. Như vậy, theo quy định trên thì nếu vi phạm với lỗi vô ý, thương nhân
kinh doanh dịch vụ giám định luôn luôn phải gánh chịu chế tài, còn nếu vi phạm
với lỗi cố ý thì có khi họ không phải gánh chịu chế tài nào cả, trong khi lỗi cố ý rõ
ràng là có mức độ nghiêm trọng hơn lỗi vô ý rất nhiều.
3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của Luật Thương mại
2005 về chế tài bồi thường thiệt hại
Thứ nhất, liên quan tới quy định về vi phạm thấy trước. Tác giả kiến nghị
cần phải sửa đổi, bổ sung LTM 2005 theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh của
điều khoản vi phạm thấy trước cho tất cả các loại hợp đồng chứ không chỉ có hợp
đồng giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần và phải bảo vệ cả quyền lợi của bên
bán, bên cung ứng dịch vụ.
Về phần này, các nhà làm luật có thể tham khảo quy định của Công ước Viên
1980 tại các Điều 72 và 73 như đã phân tích ở mục 2.1.
Cụ thể, các nhà làm luật cần bổ sung một điều luật mới cho LTM 2005, để
quy định về việc hủy bỏ hợp đồng nói chung trong trường hợp có vi phạm thấy
trước (chứ không chỉ giới hạn đối với hợp đồng giao hàng, cung ứng dịch vụ từng 14 Điều 301 LTM 2005. 11
phần như quy định hiện tại ở Điều 313). Điều Luật này có thể được đặt trước Điều
313, với nội dung tương tự như Điều 72 của Công ước Viên 1980:
“- Nếu trước ngày quy định cho việc thi hành hợp đồng, mà thấy hiển nhiên
rằng một bên sẽ gây ra một vi phạm chủ yếu đến hợp đồng, bên kia có thể tuyên bố
hợp đồng bị hủy.
- Nếu có đủ thời giờ, bên nào có ý định tuyên bố hợp đồng bị hủy thì phải gửi
một thông báo hợp lý cho bên kia để cho phép họ cung cấp những bảo đảm đầy đủ
rằng họ sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình.
- Các quy định của khoản trên không áp dụng nếu bên kia đã tuyên bố rằng
họ sẽ không thực hiện nghĩa vụ của mình.”
Ngoài ra, cần sửa đổi Điều 313 LTM 2005 theo hướng bảo vệ quyền lợi
chung cho tất cả các bên, bao gồm cả bên mua và bên bán, bên cung ứng dịch vụ và
bên sử dụng dịch vụ. Theo đó, tác giả đề xuất sửa đổi khoản 1 và khoản 2 Điều 313 như sau:
“1. Trường hợp có thỏa thuận về giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần,
nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình và việc này cấu thành một vi
phạm cơ bản hợp đồng về lô hàng hoặc phần dịch vụ đó, thì bên kia có quyền
tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng về phần lô hàng hoặc phần dịch vụ đó.”
“2. Trường hợp một bên không thực hiện nghĩa vụ đối với một lô hàng, hoặc
một phần dịch vụ là cơ sở để bên kia kết luận rằng vi phạm cơ bản sẽ xảy ra đối
với những lô hàng, hoặc những phần dịch vụ sau đó, thì bên bị vi phạm có quyền
tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với các lô hàng hoặc các phần dịch vụ sau đó, với
điều kiện là bên đó phải thực hiện quyền này trong thời gian hợp lý.”
Thứ hai, liên quan tới quy định về nghĩa vụ hạn chế tổn thất. Để công bằng
hơn đối với bên bị thiệt hại, tác giả kiến nghị việc sửa đổi quy định tại Điều 305
LTM 2005 với nội dung cụ thể như sau: “Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải áp
dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực
tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; nếu bên yêu cầu bồi 12
thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền
yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn
chế được, trừ trường hợp vi phạm hợp đồng với lỗi cố ý.”
Đồng thời, LTM 2005 cần phải bổ sung các quy định để làm rõ các vấn đề
như: các chi phí phát sinh do việc áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất
sẽ do bên nào gánh chịu; nếu bên bị vi phạm hợp đồng đã áp dụng các biện pháp
hợp lý để hạn chế tổn thất, nhưng lại không thành công hay thậm chí còn làm tăng
tổn thất, vậy thì bên vi phạm có phải bồi thường các chi phí tăng thêm này hay
không. Về vấn đề này, các nhà làm luật Việt Nam có thể tham khảo một số quy
định của các tổ chức quốc tế hoặc của các nước có nền lập pháp tiên tiến. Chẳng
hạn, các án lệ của Vương quốc Anh đã xác định, bên bị vi phạm có thể đòi lại các
chi phí phát sinh trong quá trình họ thực hiện các bước hợp lý để giảm thiểu tổn
thất, ngay cả khi các bước đó không thành công hay thậm chí còn làm gia tăng tổn
thất.15 Bộ nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng thương mại quốc tế cũng có quy
định tương tự tại Điều 7.4.8, theo đó: “Bên bị thiệt hại có quyền thu hồi bất kỳ chi
phí hợp lý nào đã phát sinh trong nỗ lực giảm thiểu thiệt hại”.16
Thứ ba, liên quan tới trường hợp miễn trách nhiệm do thỏa thuận của các
bên. Để công bằng hơn và bảo vệ tốt hơn cho bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng,
tác giả kiến nghị nên quy định bổ sung cho điểm a khoản 1 Điều 294 LTM 2005,
tương tự như quy định tại khoản 3 Điều 276 Bộ luật Dân sự của Đức với nội dung
cụ thể là: “thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm giữa các bên sẽ không có giá trị pháp
lý nếu một bên cố ý vi phạm hợp đồng”.
