-
Thông tin
-
Quiz
Bài tập lớn môn Tư tưởng Hồ Chí Minh| Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Đại học Kinh tế Quốc dân với những kiến thức và thông tin bổ ích giúp các bạn định hướng và họp tập dễ dàng hơn. Mời bạn đọc đón xem. Chúc bạn ôn luyện thật tốt và đạt điểm cao trong kì thi sắp tới
Tư tưởng Hồ Chí Minh (LLTT1101) 326 tài liệu
Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Bài tập lớn môn Tư tưởng Hồ Chí Minh| Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Đại học Kinh tế Quốc dân với những kiến thức và thông tin bổ ích giúp các bạn định hướng và họp tập dễ dàng hơn. Mời bạn đọc đón xem. Chúc bạn ôn luyện thật tốt và đạt điểm cao trong kì thi sắp tới
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh (LLTT1101) 326 tài liệu
Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:

















Tài liệu khác của Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ BÀI TẬP LỚN
MÔN HỌC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ BÀI: “Anh, chị hãy tìm hiểu và phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh
về cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam? Sự vận dụng quan điểm nêu trên của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong việc phát triển cơ cấu nền kinh tế ở nước ta hiện nay?” Họ và tên: MSV:
Lớp tín chỉ: Tư tưởng Hồ Chí Minh(122)_23
GV hướng dẫn: TS. Nguyễn Chí Thiện Hà Nội-2022 MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU...........................................................................................................................3
NỘI DUNG................................................................................................................................4
I. Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.............................................................................................4 1.
Quan điểm của Lênin về thành phần kinh tế trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội..............................................................................4 2.
Về cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam...........................................................................................................5 3.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam....................................................5
II. Sự vận dụng quan điểm nêu trên của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc phát triển cơ
cấu nền kinh tế ở nước ta hiện nay.........................................................................................8 1.
Thực tiễn vận dụng sáng tạo quan điểm của Lênin và Tư
tưởng Hồ Chí Minh về thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ
lên CNXH ở nước ta.................................................................................................8 2.
Vận dụng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của Đảng ta
trong sự nghiệp đổi mới đất nước...............................................................10
KẾT LUẬN..............................................................................................................................12
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................13 2 LỜI NÓI ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà chính trị bàn về kinh tế, tư tưởng
kinh tế của Người cơ bản là tư tưởng kinh tế - chính trị. Trên cương vị
lãnh đạo quốc gia, Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm chỉ đạo
về xây dựng và phát triển kinh tế ở một nước nông nghiệp quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, chưa trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Quan điểm
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về những thành phần kinh tế là một bộ
phận đặc sắc trong tư tưởng kinh tế của Người và vẫn giữ nguyên giá
trị chỉ đạo đối với đất nước ta trong công cuộc đổi mới phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Cơ cấu các thành phần của một nền kinh tế phụ thuộc vào sự tồn
tại của các hình thức sở hữu, các kiểu quan hệ sản xuất, vào trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, của sản xuất hàng hoá thời kỳ quá
độ. Như Lênin đã chỉ rõ: Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ, xét về toàn
bộ, nó là nền kinh tế quá độ, còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu, do
đó sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác nhau là một tất yếu
khách quan. Mỗi thành phần kinh tế còn phát huy tác dụng tích cực,
có đóng góp vào quốc kế dân sinh thì không thể dùng mệnh lệnh
hành chính mà xoá bỏ ngay một lúc được.
Kế thừa những quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng
không ngừng và thời kỳ quá độ lên CNXH; xuất phát từ đặc điểm,
điều kiện của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Thời kỳ quá độ
“là thời kỳ dân chủ mới”, tiến dần lên CNXH. Ở Việt Nam là hình thái
quá độ gián tiếp với: “Đặc điểm to nhất là từ một nước nông nghiệp
lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển
tư bản chủ nghĩa”. Đặc điểm này chi phối tác động đến mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội, nhằm từng bước xóa bỏ triệt để các tàn tích của
chế độ thực dân, phong kiến, đồng thời từng bước gây dựng các
mầm mống cho CNXH phát triển, đó là một tất yếu.
