



Preview text:
Nhóm 19: Nguyễn Thị Tuyền Vy Thị Hương Tạ Phương Thảo Lê Minh Phương Tạ Thanh Phương Bài làm Câu 1:
*) Những phong tục, tập quán pháp không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật, được thừa nhận để trở thành tập quán là:
- Phong tục của dân tộc Ê-đê “Chúng ta ai ai cũng có quyền đốt rẫy, bắt cá ở bất cứ nơi
nào/ Ai ai cũng có quyền trèo cây lấy mật ở bất cứ rừng thấp, bụi bờ nào”
vì điều này thể hiện quyền sở hữu cá nhân khi các cá nhân có quyền tự do khai thác,
canh tác và sử dụng các nguồn tài nguyên như đất đai, nguồn nước, rừng,… để phục vụ
nhu cầu sản xuất cũng như trong sinh hoạt đời sống.
- Dân tộc Jrai: “Nếu chồng nó chết/ Của cải của nó sẽ để lại cho ai/ Để lại của cải/ Cho
con trai, con nuôi/ Nếu cha mẹ qua đời” vì điều này nói đến hàng thừa kế thứ nhất (con
đẻ, con nuôi) theo Luật thừa kế tài sản trong gia đình.
- Dân tộc M’Nông: “Xét thấy vợ chồng không sống chung được nữa/ chúng nó mới
tách ra ở riêng” vì Hiến pháp năm 1992, Điều 36 hiến pháp 2013 ghi nhận: "Nam, nữ
có quyền kết hôn, ly hôn" và không vi phạm "Cấm cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn”
*) Những phong tục, tập quán khác không được thừa nhận
- Điều 99, 100, 101 trong tục “Juê nuê”: khi người chồng chết, người vợ có quyền đòi
hỏi nhà chồng phải thế một người em trai chồng để làm chồng và ngược lại. Điều này
là loạn luân và đi ngược lại tiêu chuẩn đạo đức của con người, gây rối loạn trật tự trong gia đình.
- Dân tộc Jrai: “Trai còn tơ, gái còn son họ đến gặp gỡ nhau/ Có việc gì động chạm đến
ai thì mới sợ/ Chúng nó được phép bắt lấy nhau làm vợ chồng”
Nếu theo chúng em hiểu trên mặt chữ, điều này cho phép yêu đương tự do nhưng
không phải hôn nhân tự nguyện, khi có hành động “bắt” mang tính cưỡng ép. Hơn nữa,
vì phong tục này đề cập đến đối tượng ở giai đoạn trẻ tuổi, có thể sẽ xảy ra nạn tảo hôn
(kết hôn trước độ tuổi quy định).
- Phong tục “Dọ-tơm-ami” của dân tộc Ba-na và Jrai: Nếu người mẹ chẳng may chết
khi vượt cạn thì trẻ sơ sinh phải viết theo,…”. Điều này là phi nhân đạo, đi ngược lại nhân quyền.
Câu 2: Tập quán pháp có ưu điểm nhược điểm gì trong việc điều chỉnh các quan hệ XH? *) Ưu điểm :
- Tập quán pháp xuất phát từ những thói quen, những quy tắc ứng xử từ lâu đời nên đã
ngấm sâu vào tiềm thức của nhân dân và được nhân dân tự giác tuân thủ góp phần tạo
nên pháp luật và nâng cao hiệu quả của pháp luật.
- Góp phần khắc phục tình trạng thiếu pháp luật, khắc phục các lỗ hổng của pháp luật thành văn.
- Việc thực hiện dễ dàng, công tác tuyên truyền thuận lợi, gần gũi với cuộc sống hằng ngày.
*) Hạn chế của tập quán pháp
- Tập quán pháp tồn tại dưới dạng bất thành văn nên thường được hiểu một cách ước lệ,
thường có tính tản mạn, địa phương, khó bảo đảm có thể được hiểu và thực hiện thống nhất trong phạm vi rộng.
- Ảnh hưởng đến sự thống nhất của pháp chế, khó khăn thi muốn thay đổi điều chỉnh.
- Thiếu cơ sở khoa học, không mang tính quy phạm phổ biến.
Câu 3: Phân tích mối quan hệ giữa phong tục tập quán và pháp luật?
*) Điểm giống nhau giữa pháp luật và tập quán
- Pháp luật và tập quán đều là những quy tắc xử sự chung hay quy phạm xã hội để
hướng dẫn cách xử sự cho mọi người trong xã hội cho nên chúng đều có các đặc điểm
của các quy phạm xã hội.
