



















Preview text:
lOMoARcPSD|39344269
BÀI-TẬP-CT - bài tập cạnh tranh
Luật cạnh tranh (Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh) Scan to open on Studeersnel
Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn) lOMoARcPSD|39344269 BÀI TẬP CẠNH TRANH
Căn cứ vào các quy định của Luật Cạnh tranh năm 2018, anh chị hãy giải
quyết các tình huống sau đây:
1. A và B là hai chủ hộ kinh doanh lần lượt kinh doanh quán ăn và dịch vụ sửa
chữa xe gắn máy. Do khá thân thiết với nhau nên trong một lần ngồi nhậu, A đã
hỏi B công thức làm nước sốt thịt bò của món bò nướng mà theo A đây là yếu tố
quyết định làm cho món bò nướng của quán B trở nên nổi tiếng và có rất đông khách hàng.
Vì nghĩ rằng A là bạn thân thiết lại kinh doanh ở lĩnh vực không có tính
cạnh tranh với mình nên B đã vui vẻ kể cho A nghe về công thức làm nước sốt
ướp thịt bò. Hai tháng sau, cách quán của B 500 mét có một quán bò nướng mới
được khai trương mà theo thông tin của hàng xóm xung quanh, B biết được quán
này là do A mới mở để kinh doanh. (2 điểm) Trả lời ●
Chủ thể thực hiện hành vi là ông A ●
Xem xét hành vi trên:
- Hành vi: A đã hỏi B công thức làm nước sốt thịt bò của món bò nướng mà theo
A đây là yếu tố quyết định làm cho món bò nướng của quán B trở nên nổi tiếng và có
rất đông khách hàng. B đã tự nguyện chia sẻ cho A công thức của mình. Sau đó, A đã
mở quán bò nướng mới cách B 500m.
Theo khoản 1 Điều 45 quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh có hành
vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh:
- Thứ nhất, hành vi tiếp cận, thu thập thông tin bí mật trong kinh doanh bằng
cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu thông tin đó. Trong tình
huống trên, A có hành vi tiếp cận và thu thập thông tin, tuy nhiên A không chống lại
các biện pháp bảo mật của B là người sở hữu thông tin đó nên tình huống trên không
thuộc vào trường hợp này.
- Thứ hai, hành vi tiết lộ, sử dụng thông tin bí mật trong kinh doanh mà không
được phép của chủ sở hữu thông tin đó. Ta thấy, A biết được công thức bí mật làm
nước sốt là do B tự nói ra (tự nguyện) vì B nghĩ A là bạn thân thiết lại kinh doanh ở
lĩnh vực không có tính cạnh tranh với mình nên B đã vui vẻ kể cho A nghe về công
thức làm nước sốt ướp thịt bò. Do đó, A biết được thông tin bí mật là do B cho phép
được biết. Ngoài ra, mặc dù A mở quán bò nướng cách B 500m nhưng trên đề lại
không đề cập đến việc liệu A có dùng công thức của B để áp dụng cho quán mình hay
không? Nên cũng không đủ để chứng minh A có hành vi vi phạm trong trường hợp này.
Kết luận: Từ các căn cứ trên, ta thấy A không vi phạm pháp luật về Cạnh tranh.
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn) lOMoARcPSD|39344269
2/ Nhân dịp khai trương quán bò nướng của mình, A đã công bố giá bán món bò
nướng của mình thấp hơn 40% so với giá bán của món bò nướng cùng loại và
kích cỡ ở quán của B. B cho rằng quán nhậu của A đã có hành vi vi phạm khoản
6, Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2018 nên dự định khiếu nại đến Ủy ban Cạnh
tranh Quốc gia. (2 điểm)
- Xét đặc trưng của hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại khoản 6 Điều 45:
+ Xét hành vi của A: nhân ngày khai trương A đã công bố giá bán món bò
nướng của mình thấp hơn 40% so với giá bán của món bò nướng cùng loại và kích cỡ
ở quán của B đã vi phạm pháp luật cạnh tranh, cụ thể là rơi vào trường hợp quy định
tại Khoản 6 Điều 45 LCT 2018.
+ Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ dẫn đến hoặc có khả
năng dẫn đến loại bỏ doanh nghiệp khác cùng kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó. ●
Thứ nhất về chủ thể thực hiện: A là chủ thể có hoạt động kinh doanh trên thị trường. ●
Thứ hai, hành vi vi phạm đã được thực hiện thông qua việc A đã bán
món bò nướng của mình thấp hơn 40% so với giá bán món bò nướng cùng loại và kích
cỡ của quán B. Mức giá này áp dụng cho khách hàng của A. ●
Thứ ba, về hậu quả: việc A bán món bò nướng cùng loại và kích cỡ ở
quán của B nhưng giá thấp hơn 40% có khả năng dẫn đến hoặc dẫn đến loại bỏ doanh
nghiệp khác cùng kinh doanh loại hàng hóa đó là quán B bởi vì quán nhậu của A chỉ
cách quán nhậu của B 500 m. Việc A duy trì giá bán như vậy sẽ khiến khách hàng của
quán nhậu B không hài lòng về giá cả của B dẫn đến việc B có thể bị phá sản bởi hành
động của A. Như vậy chúng ta có thể thấy, A bán như vậy là nhằm loại bỏ đối thủ
cạnh tranh đó là B (chủ thể đang kinh doanh đã và đang kinh doanh cùng loại hàng
hóa đối với chủ thể kinh doanh A).
Do đó từ những phân tích trên, A đã có hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh
quy định tại khoản 6 Điều 45 LCT
- Xử lý vi phạm: hành vi trên của A có thể bị xử lý theo quy định của Điều 110
LCT; khoản 5 Điều 4, Điều 21 NĐ 75/2019/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh tùy theo tính chất, mức độ vi phạm.
Điều 110. Nguyên tắc xử lý vi phạm, hình thức xử lý vi phạm và biện pháp
khắc phục hậu quả vi phạm pháp luật về cạnh tranh
1. Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh thì tuỳ theo tính
chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy
cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Điều 21 - Nghị định 75/2019
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn) lOMoARcPSD|39344269
Điều 21. Hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bô ̣
1. Phạt tiền từ 800.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với hành vi bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn
đến loại bỏ doanh nghiệp khác cùng kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó.
3. Hình thức xử phạt bổ sung:
a) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính về cạnh tranh;
b) Tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm.
3/Bằng các quy định của LCT hiện hành, hãy cho biết hành vi sau đây có vi
phạm pháp LCT hay không? Giải thích nếu có hành vi vi phạm thì xử lý như thế
nào? Công ty cổ phần X là doanh nghiệp sản xuất nước uống đóng chai. Công ty
trách nhiệm hữu hạn Y chuyên phân phối nước giải khát. Ngày 19/5/2015 hai
công ty này ký kết hợp đồng phân phối với các nội dung như sau: a)
Công ty Y cam kết chỉ phân phối mặt hàng nước uống đóng chai
của X và không bán bất kỳ sản phẩm nào của đối thủ cạnh tranh của công ty X. Hướng giải quyết
Hành vi này của hai công ty là hành vi được quy định tại khoản 9 Điều 11 LCT
2018. Đây là hành vi ràng buộc công ty B chỉ được phân phối mặt hàng nước giải khát
của công ty A mà không được phân phối mặt hàng này của các công ty khác. Đây là
hành vi hạn chế phân phối đối với với việc phân phối của công ty B với các công ty
khác. Do đó đây là một thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa
thuận gây tác động đáng kể trên thị trường.