Quá trình tìm hiểu đề tài và làm bài tiểu luận không tránh khỏi
những sai sót, mong thầy phụ trách bộ môn có thể nhận xét, xây
dựng góp ý để bài làm của em có thể hoàn thiện nhất có thể.
Em xin chân thành cảm ơn ! 3 NỘI DUNG I.
Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 1.
Quan điểm của Lênin về thành phần kinh tế trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Tính quy luật chung về kinh tế của mỗi quốc gia dân tộc trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần, quan điểm này được Lênin đưa ra trong Chính sách kinh
tế mới, để thay thế cho Chính sách cộng sản thời chiến đã lạc hậu và
kìm hãm sự phát triển kinh tế. Đồng thời, Lênin đưa ra các thành
phần kinh tế chủ yếu trong thời kỳ quá độ lên CNXH là: Kinh tế nông
dân kiểu gia trưởng; sản xuất hàng hóa nhỏ; chủ nghĩa tư bản tư
nhân; chủ nghĩa tư bản nhà nước và chủ nghĩa xã hội.Trong quá trình
thực hiện chính sách kinh tế mới, Lênin luôn đánh giá cao vị trí, vai
trò của thành phần kinh tế chủ nghĩa tư bản nhà nước, sử dụng chủ
nghĩa tư bản nhà nước dưới hình thức tô nhượng, hợp tác xã, tư nhân
đại lý, cho tư nhân thuê cơ sở sản xuất.v.v.được xem là “chiếc cầu
nhỏ vững chắc xuyên qua” chủ nghĩa tư bản để đi vào chủ nghĩa xã
hội. Phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước không chỉ là biện pháp
“quá độ đặc biệt” mà còn là khâu “trung gian” để chuẩn bị vật chất
đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội.
Về kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ, điểm xuất phát trong quá trình
xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là phải đáp ứng lợi
ích kinh tế cho đại đa số nông dân, mà trước hết là từ nông nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp, dựa vào khôi phục và phát triển kinh tế tiểu
nông để khôi phục và phát triển đại công nghiệp. Ngay Đại hội X
Đảng cộng sản bolshevik (bôn-sê-vích) Nga, Lênin đã yêu cầu chính
quyền Xô viết phải nhanh chóng phát triển nền sản xuất tiểu nông
bằng cách khuyết khích nền kinh tế nông dân cá thể với những biện
pháp “quá độ”, những hình thức “trung gian” có khả năng cải tạo
nông dân, đổi mới nông thôn và chuyển đổi nền kinh tế tiểu nông
của những người nông dân cá thể thành nền sản xuất tập thể có tính
xã hội chủ nghĩa, diễn ra một cách tuần tự, có tính kế thừa, thận trọng.
Về kinh tế tư bản tư nhân, khi chính sách kinh tế mới được áp
dụng trong thực tiễn nước Nga, Lênin hiểu rõ có thể chủ nghĩa tư bản
sống lại, nhưng ông cho rằng không sợ nó, mà kiêu gọi Chính quyền
Xô viết cần sử dụng tư nhân nông dân, thợ thủ công, thương nhân… 4
để phát triển kinh tế đất nước, bởi vì tư bản tư nhân sẽ tạo ra nhiều
hàng hóa tiêu dùng cho xã hội - cơ sở ổn định chính trị. Kinh tế chủ
nghĩa xã hội, Lênin đánh giá rất cao vị trí, vai trò của thành phần
kinh tế này, đây là xương sống của nền kinh tế -những mạch máu
kinh tế cơ bản như công nghiệp, ngân hàng, tài chính tín dụng luôn
nằm trong tay chính quyền Xô viết, thuộc sở hữu nhà nước. Khi chính
sách kinh tế mới được thực hiện, Lênin chủ trương các xí nghiệp quốc
doanh hoạt động theo chế độ tự hoàn vốn, chế độ hoạch toán kinh
tế, các xí nghiệp này được giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm
vật chất với kết quả hoạt động của mình.
