









Preview text:
lOMoAR cPSD| 61236129
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÀI TẬP LỚN
HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN ĐỀ TÀI:
Trình bày lý luận của CN Mác Lênin về tiền công và liên hệ
với thực tiễn ở Việt Nam.
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Như Quỳnh Mã SV: 11225547
Lớp tín chỉ: Kinh tế chính trị Mác - Lênin (222)_43 Số thứ tự : 43
Hà Nội, tháng 6 năm 2023 lOMoAR cPSD| 61236129 MỞ ĐẦU
Cách tiếp cận của CN Mác Lênin về tiền công dựa trên lý luận về giá trị lao động và sự bất bình
đẳng trong sản xuất. Giá trị lao động là lượng khối lượng lao động trung bình cần thiết để sản xuất
một sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định. Trong khi đó, tính bất bình đẳng trong sản xuất phát sinh do sự
đối lập giữa tầng lớp tư sản và tầng lớp công nhân.
CN Mác Lênin cho rằng tiền công của người lao động nên được xác định dựa trên mức độ đóng
góp của họ vào sản xuất, thay vì được quyết định bởi những người sở hữu tư sản. Ông tin rằng việc
tiền công được xác định dựa trên nguyên tắc lao động bình đẳng và công bằng sẽ giúp giải quyết vấn
đề bất bình đẳng trong sản xuất.
Trong thực tế ở Việt Nam, lý luận của CN Mác Lênin về tiền công đã được thể hiện trong sự
phân bổ thu nhập của các tầng lớp trong xã hội. Kể từ khi đất nước giải phóng, Chính phủ đã áp dụng
chính sách tiềnngành nghề sản xuất. Ngoài ra, Chính phủ cũng đã có các chính sách hỗ trợ cho người
lao động ở các vùng kinh tế khó khăn, giúp cân đối thu nhập và đảm bảo phát triển kinh tế Xã hội.
Tuy nhiên, thực tế vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề khiến người lao động Việt Nam chưa được đảm
bảo tối đa quyền lợi về tiền công. Một số doanh nghiệp còn áp dụng chính sách tiền công thấp, không
đảm bảo tính bình đẳng và công bằng cho lao động. Ngoài ra, định hướng phát triển kinh tế đô thị có
thể gây ra tỉ lệ lớn người thất nghiệp được rút phục vụ cho việc thực hiện các dự án kinh tế, mà có
tiền công thấp, không đảm bảo các chế độ bảo hiểm và quyền lợi của nghề nghiệp.
Tóm lại, lý luận của CN Mác Lênin về tiền công cung cấp cho chúng ta một cơ sở vững chắc
cho sự phân bổ thu nhập và đảm bảo công bằng và bình đẳng cho người lao động. Tuy vậy, để giải
quyết hoàn toàn vấn đề bất bình đẳng trong sản xuất, còn cần phải có các chính sách và giải pháp hiệu
quả từ phía Nhà nước, kết hợp với sự nỗ lực của các doanh nghiệp và người lao động để đóng góp
cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Trong bài tiểu luận này, do kiến thức của bản thân còn hạn chế và chưa có nhiều kinh nghiệm
trong việc trình bày bài viết nên không thể tránh khỏi những sai sót. Vì thế kính mong sự góp ý từ cô giáo phụ trách bộ môn. lOMoAR cPSD| 61236129 NỘI DUNG
A. Lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về tiền công
I. Bản chất kinh tế của tiền công
Biểu hiện bề ngoài của đời sống xã hội tư bản, công nhân làm việc cho nhà tư bản một thời
gian nhất định, sản xuất ra một lượng hàng hóa hay hoàn thành một số công việc nào đó thì nhà
tư bản trả cho công nhân một số tiền nhất định đó là tiền công.
Biểu hiện bề ngoài của đời sống xã hội tư bản, công nhân làm việc cho nhà tư bản một thời gian
nhất định, sản xuất ra một lượng hàng hóa hay hoàn thành một số công việc nào đó thì nhà tư bản trả
cho công nhân một số tiền nhất định đó là tiền công. Hiện tựơng đó làm cho người ta lầm tưởng rằng
tiền công là giá cả của lao động. Sự thật thì tiền công không phải là giá trị hay giá cả lao động, vì lao
động không phải là hàng hóa. Sở dĩ như vậy là vì:
- Nếu tạo động là hàng hỏa, thì nó phải có trước, phải được vật hóa trong một hình thức cụ
thểnào đó. Tiền đề để cho lao động vật hóa được là phải có tư liệu sản xuất. Nhưng nếu người lao
động có tư liệu sản xuất, thì họ sẽ bán hàng hóa do mình sản xuất ra, chứ không bán "lao động".