Thứ tư, LTM 2005 và BLDS 2015 đều chưa có quy định nào về việc xem
xét miễn trách nhiệm cho một bên trong hợp đồng khi bên thứ ba được họ thuê để
thực hiện toàn bộ hay một phần hợp đồng rơi vào trường hợp xảy ra sự kiện bất khả
15 Ví dụ, Lagden v. O’Connor [2004] 1 AC 1067, Lord Scott, para. 78,
https://publications.parliament.uk/pa/ld200304/ldjudgmt/jd031204/lagden-3.htm, truy cập ngày 18/08/2023.
16 Xem Điều 7.4.8 Bộ nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng thương mại quốc tế, https://www.unidroit.org/wp-
content/uploads/2021/06/Unidroit-Principles-2016-English-bl.pdf, truy cập ngày 18/08/2023. 13
kháng. Rõ ràng đây là một điểm thiếu sót của LTM 2005 và sẽ gây ra khó khăn cho
Tòa án khi xem xét giải quyết các vụ tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại.
Về vấn đề này, trước đây, khoản 3 Điều 40 của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế
năm 1989 đã có quy định. Theo đó, bên vi phạm hợp đồng kinh tế sẽ được giảm
trách nhiệm hoặc miễn trách nhiệm hoàn toàn trong trường hợp do bên thứ ba vi
phạm hợp đồng kinh tế với bên vi phạm nhưng bên thứ ba không phải chịu trách
nhiệm tài sản do họ rơi vào trường hợp gặp thiên tai, địch hoạ và các trở lực khách
quan khác không thể lường trước được và đã thi hành mọi biện pháp cần thiết để
khắc phục hoặc do phải thi hành lệnh khẩn cấp của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật17.
Tuy nhiên theo quan điểm của tác giả, quy định của Pháp lệnh Hợp đồng
kinh tế như vậy là chưa rõ ràng, vì không có sự phân biệt khi nào thì bên vi phạm
được giảm trách nhiệm, khi nào thì được miễn trách nhiệm và quy định đó cũng
không hợp lý. Tính không hợp lý thể hiện ở chỗ, theo Pháp lệnh thì chỉ cần bên thứ
ba rơi vào các trường hợp giảm hay miễn trách nhiệm như đã nêu là bên vi phạm
hợp đồng kinh tế đã có thể được miễn hoặc giảm trách nhiệm mà không cần xét tới
liệu rằng liệu việc vi phạm đó của bên thứ ba có khiến cho bên vi phạm hợp đồng
kinh tế rơi vào các trường hợp không thể thực hiện hiện hợp đồng dù đã áp dụng
mọi biện pháp khắc phục cần thiết hay không. Như vậy, mặc dù Pháp lệnh Hợp
đồng kinh tế có điểm tiến bộ là đã có quy định về trường hợp miễn, giảm trách
nhiệm cho một bên trong hợp đồng khi bên thứ ba được họ thuê để thực hiện hợp
đồng rơi vào các trường hợp được miễn trách nhiệm, tuy nhiên điểm hạn chế là quy
định của Pháp lệnh còn chưa rõ ràng và thiếu tính hợp lý như đã phân tích ở trên.
Chính vì thế, theo quan điểm của tác giả, để xây dựng một quy định hợp lý
về việc miễn trách nhiệm cho bên vi phạm hợp đồng khi bên thứ ba được họ thuê
để thực hiện một phần hay toàn bộ hợp đồng rơi vào trường hợp bất khả kháng, các
nhà làm luật nên tránh những hạn chế mà Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế đã mắc phải.
17 Xem Điều 40 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989. 14
Về vấn đề này các nhà làm luật có thể tham khảo quy định của Công ước
Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế18. Công ước đã quy định rất hợp lý và rõ ràng:
Theo khoản 1 Điều 79 Công ước Viên: “Một bên sẽ được miễn trách nhiệm
về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào đó nếu họ chứng minh được rằng
việc không thực hiện ấy là do một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát của họ và người
ta không thể chờ đợi một cách hợp lý rằng họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký
kết hợp đồng hoặc là tránh được hay khắc phục các hậu quả của nó”.
Theo khoản 2 Điều 79 Công ước Viên: “Nếu một bên không thực hiện nghĩa
vụ của mình do bên thứ ba mà họ thuê để thực hiện toàn phần hay một phần hợp
đồng không thực hiện nghĩa vụ thì bên đó chỉ được miễn trách nhiệm nếu:
a. Họ được miễn trách nhiệm chiếu theo quy định tại khoản 1, và
b. Nếu bên thứ ba cũng sẽ được miễn trách khi các quy định của khoản 1 áp dụng cho họ.”