Về thứ tự các thành phần kinh tế, Lênin đã cố tình sắp xếp các
thành phần kinh tế theo thứ tự, cấp độ tăng lên về tính chất xã hội
chủ nghĩa của mỗi thành phần kinh tế; tỷ trọng của các thành phần
kinh tế trong từng giai đoạn lịch sử; sự biến đổi tỷ trọng các thành
phần kinh tế phải theo hướng xã hội chủ nghĩa; tính đan xen, mâu
thuẫn, đấu tranh và thống nhất giữa các thành phần kinh tế, tạo ra
một cơ cấu kinh tế bền vững, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển
kinh tế của đất nước và tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội. 2.
Về cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam.
Thành phần kinh tế là một kiểu quan hệ kinh tế được hình thành
trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất. Các thành
phần kinh tế không tồn tại riêng biệt mà có liên hệ chặt chẽ, tác
động đan xen lẫn nhau tạo thành cơ cấu kinh tế thống nhất bao gồm
nhiều thành phần kinh tế.
Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội là cơ cấu kinh tế trong đó các thành phần kinh tế cùng
tồn tại và phát triển như một tổng thể, giữa chúng có mối quan hệ
tác động vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau.Sự tồn tại cơ cấu kinh
tế nhiều thành phần là đặc trưng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội và là tất yếu thách quan bởi:
Do đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời
kỳ lịch sử có sự đan xen giữa các yếu tố của xã hội cũ và xã
hội mới, nền kinh tế có nhiều loại hình sở hữu về tư liệu sản
xuất. Các thành phản kinh tế cũ và các thành phần kinh tế
mới tồn tại khách quan, có quan hệ tác động qua lại, đan
xen, bổ sung cho nhau, tạo nên sự đa dạng, các hình thức 5
kinh tế và sản xuất kinh doanh. Vì vậy trong thời kỳ quá độ
có nhiều thành phần kinh tế.
Nguyên nhân cơ bản của sự tồn tại cơ cầu kinh tế nhiều
thành phần trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội là do
yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính
chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Vì vậy,
trong thời kỳ quá độ, quá trình xây dựng quan hệ sản xuất
xã hội chủ nghĩa phải trên cơ sở phát triển lực lượng sản
xuất. Trong thời kỳ quá độ ở nước ta, do trình độ lực lượng
sản xuất còn hạn chế và phân bố không đều nên tất yếu còn
tồn tại nhiều hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế. 3.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn
cảnh cụ thể của nước ta, Hồ Chí Minh đã đề ra nhiều luận điểm, tư
tưởng chỉ đạo sáng suốt, có tính nguyên tắc về phát triển kinh tế ở Việt Nam.
Phát triển kinh tế là nhiệm vụ quan trọng nhất
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
Xuất phát từ đặc điểm nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một
nước thuộc địa nửa phong kiến, sức sản xuất chưa phát triển, đời
sống vật chất và văn hóa của nhân dân thấp kém, Hồ Chí Minh đã chỉ
rõ: “…nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền
tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,… có công nghiệp và
nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Trong quá
trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế
cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”.
Phải xây dựng cơ cấu kinh tế công nghiệp và nông nghiệp hợp lý: 6
Người khẳng định: “Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa có hai chân là
công nghiệp và nông nghiệp… hai chân không đều nhau, không thể
bước mạnh được”. Nông nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp đủ
lương thực cho nhân dân; cung cấp đủ nguyên liệu … Công nghiệp
phải phát triển mạnh để cung cấp đủ hàng tiêu dùng cần thiết cho
nhân dân, trước hết là cho nông dân; cung cấp máy bơm nước, phân
hóa học, thuốc trừ sâu… để đẩy mạnh nông nghiệp và cung cấp dần
máy cày, máy bừa cho các hợp tác xã nông nghiệp. Cho nên công
nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát
triển, như hai chân đi khỏe và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh và
nhanh chóng đi đến mục đích. Thế là thực hiện liên minh công nông
để xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no, sung sướng cho nhân dân.
Tất yếu khách quan phải tiến hành công nghiệp hóa:
Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là mục tiêu phấn đấu chung, là
con đường no ấm thực sự của nhân dân ta. Trong bài Con đường phía
trước (ngày 20-1-1960), Người viết: “Đời sống nhân dân chỉ có thể
thật dồi dào, khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất một cách thật
rộng rãi: dùng máy móc cả trong công nghiệp và trong nông nghiệp.