Đồng thời đây là một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kinh
doanh trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa,
dịch vụ nhất định. Do đó hành vi này thuộc trường hợp thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
bị cấm theo quy định tại khoản 4 Điều 12 LCT 2018.
Vì đây là một thỏa thuận nhằm hạn chế phân phối hàng hóa của các công ty đối
thủ của công ty A làm ngăn cản việc tham gia mở rộng thị trường của họ.
Xử lý: hành vi trên của 2 công ty sẽ phải chịu 1 trong các hình thức xử phạt
chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền căn cứ theo khoản 2 Điều 110 LCT 2018. Nếu áp
dụng hình thức phạt tiền thì việc phạt tiền của 2 công ty sẽ căn cứ theo khoản 1 Điều 111 LCT 2018.
b) Công ty Y cam kết không bán thấp hơn giá của hàng hóa được liệt kê tại
phụ lục bán lẻ của hợp đồng phân phối.
Công ty A có thị phần 42% trên thị trường liên quan nên được coi là doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật Cạnh tranh 2018.
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn) lOMoARcPSD|39344269
Hành vi của công ty A là hành vi ấn định giá bán lại trực tiếp của hàng hoá được
liệt kê tại phụ lục bán lẻ của hợp đồng phân phối. Với hành vi này, các nhà phân phối
chỉ được lựa chọn mức giá cao hơn mức giá đã được ấn định khi bán sản phẩm cho
khách hàng mà không còn cơ hội để hạ giá sản phẩm.
Hành vi ấn định giá này của 2 công ty này phải gây ra hoặc có khả năng gây ra
thiệt hại cho khách hàng. Xử lý:
Phạt tiền từ 01% đến 10% tổng doanh thu trên thị trường liên quan trong năm
tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm của doanh nghiệp có vị trí
thống lĩnh thị trường ( điểm b khoản 1 Điều 8)
Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng, thỏa
thuận hoặc giao dịch kinh doanh;
b) Buộc cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường.
4/ Công ty TNHH M bị thủ trưởng cơ quan điều tra ra quyết định điều tra vì bị nghi ngờ
thực hiện hành vi cản trở hoạt động kinh doanh hợp pháp của Công ty CP N. Công ty TNHH
M khiếu nại quyết định này lên Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh quốc gia vì cho rằng việc điều
tra chỉ được thực hiện trên cơ sở khiếu nại của Công ty CP N. (2 điểm)
Theo quy định tại Điều 62 và Điều 80 LCT 2018 thì thủ trưởng cơ quan điều tra
có thể ra quyết định vụ việc cạnh tranh trong hai trường hợp.
TH1: Thủ trưởng cơ quan điều tra có quyền ra quyết định điều tra vụ việc cạnh
tranh trên cơ sở chấp thuận của chủ tịch UBCTQG;
TH2: Thủ trưởng cơ quan điều tra có quyền ra quyết định điều tra vụ việc cạnh
tranh nếu có sự khiếu nại của tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của
mình bị xâm hại do hành vi vi phạm quy định của pháp luật về cạnh tranh có quyền
thực hiện khiếu nại vụ việc cạnh tranh đến UBCTQG trong thời hiệu khiếu nại là 03 năm.
Xét tình huống trên, thì công ty M khiếu nại quyết định của thủ trưởng cơ quan
điều tra lên Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh quốc gia vì cho rằng việc điều tra chỉ được
thực hiện trên cơ sở khiếu nại của Công ty CP N là hợp lý bởi vì ngoài trường hợp
được điều tra do có sự khiếu nại của CTCP N thì thủ trưởng cơ quan điều tra vẫn có
quyền ra quyết định nếu có sự chấp thuận của chủ tịch UBCTQG (Điều 62 LCT
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn) lOMoARcPSD|39344269
2018). Tuy nhiên, theo như giả thiết thì thủ trưởng cơ quan điều tra đã tự ý quyết điều
tra vụ việc cạnh tranh với công ty M vì nghi ngờ thực hiện hành vi cản trở hoạt động
kinh doanh hợp pháp của Công ty CP N chứ không hề có sự chấp thuận của chủ tịch
UBCTQG. Do đó, hành vi của thủ trưởng cơ quan điều tra là không đúng với pháp luật về cạnh tranh.
Từ các lý lẽ trên, ta thấy, đơn khiếu nại của công ty TNHH M với lý do việc điều
tra chỉ được thực hiện trên cơ sở khiếu nại của Công ty CP N là hợp lý nên chủ tịch
UBCTQG có quyền xem xét và chấp thuận đơn này.
5/ A và B là hai doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng trà sữa có địa điểm bán hàng
bên cạnh nhau và đối diện với Trường THPT M. Do doanh thu bán hàng thấp
nên doanh nghiệp A đã thuê Hoàng Tuấn K – là một giang hồ ở khu vực, làm bảo
kê cho hoạt động kinh doanh của mình với công việc cụ thể là K phải bằng mọi
cách, kể cả bạo lực để làm cho học sinh không vào mua trà sữa của B. Đổi lại K
được nhận tiền thuê theo tháng. Hành vi trên có vi phạm Điều 45 LCT 2018 không? Trả lời:
Đây là hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định tại khoản 4 Điều 45
LCT 2018. Cụ thể là hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của DN B cản trở, làm gián
đoạn hoạt động kinh doanh hợp pháp của DN B.
- Chủ thể: Doanh nghiệp A là đối thủ của Doanh nghiệp B, 2 doanh nghiệp này
hoạt động trên cùng thị trường liên quan là kinh doanh trà sữa.
- Hành vi: thuê giang hồ khu vực là K buộc K phải bằng mọi cách, kể cả bạo lực
để làm cho học sinh không vào mua trà sữa của B. Hành vi của DN A là hành vi cạnh
tranh không lành mạnh, gây thiệt hại đến DN B. Vì khi làm như vậy, doanh nghiệp B
có thể bị giảm doanh thu. Đây thuộc trường hợp hành vi không lành mạnh bị cấm.
- Hậu quả: Lượng khách hàng giảm, doanh thu giảm, lợi nhuận giảm bớt thay vì
mang lại lợi ích như trước khi DN A thực hiện hành vi.
- Biện pháp xử lý và khắc phục hậu quả: Điều 110 LCT
6/ Công ty A sản xuất cửa nhựa lõi thép có thị phần chiếm 20% trên thị trường
liên quan ký hợp đồng với công ty xuất nhập khẩu B để mua các phụ kiện kim
khí để phục vụ cho việc sản xuất loại cửa nói trên trong đó có điều khoản: "Công
ty B không được cung cấp các loại nguyên liệu đã thoả thuận bán cho Công ty A
theo hợp đồng này cho bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất cửa nào khác ở Việt Nam”. Trả lời:
Giả sử Công ty A sản xuất cửa nhựa lõi thép có thị phần chiếm 20% trên thị
trường liên quan có sức mạnh đáng kể theo quy định tại Điều 26 LCT. Trong trường
hợp này, công ty A sẽ trở thành công ty có vị trí thống lĩnh thị trường theo quy định tại Điều 24 LCT 2018.
