



Preview text:
Câu 1:
Khoản 3 điều 2 Hiến pháp 2013 của nước CHXHCN Việt Nam quy định như sau:
“ Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà
nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.” a,
Quy định trên đề cập đến nguyên tắc quyền lực thống nhất trong tổ chức bộ máy Nhà nước ta
hiện nay. Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là, quyền lực nhà nước là thống nhất: vì bản chất
của nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân nên quyền lực nhà nước tập trung về tay
nhân dân mà nền tảng là sự liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí
thức, do đó quyền lực nhà nước phải thống nhất thì mới đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước tập
trung trong tay nhân dân. Quan niệm quyền lực nhà nước là thống nhất nói trên là cách thức tổ
chức quyền lực nhà nước đề cao trách nhiệm trước nhân dân, hạn chế sự dựa dẫm, ỷ lại trong
việc thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ mà nhân dân đã ủy quyền.
Về sự phân công, phối hợp kiểm soát giữa các cơ quan quyền lực nhà nước trong việc thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp: cơ quan do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm
trước nhân dân mà cơ quan cao nhất là Quốc hội, nhân dân sử dụng quyền lực một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Mặc dù
Quốc hội là nơi thống nhất quyền lực nhà nước song Quốc hội không trực tiếp thực hiện cả ba
quyền mà trong bộ máy nhà nước có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà
nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Để thực hiện tốt được quyền
lực nhà nước một cách hiệu quả, bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam có sự phân công
rõ ràng cho các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp và các cơ quan nhà nước khác thực hiện,
không thể có một cá nhân hay cơ quan nhà nước nào thâu tóm toàn bộ quyền lực nhà nước trong
tay; tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn, lẫn lộn giữa ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp cũng
như các chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan đảm bảo phối kết hợp có hiệu quả giữa các cơ
quan, mỗi cơ quan sẽ có điều kiện phát huy đầy đủ trách nhiệm và thực hiện hiệu quả chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Nhưng mặc dù bộ máy nhà nước có sự phân định ba quyền
nhưng cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp không hoàn toàn tách biệt nhau, mà có liên
quan ràng buộc đến nhau, phải phối hợp với nhau để hoạt động một cách nhịp nhàng trên cơ sở
làm đúng, làm đủ nhiệm vụ và quyền hạn mà Nhân dân giao cho được Hiến pháp quy định.
Đồng thời, đó cũng là điều kiện để hình thành cơ chế kiểm soát, nhận xét, đánh giá chất
lượng và hiệu quả hoạt động của các quyền từ bên trong tổ chức quyền lực nhà nước cũng như
từ bên ngoài là nhân dân tránh tình trạng lạm quyền và sai quyền. Đây là một trong những quan
điểm quan trọng, thể hiện sự phát triển về nhận thức lý luận của Đảng và Nhà nước trong quá
trình tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, trở thành nguyên tắc cơ bản
chỉ đạo công cuộc cải cách, xây dựng bộ máy nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới. ( Tài liệu tham khảo:
https://truongchinhtri.kontum.gov.vn/vi/news/nghien-cuu-trao-doi/vbao-ve-nguyen-tac-
quyen-luc-nha-nuoc-la-thong-nhat-co-su-phan-cong-phoi-hop-kiem-soat-giua-cac-co-quan-nha-
nuoc-trong-viec-thuc-hien-cac-quyen-lap-phap-hanh-phap-va-tu-phap-21.html) b,
Biểu hiện cụ thể của nội dung quy định này trong mối quan hệ giữa Quốc hội với Chính
phủ, Tòa án nhân dân tối cao là : Quyền lực nhà nước Việt Nam là thống nhất, nói về phương
diện chính trị thì quyền lực nhà nước tập trung thống nhất về tay nhân dân; nói về phương diện
tổ chức thực hiện thì quyền lực nhà nước thống nhất ở Quốc hội. Quốc hội là cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất, được phân công thực hiện quyền lập pháp, có quyền định việc thông qua hay
không thông qua các dự án luật; bổ sung Hiến pháp, sửa đổi, bổ sung các đạo luật khác. Chính
phủ thực hiện quyền hành pháp, có quyền ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật nhằm
phục vụ cho hoạt động quản lý thống nhất các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Tòa án nhân dân
tối cao thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, công lý, quyền con người, tự do
của công dân. Giữa các cơ quan Nhà nước có sự giám sát, theo đó Chính phủ chịu trách nhiệm
và báo cáo trước Quốc hội về những hoạt động của mình; Quốc hội chất vấn và ra những nghị
quyết về công tác của Chính phủ; Quốc hội bầu ra Thủ tướng chính phủ theo sự đề nghị của Chủ
tịch nước, Quốc hội phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ khác. Thủ tướng Chính phủ có
quyền đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ các Bộ và cơ quan ngang bộ; chịu trách nhiệm
trước Quốc hội và báo cáo với Quốc hội. Quốc hội thành lập nên Tòa án nhân dân tối cao,
Chánh án toà án nhân dân tối cao do Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị
của Chủ tịch nước, nhiệm kỳ của Chánh án tòa án nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội.
Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do mình bầu ra như
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Quốc hội có quyền
giám sát hoạt động, có quyền chất vấn và xét báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao. ( Tài liệu
tham khảo: Nguyễn Hợp Toàn (2018 )- Giáo trình Pháp luật đại cương- Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia sự thật. Trường Đại học Luật Hà Nội (2018)- Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và
Pháp luật – Nhà xuất bản Tư pháp.)