Máy sẽ chắp thêm tay cho người, làm cho sức người tăng lên gấp
trăm, nghìn lần và giúp người làm những việc phi thường. Muốn có
nhiều máy, thì phải mở mang các ngành công nghiệp làm ra máy, ra
gang, thép, than, dầu … Đó là con đường phải đi của chúng ta: Con
đường công nghiệp hóa nước nhà”.
Các hình thức sở hữu, thành phần kinh tế và định
hướng lên chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam còn nhiều
hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế.
Người chỉ ra rằng, ở thời kỳ quá độ, nền kinh tế đó còn các hình
thức sở hữu chính: “Sở hữu của nhà nước tức là của toàn dân. Sở hữu
của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động. Sở hữu
của người lao động riêng lẻ. Tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư
bản”. Tương ứng với chế độ sở hữu là thành phần kinh tế. Hồ Chí
Minh xác định: “Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác
nhau … Trong năm loại ấy, kinh tế quốc doanh là kinh tế lãnh đạo và 7
phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng
chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản”.
Để xây dựng và phát triển nền kinh tế có nhiều thành phần như
trên, Hồ Chí Minh đưa ra chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ
gồm bốn điểm mấu chốt:
Một là, công tư đều lợi. Kinh tế quốc doanh là công. Nó là nền
tảng và sức lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới. Cho nên chúng ta phải
ra sức phát triển nó và nhân dân ta phải ủng hộ nó. Đối với những
người phá hoại nó, trộm cắp của công, khai gian lậu thuế thì phải
trừng trị. Tư là những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của
nông dân và thủ công nghệ. Đó cũng là lực lượng cần thiết cho cuộc
xây dựng kinh tế nước nhà. Cho nên Chính phủ cần giúp họ phát
triển. Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia,
phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân.
Hai là, chủ thợ đều lợi. Nhà tư bản thì không khỏi bóc lột. Nhưng
Chính phủ ngăn cấm họ bóc lột nhân dân quá tay. Chính phủ phải
bảo vệ quyền lợi của công nhân. Đồng thời, vì lợi ích lâu dài, anh chị
em thợ cũng để cho chủ được số lợi hợp lý, không yêu cầu quá mức.
Chủ và thợ đều tự giác tự động, tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên.
Ba là, công nông giúp nhau. Công nhân ra sức sản xuất nông cụ
và các thứ cần dùng khác, để cung cấp cho nông dân. Nông dân thì
ra sức tăng gia sản xuất, để cung cấp lương thực và các thứ nguyên
liệu cho công nhân. Do đó mà càng thắt chặt liên minh giữa công nông.
Bốn là, lưu thông trong ngoài. Ta ra sức khai thác lâm thổ sản để
bán cho các nước bạn và dể mua những thứ ta cần dùng. Các nước
bạn mua những thứ ta đưa ra và bán cho ta những hàng hóa ta chưa
chế tạo được. Đó là chính sách mậu dịch, giúp đỡ lẫn nhau rất có lợi cho kinh tế ta.
Phát triển kinh tế phải đi đôi với thực hành tiết
kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu:
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là
con đường đi đến xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, xây dựng
hạnh phúc cho nhân dân. Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết
kiệm là tay trái của hạnh phúc”, “Sản xuất mà không tiết kiệm thì
khác nào gió vào nhà trống”. Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí 8
Minh, sản xuất và tiết kiệm gắn với nhau như một phương châm.
Phải luôn thực hành trong một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu lại phải
chịu nhiều bom đạn chiến tranh, chịu nhiều thiên tai bất thường.
Phát triển sản xuất để tăng sản phẩm xã hội và thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí là hai mặt biện chứng trong các chặng đường phát
triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân.
Đồng thời, Người căn dặn trong phát triển kinh tế phải chống
tham ô, lãng phí, quan liêu là những “giặc nội xâm”, đồng minh với
giặc ngoại xâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, ba căn bệnh tham ô,
lãng phí, quan liêu “là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính
phủ”. Loại kẻ thù này “khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm
mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, đề làm hỏng công
việc của ta”. Dù có cố ý hay không, tham ô, lãng phí, quan liêu “cũng
là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến”. “Nó làm hỏng tinh
thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo
đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính. Nó “phá hoại tinh
thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và của nhân
dân. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám”. II.