Thứ năm, cần sửa đổi khoản 1 Điều 302 LTM 2005 theo hướng phù hợp với
quy định của BLDS 2015, theo đó cho phép bên bị vi phạm được yêu cầu bù đắp
những tổn thất phi vật chất mà họ phải gánh chịu do hành vi vi phạm hợp đồng của
bên còn lại. Cụ thể, cần quy định như sau: “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi
phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi
phạm. Những tổn thất này bao gồm tổn thất vật chất và tổn thất phi vật chất.”
Quy định như trên giúp các bên tham gia hợp đồng cũng như các chủ thể giải
quyết tranh chấp có cách hiểu thống nhất về quy định của luật. Từ đó, tránh được
những tranh cãi không đáng có. Đồng thời cũng tạo cơ chế pháp lý để bên bị vi
phạm có thể yêu cầu bù đắp một cách đầy đủ mọi tổn thất mà họ phải gánh chịu.
18 Xem Điều 79 Công ước của Liên Hiệp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980,
https://uncitral.un.org/sites/uncitral.un.org/files/media-documents/uncitral/en/19-09951_e_ebook.pdf, truy cập ngày 18/08/2023. 15
Thứ sáu, các nhà làm luật cần phải sửa đổi khoản 2 Điều 266 LTM 2005 về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định để
quy định đó mang tính hợp lý hơn. Cụ thể là, cần phải quy định trong trường hợp
thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định vi phạm với lỗi cố ý thì ngoài việc phải
bồi thường thiệt hại họ còn phải gánh chịu cả chế tài phạt vi phạm, có thể quy định
như sau: “Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư
giám định có kết quả sai do lỗi cố ý của mình thì phải bồi thường thiệt hại phát
sinh cho khách hàng trực tiếp yêu cầu giám định, đồng thời phải trả tiền phạt cho
khách hàng. Mức phạt do các bên thỏa thuận, nhưng không vượt quá mười lần
thù lao dịch vụ giám định.” 4. Kết luận
Trong bài viết, chúng tôi đã đưa ra các đánh giá chuyên sâu về chế tài
bồi thường thiệt hại và một số bất cập trong quy định của LTM 2005 về chế tài
quan trọng này. Trên cơ sở đó, chúng tôi cũng đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn
thiện các quy định của LTM 2005 về chế tài bồi thường thiệt hại, giúp LTM 2005
có thể phù hợp hơn với thực tiễn cuộc sống và phát huy được nhiều hơn nữa vai trò
của LTM trong nền kinh tế thị trường.
Tài liệu tham khảo 1
Bộ luật Dân sự năm 2015. 2.
Luật Thương mại năm 2005. 3.
Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989. 4. Bộ luật Dân sự Đức, https://www.gesetze-im-
internet.de/englisch_bgb/englisch_bgb.html#p0854, truy cập ngày 18/8/2003. 5.
Bộ luật Thương mại thống nhất của Hoa Kỳ năm 2002,
https://www.law.cornell.edu/ucc/2/2-609, truy cập ngày 18/8/2023. 16 6. Bộ luật Dân sự Nga,
https://www.wto.org/english/thewto_e/acc_e/rus_e/wtaccrus58_leg_360.pdf, truy cập ngày 18/8/2023. 7. Bộ luật Dân sự Thụy Sĩ,
https://fedlex.data.admin.ch/filestore/fedlex.data.admin.ch/eli/cc/27/317_321_377/
20210101/en/pdf-a/fedlex-data-admin-ch-eli-cc-27-317_321_377-20210101-en-
pdf-a.pdf, truy cập ngày 18/8/2023. 8.
Công ước của Liên Hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm
1980,https://uncitral.un.org/sites/uncitral.un.org/files/media-
documents/uncitral/en/19-09951_e_ebook.pdf, truy cập ngày 18/8/2023. 9.
Bộ nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng thương mại quốc tế,
https://www.unidroit.org/wp-content/uploads/2021/06/Unidroit-Principles-2016-
English-bl.pdf, truy cập ngày 18/8/2023.
10. Lagden v. O’Connor [2004] 1 AC 1067, Lord Scott, para. 78,
https://publications.parliament.uk/pa/ld200304/ldjudgmt/jd031204/lagden-3.htm, truy cập ngày 18/8/2023.
11. Dương Anh Sơn & Nguyễn Ngọc Sơn, Tác động của các hình thức lỗi đến việc
xác định trách nhiệm hợp đồng nhìn từ góc độ nguyên tắc trung thực và thiện
chí, https://phapluatdansu.edu.vn/2008/10/07/06/19/1786/, truy cập ngày 18/8/2023.
12. Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, tập 2,
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh, năm 2020.
13. Trương Nhật Quang, Hiệu lực của thỏa thuận bồi thường thiệt hại ước tính,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 05, năm 2021.
14. Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam, 50 phán quyết Trọng tài Quốc tế
chọn lọc, Nhà xuất bản Chính Trị, Hà Nội, năm 2002. 17