Câu 2: Tình huống: Tháng 2/2021, sinh viên M ký hợp đồng gia sư tiếng Anh với nhà ông H
để dạy học cho con ông H là cháu G ( 6 tuổi). Theo thỏa thuận, tiền thù lao là 200.000đ/ buổi
học và thanh toán vào ngày cuối cùng của tháng.
a. Đặc điểm của quan hệ pháp luật:
Quan hệ pháp luật mang tính ý chí: nói cách khác, quan hệ pháp luật xuất hiện do ý chí con
người. Bên cạnh ý chí của các chủ thể tham gia quan hệ, quan hệ pháp luật còn chịu sự chi phối
bởi ý chí của nhà nước, hình thành trên cơ sở quy phạm pháp luật. Quan hệ của các chủ thể, ý
chí của các chủ thể phải phù hợp với ý chí của Nhà nước, quan hệ pháp luật cũng được hình
thành, thay đổi, chấm dứt còn phụ thuộc vào ý chí, các bên tham gia.
Quan hệ pháp luật xuất hiện và tồn tại trên cơ sở các quy phạm pháp luật: Quy phạm pháp
luật là nền tảng của quan hệ pháp luật. Quy phạm pháp luật quy định các điều kiện làm phát
sinh quan hệ pháp luật cụ thể, quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ pháp
luật đó cũng như các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên.
Các bên tham gia quan hệ pháp luật phải thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể: Các
chủ thể này luôn có các quyền và nghĩa vụ nhất định, được quy định rõ, tạo nên nội dung của
quan hệ pháp luật cụ thể.
Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia cũng có thể do các bên thỏa thuận trong khuôn khổ
của pháp luật, được xác định bởi nhà nước. Đây là đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật. b.
Loại quan hệ pháp luật trong tình huống trên là quan hệ pháp luật dân sự. Bởi vì quan hệ
pháp luật trong tình huống trên được hình thành bởi hai chủ thể, do có tác động của quy phạm
pháp luật lên ông H và sinh viên M đều có quyền và nghĩa vụ pháp lý là cái mà được nhà nước
bảo đảm thực hiện và xử lý bằng các biện pháp cưỡng chế.
Chủ thể là cá nhân: hai bên chủ thể tham gia thỏa thuận hợp đồng đều có ý chí muốn thực
hiện quan hệ pháp luật dân sự này, ông H có ý chí ý định muốn tìm sư gia dạy môn tiếng Anh
cho cháu G còn sinh viên M có ý chí ý định muốn kiếm thêm thu nhập nên muốn làm công việc
gia sư cho cháu ông H là em G cho nên hai chủ thể tham gia ký kết hợp đồng đều thỏa mãn đặc
điểm đầu tiên của quan hệ pháp luật
Ông H và sinh viên M đều tự quyết định việc có tham gia vào quan hệ pháp luật này và hai
bên buộc phải làm theo những quyền và nghĩa vụ khi tham gia ký kết hợp đồng: Ông H có
quyền yêu cầu M thực hiện công việc giảng dạy đúng theo trong hợp đồng và có nghĩa vụ trả
lương cho M vào cuối tháng. Còn M có quyền nhận lương theo sức lao động mình đã bỏ ra và
có nghĩa vụ phải hoàn thành đúng công việc giảng dạy của mình.
Ông H và sinh viên M đều có sự bình đẳng về địa vị pháp lý, quan hệ pháp luật dân sự là
việc tạo nên sự thuận lợi nhất cho các bên tham gia. Nếu xảy ra phát sinh trong quá trình giảng
dạy thì biện pháp cưỡng chế được sử dụng không chỉ là do pháp luật quy định mà ông H và M
cũng có thể áp dụng những biện pháp hai bên tự thỏa thuận.
c. Bộ phận cấu thành quan hệ pháp luật dân sự trong tình huống trên
Chủ thể của quan hệ pháp luật trong tình huống này là hai bên M và G là chủ thể tham gia
trực tiếp vào mối quan hệ dạy học - tiếp nhận kiến thức còn trong quan hệ pháp luật, tham gia
vào việc ký kết hợp đồng thì là M và ông H. Cả hai chủ thể M và ông H đều có năng lực chủ thể
đầy đủ: đủ tuổi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, không mắc bệnh tâm thần, không bị Tòa
án hạn chế hay tước đoạt năng lực pháp luật.
Khách thể của quan hệ pháp luật trong tình huống này: một là lợi ích phi vật chất thì là quá
trình tiếp nhận kiến thức của G từ M; hai là tài sản vật chất cụ thể là tiền học phí 200.000đ/
buổi của M được nhận vào mỗi cuối tháng từ ông H.
Nội dung quan hệ pháp luật trong tình huống này: M có nghĩa vụ dạy học theo thoả thuận,
có quyền nhận thù lao sau khi hoàn thành công việc. H có quyền yêu cầu M thực hiện dạy học
theo thoả thuận, có nghĩa vụ thanh toán thù lao cho M. G có quyền được học và tiếp thu kiến
thức, trao đổi và phản hồi với M và ông H về các vấn đề liên quan đến việc học của mình. Nếu
như ông H và M không thực hiện đúng theo những điều ký kết trong hợp đồng thì phải hoàn
toàn chịu trách nhiệm trước cơ quan pháp lý. Còn trong quá trình giảng dạy nếu như G hoặc M
thì hai bên đều có quyền trao đổi với ông H để xử lý vấn đề.