Sự vận dụng quan điểm nêu trên của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc
phát triển cơ cấu nền kinh tế ở nước ta hiện nay. 1.
Thực tiễn vận dụng sáng tạo quan điểm của Lênin và
Tư tưởng Hồ Chí Minh về thành phần kinh tế trong
thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta.
Thực tiễn hơn 30 năm Việt Nam phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, chúng ta
đã có sự lựa chọn sáng suốt, đúng đắn khi quyết định chuyển đổi cơ
chế quản lý kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu,
bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN từ Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VI, tháng 12 năm 1986. Đã tạo ra bước đột
phá về tư duy đổi mới thể chế, cơ chế trong quản lý kinh tế và đã
vận dụng một cách sáng tạo nhất quan điểm của Lênin và Tư tưởng
Hồ Chí Minh về các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Tùy vào từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước
mà Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn từng thành phần kinh tế cho
phù hợp, nhưng quan điểm nhất quán trong suốt thời kỳ đổi mới cho 9
đến nay, Đảng ta khẳng định phải phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần, dựa trên nhiều hình thức sở hữu.
Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, tháng 12 năm 1986
- Đại hội đổi mới, Đảng xác định 5 thành phần kinh tế chủ yếu: Kinh
tế XHCN (Quốc doanh, tập thể, gia đình), Kinh tế sản xuất hàng hóa
nhỏ, Kinh tế tự túc, tự cấp, Kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế tư bản tư nhân Đến Đại .
hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) Đảng
ta tiếp tục định 5 thành phần kinh tế: Kinh tế quốc doanh, Kinh tế
tập thể, Kinh tế cá thể, Kinh tế tư nhân, và Kinh tế tư bản nhà nước;
do vậy NQ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII chỉ rõ: “Từ các hình
thức sở hữu cơ bản sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân
hình thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức
kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp”. Đại hội VIII (năm 1996) có 5
thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước, Kinh tế hợp tác xã, Kinh tế cá
thể, tiểu chủ, Kinh tế tư bản tư nhân và Kinh tế tư bản nhà nước, Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nêu ra 6 thành phần kinh tế cơ
bản. Tại Đại hội IX (năm 2001), gồm có 6 thành phần kinh tế: Thành
phần kinh tế nhà nước, Thành phần kinh tế hợp tác xã, Thành phần
kinh tế cá thể tiểu chủ, Thành phần kinh tế tư bản tư nhân, Thành
phần kinh tế tư bản nhà nước, và Thành phần kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài; Kinh tế hỗn hợp (thuộc sở hữu cổ phần). Tại Đại hội X
(năm 2006), gồm có 5 thành phần kinh tế: Thành phần kinh tế nhà
nước, Thành phần kinh tế tập thể, Thành phần kinh tế tư nhân (bao
gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư bản tư nhân ), Thành phần
kinh tế tư bản nhà nước, và Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài.Như vậy Đại hội X chỉ khác Đại hội IX ở chỗ đã sát nhập hai
thành phần kinh tế kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư bản
tư nhân thành một thành phần đó là kinh tế tư nhân, là vì hai thành
phần này có điểm chung giống nhau là đều dựa trên chế độ sở hữu
tư nhân về TLSX; mặt khác chúng ta xóa đi sự mặc cảm đối với kinh
tế tư bản tư nhân và nó sẽ thuận hơn khi nói đến đảng viên được làm
kinh tế tư nhân. Tại Đại hội XI (năm 2011), gồm có 4 thành phần kinh
tế: Thành phần kinh tế nhà nước; Thành phần kinh tế tập thể; Thành
phần kinh tế tư nhân (gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư
nhân) và Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tại Đại hội
XII (năm 2016), Đảng ta chủ yếu nhấn mạnh đến 4 thành phần kinh
tế sau: Thành phần kinh tế nhà nước; Thành phần kinh tế tập
thể; Thành phần kinh tế tư nhân (gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư
bản tư nhân) và Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nếu
chúng ta so sánh với các thành phần kinh tế mà Lênin và Hồ Chí 10
Minh đề cập, thì không thấy thành phần kinh tế tư bản nhà nước, đây
là thành phần kinh tế mà Lênin cho rằng có vai trò rất quan trọng
trong việc liên kết giữa tử bản tư nhân và chủ nghĩa xã hội.