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn) lOMoARcPSD|39344269
- Chủ thể: Công ty A có vị trí thống lĩnh thị trường. - Hành vi:
TH1: Có sự đe dọa, cưỡng ép đối với công ty B về nội dung hợp đồng.
Thể hiện ở hành vi cưỡng ép của công ty A đối với công ty B không được cung
cấp các nguyên liệu đã thoả thuận bán cho Công ty A theo hợp đồng này cho bất kỳ
một doanh nghiệp sản xuất cửa nào khác ở Việt Nam. Đây là hành vi doanh nghiệp
thống lĩnh thị trường (công ty A) yêu cầu khách hàng của mình (công ty B) không
giao dịch với doanh nghiệp khác (chiến lược tẩy chay) hoặc có thể là hành vi cưỡng
ép các nhà phân phối, các cửa hàng bán lẻ không chấp nhận phân phối những mặt
hàng của doanh nghiệp khác (chiến lược thiết lập rào cản chiều dọc) vi phạm điểm d
khoản 1 Điều 27 LCT dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến ngăn cản doanh nghiệp khác
tham gia, mở rộng thị trường hoặc loại bỏ doanh nghiệp khác nên công ty A đã có hành vi vi phạm LCT.
TH2: Không có sự đe dọa, cưỡng ép đối với công ty B về nội dung hợp đồng.
Ký hợp đồng với công ty cung cấp nguyên liệu B, trong HĐ có nội dung “Công
ty B không được cung cấp các loại nguyên liệu đã thoả thuận bán cho Công ty A theo
hợp đồng này cho bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất cửa nào khác ở Việt Nam”. Đây
là hành vi áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác trong ký kết hợp đồng mua, bán
hàng hóa dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia,
mở rộng thị trường hoặc loại bỏ doanh nghiệp khác. Và đây là hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh bị cấm theo điểm đ khoản 1 Điều 27 LCT nên công ty A đã có hành vi vi phạm LCT.
- Biện pháp xử lý và khắc phục hậu quả: Điều 110 LCT.
Cụ thể, phạt tiền theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 8 NĐ 75/2019. Ngoài ra, còn
có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung là Tịch thu khoản lợi nhuận thu được
từ việc thực hiện hành vi vi phạm; bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả: a)
Buộc loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng, thỏa thuận hoặc
giao dịch kinh doanh; b) Buộc cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường.
7/ Ông A là một kỹ sư giỏi, có nhiều sáng chế và giải pháp hữu ích trong công
nghiệp dệt. Ông A đang nghiên cứu cách thức làm tăng độ bền của một loại vải
hiện được sử dụng phổ biến trên thị trường. Giả sử 3 công ty dệt X, Y, Z (có thị
phần kết hợp là 60% trên thị trường liên quan) thỏa thuận với ông A về việc họ
sẽ trả cho ông A một khoản tiền lớn với điều kiện ông phải hủy bỏ, không tiếp tục
nghiên cứu vấn đề trên và điều kiện này được ông A đồng ý.
Vi phạm theo Điều 11 LCT Luật cạnh tranh nếu thỏa thuận gây tác động và có
khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường.
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn) lOMoARcPSD|39344269
8/ Nguyễn Thị H là người mẫu ảnh được Công ty Toyota thuê làm người mẫu
phục vụ cho việc giới thiệu dòng xe hơi có tính năng tiết kiệm nhiên liệu thế hệ
mới của mình. Sau buổi chụp ảnh đề quảng cáo cho sản phẩm, H về nhà đã khoe
những bức ảnh tự chụp bằng điện thoại của mình trong buổi chụp hình quảng
cáo lên Facebook cá nhân. Tuy nhiên, H đã vô tình đăng những bức ảnh trong đó
có hình ảnh của mẫu xe mới mà công ty toyota vẫn chưa công bố. Trong khi đó,
hợp đồng thuê người mẫu giữa Công ty Toyota và H có điều khoản yêu cầu H
không được tiết lộ bất kỳ thông tin nào liên quan đến sản phẩm mới này dưới
mọi hình thức. Hành vi trên có vi phạm Điều 45 LCT 2018 không?
Hành vi trên không vi phạm Điều 45 LCT 2018.
Cụ thể, hành vi tiết lộ theo Điều 45 LCT phải là hành vi có chủ ý. Sự vô ý làm
tiết lộ thông tin không cấu thành hành vi vi phạm này. Trong trường hợp vô ý làm tiết
lộ thông tin bí mật trong kinh doanh có được từ quan hệ hợp đồng với doanh nghiệp
sở hữu hoặc được sử dụng hợp pháp thông tin đó thì đây chỉ là hành vi vi phạm hợp đồng.
Trong trường hợp này, H và Công ty Toyota đã ký hợp đồng người mẫu ảnh
phục vụ cho việc giới thiệu dòng xe hơi có tính năng tiết kiệm nhiên liệu thế hệ mới.
Trong hợp đồng có điều khoản yêu cầu H không được tiết lộ bất kỳ thông tin nào liên
quan đến sản phẩm mới này dưới mọi hình thức. Tuy nhiên, H đã khoe những bức ảnh
tự chụp bằng điện thoại của mình trong buổi chụp hình quảng cáo lên Facebook cá
nhân. Và cô đã vô tình đăng bức ảnh của mẫu xe mới mà công ty Toyota vẫn chưa
công bố. Như vậy, hành vi này không vi phạm Điều 45 LCT 2018 mà chỉ vi phạm hợp
đồng lao động, có thể bị xử lý theo pháp luật lao động.
9/ Công ty TNHH A có trụ sở quận 1 TP.HCM sản xuất bia Laser. Công ty
TNHH B (có vốn đầu tư nước ngoài) hoạt động trong khu công nghiệp ở
TP.HCM sản xuất bia Tiger, bia Heineken và bán trên phạm vi toàn quốc. Theo
khiếu nại của Công ty A thì Công ty B có hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh khi
ký các hợp đồng đại lý chỉ bán bia và quảng cáo bia của Công ty B trên thị
trường TP.HCM làm cho Công ty A không thể phân phối sản phẩm của minh.
Thực tế, bia Laser của Công ty A không thể chen chân được vào các cửa hàng,
đại lý hay quán bia. Căn cứ theo Luật Cạnh tranh 2018, hành vi của Công ty B: *
Trường hợp công ty TNHH B là công ty có vị trí thống lĩnh thị trường ( có thị
trường liên quan từ 30% trở lên hoặc có sức mạnh thị trường đáng kể theo quy định của Điều 26 LCT)
Chủ thể: Công ty TNHH B có trụ sở quận 1 TP.HCM
Hành vi: Công ty TNHH B là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường ký
các hợp đồng đại lý chỉ bán bia và quảng cáo bia của Công ty B trên thị trường
TP.HCM. Ở đây công ty TNHH B là bên giao đại lý lại buộc bên đại lý của mình
không nhận làm đại lý cho nhà cung ứng khác (trong đó có doanh nghiệp A) không có
căn cứ pháp luật là vi phạm LTM 2005 theo quy định tại khoản 7 Điều 175 LTM
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn) lOMoARcPSD|39344269
2005) bởi vì bên đại lý có thể nhận đại lý cho nhiều bên giao đại lý và cũng là hành vi
lạm dụng vị trí thống lĩnh để Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác trong ký kết hợp
đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến ngăn cản doanh
nghiệp khác tham gia, mở rộng thị trường hoặc loại bỏ doanh nghiệp khác theo quy
định tại điểm đ Khoản 1 Điều 27 LCT 205.