- Pháp luật và tập quán đều là những khuôn mẫu, chuẩn mực để hướng dẫn cách xử sự
cho mọi người trong xã hội, để bất kỳ ai khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh do chúng dự
liệu thì đều phải xử sự theo những cách thức mà chúng đã nêu ra.
- Căn cứ vào pháp luật, tập quán, các chủ thể sẽ biết mình được làm gì, không được làm
gì, phải làm gì và làm như thế nào khi ở vào một điều kiện, hoàn cảnh nhất định.
+ Pháp luật và tập quán đều là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của
con người. Căn cứ vào các quy định của pháp luật, của tập quán, có thể xác định được
hành vi nào là hợp pháp, hành vi nào là hợp tập quán; hành vi nào là trái pháp luật,
hành vi nào là trái tập quán.
+ Pháp luật và tập quán đều được đặt ra không phải cho một chủ thể cụ thể hay một tổ
chức, cá nhân cụ thể mà là cho tất cả các chủ thể tham gia vào quan hệ xã hội do chúng điều chỉnh.
+ Pháp luật và tập quán đều được thực hiện nhiều lần trong thực tế cuộc sống, bởi vì
chúng được ban hành không phải để điều chỉnh một quan hệ xã hội cụ thể, một trường
hợp cụ thể mà để điều chỉnh một quan hệ xã hội chung.
+ Cả pháp luật và tập quán đều tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập
và giữ gìn trật tự xã hội. *) Tác động:
- Tác động của pháp luật tới tập quán
+ Pháp luật có thể góp phần củng cố, phát huy vai trò, tác dụng thực tế của các tập
quán khi chúng phù hợp với ý chí của nhà nước và được thừa nhận trong pháp luật.
VD: các phong tục ăn Tết cổ truyền, Giỗ Tổ Hùng Vương khi được Nhà nước thừa
nhận thì sẽ được Nhà nước bảo đảm thực hiện, tạo điều kiện cho các phong tục đó
được củng cố, phát huy vai trò, tác dụng trong thực tế thông qua việc cho phép người
lao động, giáo viên, học sinh, sinh viên được nghỉ để ăn Tết, ăn Giỗ, tổ chức các nghi
lễ quốc gia để kỷ niệm những ngày này.
+ Ngược lại, pháp luật cũng có thể góp phần loại trừ, thanh toán dần các tập quán trái
với ý chí của nhà nước, lạc hậu, không phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội.
VD: phong tục thách cưới, tập quán coi quan hệ hôn nhân là một quan hệ gả bán…
trái với ý chí của Nhà nước ta nên được pháp luật loại trừ, thanh toán dần bằng quy
định: Hôn nhân là tự nguyện, trên cơ sở tình yêu giữa nam và nữ, cấm yêu sách của
cải trong việc cưới hỏi…
- Tác động của tập quán đối với pháp luật:
+ Đối với việc hình thành pháp luật
❖ Tập quán là nguồn nội dung của pháp luật : nhiều tập quán phù hợp với ý chí của nhà
nước được thừa nhận trong pháp luật đã góp phần tạo nên pháp luật, ví dụ, tập quán
xác định họ hoặc xác định dân tộc cho con, tập quán giải thích giao dịch dân sự… ở nước ta.
❖ Những tập quán trái với ý chí của nhà nước sẽ trở thành tiền đề để hình thành nên
những quy phạm thay thế chúng, từ đó góp phần hình thành nên pháp luật, ví dụ, tập
quán sản xuất pháo và đốt pháo, phong tục thách cưới… ở nước ta.
❖ Tập quán là nguồn hỗ trợ bổ sung cho pháp luật: nhà nước không thể nào “ luật hóa”
được mọi lĩnh vực , mọi ngõ ngách của đời sống xã hội trong khi đó tập quán lại rất
đa dạng và phong phú với cơ chế mềm dẻo linh hoạt.
+ Đối với việc thực hiện pháp luật
❖ Những tập quán phù hợp với ý chí của nhà nước, được thừa nhận trong pháp luật sẽ
góp phần làm cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, tự giác hơn, bởi
vì các tập quán đó đã ngấm sâu vào tiềm thức của nhân dân thành thói quen xử sự của họ.
❖ Ngược lại, những phong tục, tập quán trái với ý chí của nhà nước sẽ cản trở việc thực
hiện pháp luật trong thực tế.
Tóm lại: Phong tục tập quán và pháp luật có vai trò tác động qua lại với nhau: phong
tục tập quán là 1 phần trong việc hình thành pháp luật còn pháp luật là cơ sở giúp cho
phong tục tập quán phát triển toàn diện phù hợp với xã hội.