Mỗi thành phần kinh tế có vị trí, vai trò nhất định trong cơ cấu
thành phần kinh tế, trước hết là thành phần kinh tế Nhà nước. Đây là
thành phần kinh tế mà Hồ Chí Minh cho rằng là thành phần kinh tế
lãnh đạo, phát triển mau hơn cả. Tư tưởng này của Bác được Đảng ta
vận dụng đưa vào trong các Nghị quyết Đại hội của đảng. Trong Đại
hội XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Nhà nước đóng vai trò định
hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh
tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các nguồn lực
của Nhà nước và công cụ, chính sách để định hướng và điều tiết nền
kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực
hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát
triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế
- xã hội”. Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước thể hiện
qua: Đi đầu về nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu
quả, nhờ đó mà thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh và bền vững của nền
kinh tế quốc dân; Bằng nhiều hình thức hỗ trợ các thành phần kinh
tế khác cùng phát triển theo định hướng XHCN; Tăng cường sức
mạnh vật chất làm chỗ dựa để Nhà nước thực hiện có hiệu lực chức
năng điều tiết, quản lý vĩ mô nền kinh tế định hướng XHCN.
Chính vì vậy, trong suốt chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên
CNXH ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã cho thành lập các tổng công
ty, tập đoàn kinh tế nhà nước, nắm giữ những ngành, lĩnh vực kinh tế
then chốt của đất nước - được xem là xương sống, mạch máu của
nền kinh tế nước nhà, và đây là công cụ kinh tế thực hiện chức năng
quản lý kinh tế của Nhà nước, nhằm điều tiết kinh tế, hỗ trợ, định
hướng các thành phần kinh tế khác đi đúng định hướng xã hội chủ
nghĩa. Thứ hai, thành phần kinh tế tập thể, Đảng ta xác định đây là
thành phần kinh tế cùng với thành phần kinh tế nhà nước ngày càng
trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; thứ ba,
thành phần kinh tế tư nhân là một trong những động lực thúc đẩy
phát triển kinh tế; thứ tư, về thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài, trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta
khẳng định “Nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp của nước
ngoài, chú trọng chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý và thị
trường tiêu thụ sản phẩm; chủ động lựa chọn và ưu đãi đối với các
dự án đầu tư nước ngoài có trình độ quản lý và công nghệ hiện đại, 11
có vị trí hiệu quả trong chuỗi giá trị toàn cầu, có liên kết với doanh nghiệp trong nước”.
Tuy nhiên, trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI,
XII, Đảng ta hầu như không hoặc có đề cập nhưng không rõ ràng về
thành phần kinh tế tư bản nhà nước, đây là thành phần kinh tế mà
theo Lênin là nó có vai trò rất quan trọng, là thành phần kinh tế
trung gian trong việc liên kết thành phần kinh tế tư bản tư nhân với
thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, là “chiếc cầu nhỏ vững chắc đi
xuyên qua” chủ nghĩa tư bản, để đi vào chủ nghĩa xã hội, là thành
phần kinh tế có vai trò cầu nối giữa TBTN và XHCN, để thành phần
kinh tế XHCN định hướng thành phần kinh tế tư bản tư nhân đi đúng
định hướng xã hội chủ nghĩa. Ở nước ta, đây là thành phần kinh tế
đóng vai trò trung gian giữa Thành phần kinh tế tư nhân với Thành
phần kinh tế nhà nước, đó là sự kiên kết giữa tư nhân trong nước,
nước ngoài với tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước. Thông qua
đó chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp, công
ty, tổng công ty, tập đoàn kinh tế kinh tế tư nhân trong thời kỳ đẩy
mạnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.Trong
văn kiện XII Đảng ta không đề cập một cách rõ ràng nhất về thành
phần kinh tế này, chỉ đề cập đến một nội dung nhỏ về thành phần
kinh tế tư bản nhà nước “tạo điều kiện hình thành một số tập đoàn
kinh tế tư nhân và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà
nước”, nếu chúng ta đi phân tích nội dung này với khái niệm thành