Hậu quả: gây thiệt hại cho đại lý bia của công ty TNHH B, doanh nghiệp A
không thể chen chân được vào các cửa hàng, đại lý hay quán bia tại TP.HCM, người
tiêu dùng bị bó hẹp khả năng lựa chọn và khả năng đáp ứng nhu cầu của mình dẫn đến
gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
Biện pháp xử lý: Phạt tiền từ 01% đến 10% tổng doanh thu trên thị trường liên
quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm của doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 8 Nghị định 75/2019.
Hình thức xử phạt bổ sung; Tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm.
Biện pháp khắc phục hậu quả:
+ Buộc loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng,
thỏa thuận hoặc giao dịch kinh doanh;
+ Buộc cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường.
10/ A là một doanh nghiệp sản xuất, phân phối các mặt hàng gia dụng trên
thị trường. Để tăng doanh số bán hàng, doanh nghiệp A đặt pa – nô trước địa
điểm bán hàng với nội dung: “Vào ngày 10 tháng 8 năm 2018, doanh nghiệp A sẽ
có chương trình khuyến mại tặng quà có giá trị lên đến 1/3 giá trị của hóa đơn
mua hàng, chương trình khuyến mại này chỉ áp dụng cho khách hàng có hóa đơn
mua hàng với giá trị từ 10 triệu đồng trở lên”. Nhận được thông tin này, khách
hàng B đã đến doanh nghiệp A mua hàng vào thời điểm tổ chức khuyến mại. Do
có hóa đơn mua hàng lên đến 15 triệu nên khách hàng B yêu cầu được nhận quà
tặng nhưng nhân viên của doanh nghiệp A đã từ chối tặng quà cùng với lời giải
thích là: “Chương trình khuyến mại này chỉ áp dụng cho 5 khách hàng đầu tiên
mua hàng” theo đăng ký của công ty với cơ quan nhà nước, kèm minh chứng B
không thuộc đối tượng năm khách hàng đầu tiên.
Anh chị hãy phân tích các quy định tương ứng của Luật cạnh tranh 2018 để
xác định hành vi nêu trên của doanh nghiệp A có hợp pháp không? Giải thích tại sao?
Hành vi nêu trên của doanh nghiệp A vi phạm LCT điểm a khoản 5 Điều 45 LCT.
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn) lOMoARcPSD|39344269
1. Chủ thể thực hiện hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Về nguyên tắc, chủ thể của Luật cạnh tranh 2018 (điều 2) là các chủ thể tiến
hành các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận, chủ yếu là các doanh
nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường. Ở đây, khái niệm doanh
nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả đơn vị sự nghiệp công lập, hiệp hội
ngành, nghề hoạt động tại Việt Nam, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có liên quan.
Trong vụ việc này, công ty X thực hiện hành vi đưa thông gian dối cho khách
hàng về công ty mình nhằm thu hút khách hàng của công ty Y. Như vậy, có thể thấy
rằng công ty X – một doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường,
theo quy định của pháp luật cạnh tranh là chủ thể của hành vi nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
2. Hành vi vi phạm của Doanh nghiệp A
Đối tượng tác động trực tiếp của các hành vi này là khách hàng bao gồm khách
hàng hiện tại và cả khách hàng tiềm năng của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Đối tượng
tác động gián tiếp là các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của Doanh nghiệp A trên thị trường.
Nội dung khuyến mại là hành vi đưa thông tin gây nhầm lẫn về các thông tin liên
quan. Các khuyến mại gây nhầm lẫn thường cung cấp những thông tin mập mờ, không
đầy đủ, không rõ ràng, làm cho người tiêu dùng có những hiểu nhầm về khuyến mại.
Mục đích của hành vi: là nhằm gây nhầm lẫn cho khách hàng, qua đó tác động
đến sức mua hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp mình, đồng thời cạnh tranh không
lành mạnh với doanh nghiệp khác.
Đối với vụ việc này Doanh nghiệp A đã đưa ra khuyến mại về sản phẩm của
mình như sau: “Vào ngày 10 tháng 8 năm 2018, doanh nghiệp A sẽ có chương
trình khuyến mại tặng quà có giá trị lên đến 1/3 giá trị của hóa đơn mua hàng,
chương trình khuyến mại này chỉ áp dụng cho khách hàng có hóa đơn mua hàng
với giá trị từ 10 triệu đồng trở lên”.
Trong khi đó, thực tế thì : “Chương trình khuyến mại này chỉ áp dụng cho 5
khách hàng đầu tiên mua hàng theo đăng ký của công ty với cơ quan nhà nước.”.
Nếu như người tiêu dùng chỉ đọc thông tin mà doanh nghiệp A khuyến mại, rõ
ràng họ sẽ hiểu rằng chỉ cần mua hàng trong ngày 10 tháng 8 năm 2018 và có hóa đơn
trên 10tr đồng sẽ được khuyến mại. Đây là hành vi không trung thực, trái với chuẩn
mực đạo đức thông thường trong kinh doanh, nhằm mục đích cạnh tranh.
Về việc gây thiệt hại của hành vi khuyến mại trên, dựa vào các thông tin khuyến
mại, người tiêu dùng sẽ đem so sánh với các sản phẩm cùng loại của công ty khác, họ
sẽ có xu hướng muốn tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp A hơn vì thế sẽ làm giảm
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn) lOMoARcPSD|39344269
sức tiêu thụ sản phẩm của công ty khác. Hành vi của doanh nghiệp A đã gây cạnh
tranh không lành mạnh, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp đối thủ.
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng Doanh nghiệp A đã thực hiện
hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo quy định trên.
3. Biện pháp xử lý và khắc phục hậu quả: Điều 110 LCT
11/ Công ty TNHH A và Công ty CP B là hai công ty chuyên sản xuất các sản
phẩm dinh dưỡng cho trẻ em. Trong một chiến dịch quảng cáo cho sản phẩm
nước uống dinh dưỡng X của Công ty A, Công ty A đã dùng pano quảng cáo với
khẩu hiệu “Nhà vô địch làm từ X”. Công ty CP B ngay lập tức đáp trả bằng việc
dùng một pano quảng cáo với hình ảnh sản phẩm nước uống dinh dưỡng Y do
Công ty CP B sản xuất với khẩu hiệu “Không cần vô địch, chỉ cần con thích”. (2 điểm)
Điểm b khoản 5 Điều 45 LCT hành vi so sánh hàng hóa, dịch vụ của mình với
hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác nhưng không chứng minh được
nội dung là hành vi lôi kéo khách hàng bất chính. là hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm
Bản chất của hành vi quảng cáo so sánh được biểu hiện thông qua việc cố ý
đưa vào các sản phẩm quảng cáo của doanh nghiệp mình các thông tin mang tính
chất so sánh trực tiếp giữa hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng
loại của doanh nghiệp khác theo hướng có lợi cho doanh nghiệp mình.
Ở chiến dịch quảng cáo của mình, thương hiệu B chỉ đưa ra những câu khẩu
hiệu mang tính chất đối xứng hoặc đối sánh với nhau chứ không hề đưa “một thông
điệp có tính chất tương tự, hay một sản phẩm có nhiều điểm chung”. Những thông
điệp của Công ty CP B hoàn toàn do sáng tạo dựa trên góc độ truyền thông và họ
không có bất kỳ thông tin nào mang tính chất đả kích, hạ thấp đối thủ hoặc đưa ra
những thông tin sai sự thật về sản phẩm của Công ty TNHH A. Việc các nhãn hàng
trực tiếp hoặc gián tiếp cạnh tranh nhau trong các chiến dịch marketing không phải là
điều lạ. Nên theo đó, nếu đối chiếu vào quy định của luật cạnh tranh thì đây không
phải là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
[Hành vi của công ty B có thể vi phạm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 45 LCT:
Đưa thông tin gây nhầm lẫn cho khách hàng về hàng hóa mà doanh nghiệp cung cấp
nhằm thu hút khách hàng của doanh nghiệp khác (các bạn cũng có thể chứng minh
nó không vi phạm quy định này, tùy lập luận nhé)]
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn) lOMoARcPSD|39344269
12/ Công ty cổ phần Chuyển mạch Tài chính Quốc gia Việt Nam (Banknetvn) và
Công ty Cổ phần Dịch vụ thẻ Smartlink (Smartlink) hoạt động trong lĩnh vực
trung gian thanh toán ngân hàng có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan là
100%. Smartlink đã thực hiện việc sáp nhập vào Banknetvn.
Hành vi trên đã vi phạm quy định về thông báo tập trung kinh tế theo Điều 33 Luật Cạnh tranh 2018.
- Chủ thể: Các doanh nghiệp là Công ty cổ phần Chuyển mạch Tài chính Quốc
gia Việt Nam (Banknetvn) và Công ty cổ phần Dịch vụ thẻ Smartlink.
- Hành vi: Công ty Smartlink đã thực hiện việc sáp nhập vào Banknetvn mà
không thông báo đến Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia.
Theo Điểm a Khoản 1 Điều 29 Luật Cạnh tranh 2018 thì sáp nhập doanh
nghiệp là một trong các hình thức của tập trung kinh tế. Hai Công ty này có thị phần
kết hợp trên thị trường liên quan là 100% nên theo điểm d khoản 1 Điều 13 NĐ
35/2020, trường hợp này thuộc ngưỡng thông báo tập trung kinh tế. Như vậy, việc
Smartlink sáp nhập vào Banknetvn đã thuộc ngưỡng thông báo tập trung kinh tế nên
phải thông báo tập trung kinh tế theo Khoản 1 Điều 33 Luật Cạnh tranh 2018. Vì vậy,
hai công ty này đã vi phạm thủ tục thông báo tập trung kinh tế.
Hình thức xử lý: Phạt tiền từ 01% đến 05% tổng doanh thu trên thị trường liên
quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm của từng doanh
nghiệp tham gia tập trung kinh tế. (Điều 14 NĐ 75/2019)
Hành vi có thể bị cấm theo Điều 30 LCT và không được xét miễn trừ (Luật cũ
thì có khả năng được xét miễn trừ)
13. Công ty Ánh Dương ký hợp đồng với các khách sạn, khu nghỉ dưỡng trong đó
có điều khoản yêu cầu các khách sạn, khu nghỉ dưỡng này không được nhận đơn
đặt phòng của bất cứ công ty du lịch nào khác ngoài Ánh Dương đối với du
khách từ Nga, Ukraina và các nước Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS). Xét hai trường hợp:
*Trường hợp 1: Công ty A có vị trí thống lĩnh
Hành vi nêu trên của Công ty A là hành vi áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp
khác trong ký kết hợp đồng mà hành vi này có khả năng dẫn đến ngăn cản doanh
nghiệp khác tham gia, mở rộng thị trường hoặc loại bỏ doanh nghiệp khác. Căn cứ
vào điểm đ khoản 1 Điều 27 Luật Cạnh tranh 2018 thì đây là hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường bị cấm.
Hình thức xử lý: Căn cứ theo điểm đ khoản 1 Điều 8 NĐ 75/2019/NĐ-CP -
Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền từ 01% đến 10% tổng doanh thu trên thị
trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm của
doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường.
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn) lOMoARcPSD|39344269 -
Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp
luật ra khỏi hợp đồng kinh doanh. Cụ thể là điều khoản yêu cầu các khách sạn, khu
nghỉ dưỡng này không được nhận đơn đặt phòng của bất cứ công ty du lịch nào khác
ngoài Ánh Dương đối với du khách đến từ Nga, Ukraine và các nước trong Cộng
đồng các quốc gia độc lập (CIS) (khoản 3).
Trường hợp 2: Công ty A không có vị trí thống lĩnh -
Nếu công ty A không có hành vi ép buộc các khách sạn, khu nghỉ dưỡng
không được nhận đơn đặt phòng của bất cứ công ty du lịch nào khác ngoài Ánh
Dương đối với du khách đến từ Nga, Ukraine và các nước trong Cộng đồng các quốc
gia độc lập (CIS) bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép thì công ty A không vi phạm pháp luật cạnh tranh -
Nếu công ty A có hành vi ép buộc các khách sạn, khu nghỉ dưỡng không được
nhận đơn đặt phòng của bất cứ công ty du lịch nào khác ngoài Ánh Dương đối với du
khách đến từ Nga, Ukraine và các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS)
bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép thì đây được coi là hành vi cạnh tranh không lành
mạnh bị cấm theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018. +
Về chế tài, công ty A sẽ bị phạt tiền theo khoản 2 Điều 19 Nghị định
75/2019/NĐ-CP: “Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với hành
vi trực tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác.”
Về hình thức xử phạt bổ sung, công ty A có thể bị áp dụng hình phạt sau hình phạt:
a) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động từ
06 tháng đến 12 tháng kể từ ngày quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có hiệu lực thi hành;
b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính về cạnh tranh;
c) Tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm. -
Nếu giữa công ty A và các khách sạn, khu nghỉ dưỡng có thỏa thuận ngăn cản,
kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh
doanh thì đây là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định tại khoản 2 Điều
12, khoản 5 Điều 11 Luật cạnh tranh 2018. +
Về chế tài, công ty A sẽ bị phạt tiền theo khoản 1 Điều 6 Nghị định
75/2019/NĐ-CP: “Phạt tiền từ 01% đến 10% tổng doanh thu trên thị trường liên
quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm”. Về hình thức
xử phạt bổ sung: “Tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi
phạm”, Biện pháp khắc phục hậu quả: “Buộc loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp
luật ra khỏi hợp đồng, thỏa thuận hoặc giao dịch kinh doanh.”