phần kinh tế tư bản nhà nước thì nội hàm của nó gần như giống
nhau, bởi vì, thành phần kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế
liên kết giữa tư nhân trong nước và nước ngoài với Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
2. Vận dụng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của Đảng ta
trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
Việt Nam chúng ta được phân chia thành 7 vùng kinh tế trọng
điểm như sau : Trung du và miền núi phía Bắc, Đồng bằng Bắc bộ
( Đồng bằng sông Hồng), Bắc Trung Bộ, Ven biển Nam Trung Bộ, Tây
Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long. Phụ thuộc vào
đặc điểm địa lý, dân cư, tập tục thói quen của từng vùng mà Đảng và
nhànước có những vận dụng và phương hướng nhất định để phát
triển nền kinh tế của vùng đó. Có thể nói Đảng ta thành công trong
việc phát triển kinh tế của 7 vùng kinh tế trọng điểm này. 12
Xét trong bối cảnh hội nhập kinh tế, thay đổi trong trục kinh tế và
địa chính trị của thế giới, sự xuất hiện của một trật tự thế giới đa cực,
sự nổi lên của Trung Quốc và Ấn Độ,Việt Nam chúng ta cần phải có
những đổi mới tư duy chuyển từ “mở rộng quan hệ,gia nhập và tham
gia hợp tác quốc tế” sang “chủ động đóng góp tích cực, khởi xướng
và tham gia định hình các cơ chế hợp tác.” Hơn nữa, tiếp cận đa
ngành, liên ngành và đa phương hiện nay đang là xu thế phổ biến
nhất là trong hoàn cảnh toàn cầu hóa đang ngày phát triển mạnh mẽ
cho nên Việt Nam càng phải có sự khai thác lãnh thổ linh hoạt và tối
ưu nhất trong đó tạo ra sự đột phá để đáp ứng yêu cầu của cạnh
tranh quốc tế và hội nhập toàn cầu.
Để thực hiện được những điều này thì Đảng và Chính phủ nhận
định rằng cần phải tập trung vào việc : Hoàn thiện quy hoạch vùng
và lấy đó làm cơ sở để phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, Nâng
cao chất lượng vật chất, gia tăng kết cấu cơ sở hạ tầng kiến trúc xã
hội, đảm bảo việc sử dụng tài nguyên vùng kinh tế hợp lý song song
với bảo vệ môi trường. Đặc biệt, Đảng còn chú trọng phát triển các
vùng kinh tế trọng điểm,vùng động lực, các khu kinh tế và các khu
công nghiệp đi đôi với gia tăng liên kết giữa các địa phương trong
vùng và các vùng với nhau để phát huy tối đa hóa tiềm năng và lợi
thếcủa từng vùng kinh tế. Đảng cũng nhận định rằng không một địa
phương nào bị bỏ rơi, tức là cần phải tạo điều kiện cho các khu vực
còn khó khăn nhất là miền núi, hải đạo, biên giới,Tây Bắc, Tây
Nguyên, Tây Nam Bộ và phía tây các tỉnh miền Trung và bắt đầu hình
thành các khu kinh tế xuyên biên giới.
Đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta phải phát triển
toàn điện nông lâm ngư nghiệp, gắn liền với công nghiệp chế biến
nông lâm thủy sản. Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng tại đại hồi IX đã chỉ rõ phương hướng phát triển nền kinh
tế quốc dân là: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư dựa trên
cơ sở phát huy các thế mạnh và các lợi thế so sánh của đất nước,
gắn với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, đáp ứng về cơ bản
các nhu cầu thiết yếu về đời sống nhân dân và yêu cầu trang bị lại
trong nền kinh tế và quốc phòng an ninh.” Đồng thời Đảng cũng
nhấn mạnh việc tăng cường chỉ đạo và các nguồn lực cần thiết cho
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn từ đó tiếp
tục phát triển và đầu tư về kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội ở nông
thôn để đưa nông, lâm, ngư nghiệp lên trình độ mới, có thể ứng dụng
khoa học kĩ thuật để cải thiện lợi nhuận. Cùng với đó dần chuyển 13
dịch lao động sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, nâng cao chất
lương đội ngũ nhân lực để bảo đảm cho sự nghiệp công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước vững tiến trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. 14 KẾT LUẬN
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển cơ cấu ngành kinh tế trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một kinh nghiệp
quý báu để Đảng và Nhà nước ta vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp
đổi mới kinh tế hiện nay.