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn) lOMoARcPSD|39344269
14. Công ty M có 40% thị phần trên thị trường phim nhựa nhập khẩu khi phân
phối phim cho các doanh nghiệp khác chiếu đã có các hành vi: (i) Áp đặt chính
sách Giá thuê phim tối thiểu trên mỗi người xem là 25.000 đồng (sau thuế) (nghĩa
là nếu rạp bán mỗi vé với giá 50.000 đồng thì phần M hưởng là 25.000 đồng/vé.
Tuy nhiên, nếu giá vé trên 50.000 đồng, M lại áp dụng chia 50:50 như cũ); (ii)
Buộc các doanh nghiệp này phải thuê thêm phim khác kèm theo phim muốn
thuê. (Ví dụ, muốn có phim Transformers – một phim dạng “bom tấn”, thì phải
lấy kèm phim Ice Age là một phim hoạt hình) Giang
Thứ nhất, về chủ thể, công ty M có 40% thị trần trên thị trường phim nhựa nhập
khẩu. Căn cứ theo khoản 1 Điều 24 LCT 2018 thì công ty M là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường.
Thứ hai, về hành vi:
Đối với hành vi áp đặt chính sách Giá thuê phim tối thiểu trên mỗi người xem
là 25 nghìn đồng (sau thuế) (nghĩa là nếu rạp A bán mỗi vé với giá dưới 50 nghìn
đồng thì phần M hưởng là 25 nghìn/vé. Tuy nhiên, nếu giá vé là trên 50 nghìn đồng,
M lại áp dụng tỷ lệ chia 50 - 50 như cũ). Công ty M đã có hành vi ấn định giá bán lại
tối thiểu gây ra hoặc có khả năng gây ra thiệt hại cho khách hàng theo điểm b khoản
1 điều 27 LCT 2018: “Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý…” Theo
đó, trong tình huống trên, công ty M đã áp đặt chính sách giá thuê phim tối thiểu mỗi
người xem là 25 nghìn đồng (sau thuế) (nghĩa là nếu rạp A bán mỗi vé với giá dưới 50
nghìn đồng thì phần M hưởng là 25 nghìn/vé. Tuy nhiên, nếu giá vé là trên 50 nghìn
đồng, M lại áp dụng tỷ lệ chia 50 - 50 như cũ). Với việc áp đặt giá như vậy, các rạp
phim thuê phim của công ty M sẽ chịu tổn thất về lợi ích, ảnh hưởng đến lợi nhuận thu
được của các rạp phim khi thuê phim của công ty này. Do đó, hành vi áp đặt giá của
công ty M là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh bị cấm theo Luật cạnh tranh 2018.
Đối với hành vi buộc các doanh nghiệp này phải thuê thêm phim khác kèm
theo phim muốn thuê. (Ví dụ, muốn có phim Transformers - một phim thuộc dạng
“bom tấn”, thì phải lấy kèm phim Ice Age là một phim hoạt hình). Công ty M đã có
hành vi yêu cầu các doanh nghiệp phân phối chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan
trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng theo điểm đ khoản 1 điều 27 LCT 2018. Cụ thể
là buộc các doanh nghiệp này phải thuê thêm phim khác kèm theo phim muốn thuê. M
đã lợi dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường để bóc lột các doanh nghiệp phân phối,
đồng thời hạn chế cạnh tranh trên thị trường liên quan của hàng hóa được kèm thêm.
Hành vi của công ty M có thể làm cho các doanh nghiệp khác trên thị trường cung cấp
phim nhựa nhập khẩu không thể tham gia, mở rộng thị trường hoặc thậm chí có thể
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn) lOMoARcPSD|39344269
loại bỏ doanh nghiệp đó. Chính vì vậy, hành vi của công ty M là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh bị cấm.
Thứ ba, về chế tài, công ty M bị phạt tiền từ 01% đến 10% tổng doanh thu trên
thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm
của doanh nghiệp M có vị trí thống lĩnh thị trường theo quy định Điều 8 Nghị định
75/2019 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh. Đồng
thời, công ty M còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là tịch thu khoản lợi nhuận
thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm. Hoặc được áp dụng biện pháp khắc phục
hậu quả là buộc loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng, thỏa
thuận hoặc giao dịch kinh doanh; hoặc buộc cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. HIẾU
- Chủ thể: Công ty M có 40% thị phần trên thị trường phim nhựa nên theo
khoản 1 Điều 24 Luật Cạnh tranh đây là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường - Hành vi:
(i) Áp đặt chính sách Giá thuê phim tối thiểu trên mỗi người xem:
Đối với hành vi trên của Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, theo quy định
tại điểm b khoản 1 Điều 27 Luật Cạnh tranh 2018, ta thấy việc Công ty M áp đặt giá
là 25 nghìn đồng/vé trong trường hợp rạp A bán dưới 50 nghìn đồng/vé, nếu giá vé
trên 50 nghìn đồng thì áp dụng tỷ lệ 50/50 là gây ra thiệt hại cho cả rạp A (khi giữ
nguyên giá bán vé cũ) và người tiêu dùng (khi rạp A tăng giá vé).
Như vậy, Công ty M đã có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường bị
cấm đó là áp đặt giá bán dịch vụ bất hợp lý theo điểm b khoản 1 Điều 27 Luật Cạnh tranh 2018.
- Hành vi vi phạm của Công ty M sẽ bị xử phạt theo quy định tại Nghị định
75/2019/NĐ-CP, cụ thể như sau: Căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định
75/2019/NĐ-CP, Công ty M bị phạt tiền từ 01% đến 10% tổng doanh thu trên thị
trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm của Công ty M.
(ii) Buộc các doanh nghiệp phải thuê thêm phim khác kèm theo phim muốn thuê:
- Buộc các doanh nghiệp phải thuê thêm phim khác kèm theo phim muốn thuê
đây là hành vi gắn việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ là đối tượng của hợp đồng với
việc phải mua hàng hoá, dịch vụ khác (cụ thể là muốn có phim Transformers - một
phim thuộc dạng “bom tấn”, thì phải lấy kèm phim Ice Age là một phim hoạt hình).
Điều kiện mà Công ty M đưa ra có nội dung phản cạnh tranh; Công ty M đã tận dụng
lợi thế của vị trí thống lĩnh ép buộc các doanh nghiệp chấp nhận các nghĩa vụ không
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn) lOMoARcPSD|39344269
liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng. Vì vậy Công ty M đã vi phạm điểm đ
khoản 1 Điều 27 Luật Cạnh tranh 2018.
- Hình thức xử lí: Căn cứ theo điểm đ khoản 1 Điều 8 Nghị định 75/2019/NĐ-
CP, phạt tiền từ 01% đến 10% tổng doanh thu trên thị trường liên quan trong năm tài
chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường. Giáo trình
Thứ nhất, vì chính sách ấn định giá mà Megastar áp đặt cho các công ty điện
ảnh là ấn định giá tối thiểu Megastar thu của các công ty điện ảnh. Về nguyên tắc,
các công ty điện ảnh vẫn có quyền bán vé với giá thấp hơn giá tối thiểu mà Megastar
thu của họ (dù thực tế họ không thể làm như thế).
Thứ hai, chiếu phim là dịch vụ, giá vé xem phim là giá bán lẻ cho dịch vụ đó.
Khoản 3 Điều 27 Nghị định 116/2005/NĐ-CP lại chỉ quy định hành vi ấn định giá tối
thiểu áp dụng đối với hàng hóa nên các công ty điện ảnh không thể khiếu nại
Megastar về hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu. Luật sư của các công ty điện ảnh
cho rằng đây là “lỗ hổng” của pháp luật cạnh tranh Việt Nam, và mong rằng lỗ hổng
này sớm được khắc phục. Nay, LCT 2018 chỉ quy định hành vi lạm dụng là ấn định
giá bán lại tối thiểu, và Nghị định 35/2020/NĐ-CP cũng không giải thích, nên có thể
hiểu ấn định giá bán lại tối thiểu của hàng hóa hay dịch vụ đều là hành vi vi phạm.
15/ A là giám đốc công ty X, B là giám đốc công ty Y. Hai công ty X và Y kinh
doanh cùng một thị trường liên quan. Do đó A và B ở gần nhau nên trong một
lần mâu thuẫn cá nhân, A đã mắng B với nội dung: “B là người ăn dơ ở bẩn nên
không xứng là người quản lý của một doanh nghiệp kinh doanh nước uống đóng
chai như công ty Y”. việc A mắng B với nội dung như trên được phóng viên của
báo M ghi hình và báo M đã viết bài đưa tin trên mạng của mình kèm theo đoạn video ghi được.
Không vi phạm pháp luật cạnh tranh
16/ Công ty A là công ty chuyên mua cá da trơn để xuất khẩu sang Châu Âu
tháng 4 năm 2015 thị trường châu Âu có nhiều biến động theo đó nhu cầu của
mua cá từ x giảm 30% so với thời gian trước vì vậy công ty x thông báo đến nông
dân là nhu cầu mua cá của công ty này giảm và giá mua cũng chỉ là 7.500₫ chi
phí sản xuất cá của nông dân là 10.500₫ theo anh chị hành vi trên có vi phạm
pháp luật cạnh tranh ? Tại sao?
Nếu công ty A có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền thì hành vi này có
thể vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 27 LCT – hành vi áp đặt giá mua bất
hợp lý nếu giá trên là bất hợp lý và gây ra hoặc có khả năng gây ra thiệt hại cho khách hàng.
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn) lOMoARcPSD|39344269
17. Công ty A chiếm thị phần 35% trên thị trường thu mua thanh long ruột đỏ ở
Việt Nam (do có đặt hàng tiêu thụ thanh long thường xuyên tại Đài Loan) đã
giảm giá thu mua thanh long đến 20% khi không có biến động về cầu tại Đài Loan.
Chủ thể: Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Doanh nghiệp A
Theo căn cứ tại khoản 1 Điều 24 LCT 2018 thì doanh nghiệp được coi là có vị trí
thống lĩnh thị trường nếu doanh nghiệp đó có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường
liên quan. Mà ở đây, ta có doanh nghiệp 35% (>30%) thị phần trên thị trường thu mua
thanh long ruột đỏ ở Việt Nam, do đó doanh nghiệp A đủ điều kiện để trở thành doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường. Xét hành vi:
Doanh nghiệp A có hành vi giảm giá thu mua thanh long đến 20% khi không
có biến động về cầu tại Đài Loan.
Trong trường hợp này chất lượng thanh long ruột đỏ không kém hơn chất
lượng thanh long ruột đỏ đã mua trước đó và thị trường Đài Loan không có biến động
về cầu nghĩa là không có khủng hoảng về kinh tế, thiên tai, địch họa,. nên theo tinh
thần của Nghị định 116/2005/NĐ - CP thì đây là hành vi đặt giá mua hàng hóa cụ thể
là thanh long một cách bất hợp lý theo quy định điểm b khoản 1 Điều 27 LCT 2018
Hậu quả: bên bán thanh long ruột đỏ bị thiệt hại. Quan hệ này là quan hệ không
bình đẳng, thiệt hại của người bán là lợi ích của công ty A
Hình thức xử lý: Phạt tiền theo Điều 4 và điểm b khoản 1 Điều 8 NĐ 75/2019.
Hình thức xử phạt bổ sung: khoản 2 Điều 8 NĐ 75/2019.
Biện pháp khắc phục hậu quả: khoản 3 Điều 8 NĐ 75/2019.
18. Công ty X niêm yết trước trụ sở của công ty này thông báo như sau: “Chúng
tôi là đại diện phân phối các sản phẩm của Công ty Y sản xuất”. Trong thực tế
công ty X và Công ty Y không ký kết được hợp đồng phân phối do không thỏa
thuận được điều khoản về xúc tiến bán hàng. (2 điểm)
Hành vi có thể vi phạm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 45 LCT – hành vi
đưa thông tin gian dối cho khách hàng về doanh nghiệp nếu nhằm thu hút khách hàng của doanh nghiệp khác.
1. Chủ thể thực hiện hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Về nguyên tắc, chủ thể của Luật cạnh tranh 2018 (điều 2) là các chủ thể tiến
hành các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận, chủ yếu là các doanh
nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường. Ở đây, khái niệm doanh nghiệp
được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả đơn vị sự nghiệp công lập, hiệp hội ngành,
nghề hoạt động tại Việt Nam, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có liên quan.
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn) lOMoARcPSD|39344269
Trong vụ việc này, công ty X thực hiện hành vi đưa thông gian dối cho khách
hàng về công ty mình nhằm thu hút khách hàng của công ty Y. Như vậy, có thể thấy
rằng công ty X – một doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường,
theo quy định của pháp luật cạnh tranh là chủ thể của hành vi nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
2. Hành vi vi phạm của công ty X
Đối tượng tác động trực tiếp của các hành vi này là khách hàng bao gồm
khách hàng hiện tại và cả khách hàng tiềm năng của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Đối
tượng tác động gián tiếp là Công ty Y - là đối thủ cạnh tranh của công ty X trên thị trường.
Hành vi: Công ty X niêm yết trước trụ sở của công ty này thông báo:
“Chúng tôi là đại diện phân phối các sản phẩm của Công ty Y sản xuất”. Trong
thực tế công ty X và Công ty Y không ký kết được hợp đồng phân phối do
không thỏa thuận được điều khoản về xúc tiến bán hàng.
Mục đích của hành vi: là nhằm gây nhầm lẫn cho khách hàng, qua đó tác
động đến sức mua hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp mình, đồng thời cạnh tranh
không lành mạnh với Công ty Y.
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng công ty X đã thực hiện hành
vi lôi kéo khách hàng nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo quy định trên.
Biện pháp xử lý và khắc phục hậu quả: Điều 110 LCT
19. Công ty A đã đạt được sự thỏa thuận với Tập đoàn Đ là doanh nghiệp độc
quyền phân phối điện về việc cho Công ty A độc quyền thuê hệ thống cột điện
của Tập đoàn Đ để lắp đặt đường truyền viễn thông.
20. Công ty A chuyên sản xuất và phân phối đối với sản phẩm mì ăn liền. Tháng
09.2021 công ty A cung cấp thông tin cho khách hàng với nội dung như sau: “ăn
mì gói khác thì nóng, ăn mì gói của công ty A thì không bị nóng vi mì A là mi làm
từ khoai tây". Sau khi cơ quan nhà nước kiểm chứng đã kết luận mì gói A có
hàm lượng khoai tây chiếm 30% trong thành phần nguyên liệu của sản phẩm.