Chủ trương thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển
kinh tế nhiều thành phần của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới, hội nhập
quốc tế là sự vận dụng sáng tạo và phát triển những quan điểm đúng
đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nền kinh tế nhiều thành
phần, góp phần quan trọng trong việc huy động sức mạnh của các
thành phần kinh tế vào chiến lược phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Như vậy, trong các chặng đường phát triển kinh tế khác nhau thì
nhận thức về thành phần kinh tế cũng có sự thay đổi, đó là quá trình
khách quan phù hợp với quy luật nhận thức. Cho nên, quá trình đổi
mới tư duy về các thành phần kinh tế ở nước ta qua các kỳ Đại hội
của Đảng là hoàn toàn phù hợp với nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê
nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong quá
trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng hơn. 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh (2016), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
2. Ths.Trần Hữu Hoà. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về những thành
phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và sự vận dụng sáng tạo
của Đảng ta. http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-
hoc/Nghien-cuu-trao-doi/quan-diem-cua-chu-tich-ho-chi-minh-ve-nhung-thanh-
phan-kinh-te-trong-thoi-ky-qua-do-len-chu-nghia-xa-hoi-va-su-van-dung-sang- tao-cua-dang-ta-350.html
3. Trần Văn. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần.
https://baodautu.vn/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-co-cau-kinh-te-nhieu-thanh-phan- d63749.html
4. Đại tá, PGS. TS Nguyễn Văn Quang. Lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin và sự bổ sung, phát triển của Đảng ta.
https://dangcongsan.vn/tu-tuong-van-hoa/ly-luan-ve-thoi-ky-qua-do-len-chu-
nghia-xa-hoi-cua-chu-nghia-mac-lenin-va-su-bo-sung-phat-trien-cua-dang-ta- 619688.html
5. ThS Nguyễn Thị Liên. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nền kinh tế
nhiều thành phần và sự vận dụng của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới.
https://tcnn.vn/news/detail/53275/Quan-diem-cua-Chu-tich-Ho-Chi-Minh-ve-xay-
dung-nen-kinh-te-nhieu-thanh-phan-va-su-van-dung-cua-Dang-ta-trong-thoi-ky-doi- moi.html 16
6. GS.TS Nguyễn Quang Thuấn. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam. https://tuyengiao.vn/tim-hieu-noi-dung-cac-van-kien-dai-hoi-
xiii/phat-trien-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-o-viet-nam-137545
7. ThS. BHi Thị Kim Chung. Quan điểm của Đảng về vai trò các thành phần kinh tế ở
nước ta từ Đại hội VI đến Đại hội XIII.
https://truongchinhtri.angiang.gov.vn/wps/portal/Home/trang-chu/trang-tin-chi-tiet/! ut/p/z0/fcxBC4IwGMbxr-
LF49gmmttR6JIVlBToLrHN6d6SmTWlvn0ide34__HwYIFLLJycoJUeeie7uSuxunC-
3pBtTHesWFOSFfk5PR2OEdtTnGPxfzA_wHUYRIaF7p03L4_LDlTgH2Pv2kBbcH YOCMlToq8u-DPXWjBOj-
NSSsIExms7vo2rTUhYVDcsTRqUGs5RrFmDFGcGqYQmhNTSKEbx_SaqD6FzfR A!/#gsc.tab=0
8. TS. Nguyễn Đức Thắng. Cơ cấu lại nền kinh tế ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay.
https://www.quanlynhanuoc.vn/2022/06/21/co-cau-lai-nen-kinh-te-o-viet-nam-trong- dieu-kien-hien-nay/ 17