Hành vi trên có vi phạm Điều 45 LCT 2018 không?
Đây là hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm theo quy định tại điểm a
khoản 5 Điều 45 LCT 2018.
- Chủ thể: Công ty A chuyên sản xuất và phân phối đối với sản phẩm mì ăn liền.
- Hành vi: Cụ thể là hành vi cung cấp thông tin cho khách hàng với nội dung như
sau: “ăn mì gói khác thì nóng, ăn mì gói của công ty A thì không bị nóng vi mì A là
mì làm từ khoai tây”. Công ty A đã sử dụng thông tin có tính gian dối, gây nhầm lẫn
cho khách hàng về chính sản phẩm mì ăn liền của mình. Công ty A đã làm cho không
ít người tiêu dùng mặc định cho rằng sợi mì được làm từ khoai tây, ăn loại mì này
đảm bảo chất lượng và không bị nóng và ho người tiêu dùng nhận thức là ngoại trừ mì
này, sử dụng loại khác đều bị nóng. Chính thông tin trên của công ty A là yếu tố có ý
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn) lOMoARcPSD|39344269
nghĩa tác động đến quyết định đến mua mì của khách hàng. Đây thuộc trường hợp
hành vi không lành mạnh bị cấm.
- Mục đích: nhằm lôi kéo khách hàng của doanh nghiệp khác
- Biện pháp xử lý và khắc phục hậu quả: Điều 110 LCT Bài số 1:
Theo đơn khởi kiện, từ năm 2017, tập đoàn X bán nhiều sản phẩm, thiết bị cho
công ty T. Năm năm sau, hai bên chấm dứt mọi quan hệ, giao dịch. Nhưng cũng
từ lúc đó, công ty T liên tục đưa ra thông tin không trung thực về X trên một số
trang thông tin điện tử… Chẳng hạn, công ty T. cho đăng hình ảnh các sản phẩm
bị rỉ sét của X, gây hoang mang cho người tiêu dùng trong khi sản phẩm của X
rất chất lượng, bảo hành trọn đời sản phẩm.
Hay như công ty T cho đăng tải các bài viết có những đánh giá chủ quan, không
có căn cứ, chỉ trích, cho rằng X đã “qua cầu rút ván”, “kinh doanh thiếu văn
hóa”, “thiếu đạo đức trong kinh doanh”, “tàn nhẫn và thủ đoạn” và “không có
chữ tín”, “không đáng tin cậy”..
Công ty T còn cho đăng nhiều “Phiếu thu thập ý kiến khách hàng”, trong đó có
nội dung phê phán việc chấm dứt mối quan hệ mua bán giữa X và T, tổ chức
dàn dựng chụp hình ảnh nhãn hiệu, logo của X kèm theo hình ảnh một số đối
tượng có hành động biểu tượng chỉ tay phản đối, tẩy chay sản phẩm X, phát tán rộng khắp. .
Theo tập đoàn X, việc phát tán các thông tin sai sự thật trên các phương tiện
truyền thông và chuyển tiếp cho khách hàng, đối tác của X trong một thời gian
dài chính là nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín và gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động
kinh doanh của X tại Việt Nam.
Việc làm này gây hậu quả là không những đã gây nhầm lẫn và làm lệch lạc nhận
thức của khách hàng đối với thương hiệu X mà còn trực tiếp làm tổn hại đến
hoạt động kinh doanh của nguyên đơn. Đồng thời ảnh hưởng xấu đối với hình
ảnh thương hiệu và uy tín kinh doanh của X.
Do vậy, X đã đàm phán với công ty T yêu cầu chấm dứt các hành vi trên. Nhưng
công ty này đòi phải thanh toán 180.000 euro, trong đó có 20.000 euro trả cho
việc lấy lại tên miền có liên quan thương hiệu X; 160.000 euro bồi thường cho
công ty T vì chi phí họ đã đầu tư vào thời điểm còn hợp tác với X.
Các yêu cầu trên của công ty T không có cơ sở nên tập đoàn X đề nghị tòa buộc
công ty T phải chấm dứt các hành động trên ngay lập tức và vô điều kiện.
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn) lOMoARcPSD|39344269
Theo anh (chị), hành vi của công ty T có phải là hành vi cạnh tranh không
lành mạnh hay không? Nếu có là hành vi gì?
Trả lời: Hành vi của công ty T là một trong những hành vi cạnh tranh không
lành mạnh, cụ thể là hành vi cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp
khác theo quy định tại khoản 3 Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018. Cung cấp thông tin
không trung thực về doanh nghiệp khác là hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa thông
tin không trung thực về doanh nghiệp khác gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng
tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó. Công ty T thể hiện đủ các
yếu tố để chứng minh công ty này có hành vi cung cấp thông tin không trung thực và
doanh nghiệp khác. Theo đó:
- Thứ nhất, về mặt chủ thể thực hiện hành vi cung cấp thông tin không trung
thực về doanh nghiệp khác là doanh nghiệp cạnh tranh với doanh nghiệp bị đưa thông
tin không trung thực. Ở đây công ty T là doanh nghiệp theo quy định của khoản 1
Điều 2 Luật Cạnh tranh 2018. Nhưng có một điểm cần lưu ý là chủ thể bị đưa thông
tin không trung thực cũng phải là doanh nghiệp; trong tình huống này công ty T đã
cung cấp thông tin không trung thực về tập đoàn X. Theo quy định tại Điều 194
Luật Doanh nghiệp 2020 thì tập đoàn kinh tế không phải doanh nghiệp và không
có tư cách pháp nhân. Như vậy, trong trường hợp này không đáp ứng được điều kiện
về chủ thể để cấu thành hành vi cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác.
- Thứ hai, về đối tượng tác động của hành vi là tập đoàn X.
- Thứ ba, phương thức vi phạm là là trực tiếp cung cấp thông tin không trung
thực. Cụ thể công ty T đã đăng tải hình ảnh sản phẩm bị rỉ sét của công ty thuộc tập
đoàn X trong khi sản phẩm chất lượng tốt và được bảo hành trọn đời; đăng bài viết
trên tạp chí điện tử mang đánh giá chủ quan cho rằng công ty thuộc tập đoàn X đã qua
cầu rút ván, thiếu đạo đức trong kinh doanh, thiếu văn hóa kinh doanh, tàn nhẫn, thủ
đoạn, không có chữ tín; đăng "phiếu đánh giá từ khách hàng" mang tính chất phê
bình; tổ chức dàn dựng chuyển hình ảnh vào Logo của công ty bị hiểu nhầm và sai
lệch tính chất của sự việc…
- Thứ tư, về hậu quả của hành vi mà công ty T đã làm gây ảnh hưởng xấu đến uy
tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của một công ty thuộc tập đoàn X. Cụ
thể là gây hoang mang cho người tiêu dùng, bôi nhọ và hạ thấp uy tín của doanh
nghiệp, chung quy lại là ảnh hưởng đến đến hoạt động kinh doanh làm công ty thuộc
tập đoàn X mất đi một số lượng khách hàng lớn giá thiệt hại về kinh tế và hết sức
Downloaded by Huong Pham Ngoc Mai (030739230057@st.buh.edu.vn)