- Việc thừa nhận lao động là hàng hóa dẫn tới một trong hai mâu thuẫn về lý luận sau đây:
Thứ nhất, nếu lao động là hàng hóa và nó được trao đổi ngang giá, thì nhà tư bản không thu được lợi
nhuận (giá trị thặng dư); điều này phủ nhận sự tồn tại thực tế của quy luật giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản.
Thứ hai, còn nếu "hàng hóa lao động" được trao đổi không ngang giá để có giá trị thặng dư cho nhà
tư bản, thì phải phủ nhận quy luật giá trị.
- Nếu lao động là hàng hóa, thì hàng hóa đó cũng phải có giá trị. Nhưng lao động là thực thểvà
là thước đo nội tại của giá trị, bản thân lao động thì không có giá trị. Vì thế, lao động không phải là
hàng hóa, cái mà công nhân bán cho nhà tư bản chính là sức lao động. Do đó, tiền công mà nhà tư
bản trả cho công nhân là giá cả của sức lao động.
Vậy, bản chất của tiền công trong chủ nghĩa tư bản là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị
sức lao động, hay giá cả của sức lao động nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài thành giá cả của lao động.
Hình thức biểu hiện đó đã gây ra sự nhầm lẫn. Điều đó là do những thực tế sau đây:
Thứ nhất, đặc điểm của hàng hóa sức lao động là không bao giờ tách khỏi người bán, nó chỉ
nhận được giá cả khi đã cung cấp giá trị sử dụng cho người mua, tức là lao động cho nhà tư bản, do
đó bề ngoài chỉ thấy nhà tư bản trả giá trị cho lao động.
Thứ hai, đối với công nhân, toàn bộ lao động trong cả ngày là phương tiện để có tiền sinh sống,
do đó bản thân công nhân cũng tưởng rằng mình bán lao động. Còn đối với nhà tư bản bỏ tiền ra để
có lao động, nên cũng nghĩ rằng cái mà họ mua là lao động.
Thứ ba, lượng của tiền công phụ thuộc vào thời gian lao động hoặc số lượng sản phẩm sản xuất
ra, điều đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả lao động. lOMoAR cPSD| 61236129
Tiền công đã che đậy mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động thành thời gian lao động tất
yếu và thời gian lao động thặng dư, thành lao động được trả công và lao động không được trả công,
do đó tiền công che đậy mất bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. II. Các chức năng cơ bản của tiền lương •
Chức năng thuớc đo giá trị:
Như trên đã nêu, tiền lương là sự thể hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, được biểu hiện ra
bên ngoài như là giá cả của sức lao động. Vì vậy tiền lương chính là thuớc đo giá trị sức lao động,
được biểu hiện như giá trị lao động cụ thể của việc làm được trả công. Nói cách khác, giá trị của việc
làm được phản ánh thông qua tiền lương. Nếu việc làm có giá trị càng cao thì mức lương càng lớn.
(Tiểu Luận: Lý luận của C.Mác về tiền lương trong chủ nghĩa tư bản) •
Duy trì và phát triển sức lao động:
Theo Mác tiền lương là biểu hiện giá trị sức lao động, đó là giá trị của những tư liệu sinh hoạt
cần thiết để duy trì cuộc sống của người có sức lao động, theo điều kiện kinh tế, xã hội và trình độ
văn minh của mỗi nước. Giá trị sức lao động bao hàm cả yếu tố lịch sử, vật chất và tinh thần. Ngoài
ra, để duy trì và phát triển sức lao động thì người lao động còn phải sinh con (như sức lao động tiềm
tàng), phải nuôi dưỡng con, cho nên những tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất ra sức lao động phải
gồm có cả những tư liệu sinh hoạt cho con cái học. Theo họ, chức năng cơ bản của tiền lương còn là
nhằm duy trì và phát triển được sức lao động.
Giá trị sức lao động là điểm xuất phát trong mọi bài tính của sản xuất xã hội nói chung và của
người sử dụng lao động nói riêng. Giá trị sức lao động mang tính khách quan, được quy định và điều
tiết không theo ý muốn của một các nhân nào, dù là người làm công hay người sử dụng lao động.
(Tiểu Luận: Lý luận của C.Mác về tiền lương trong chủ nghĩa tư bản)
Nó là kết quả của sự mặc cả trên thị trường lao động giữa người có sức lao động “bán” và người
sử dụng sức lao động “mua” •
Kích thích lao động và phát triển nguồn nhân lực
Tiền lương là bộ phận thu nhập chính đáng của người lao động nhằm thoả mãn phần lớn các nhu
cầu về vật chất và tinh thần của người lao động. Do vậy, các mức tiền lương là các đòn bẩy kinh tế rất
quan trọng để định hướng sự quan tâm và động cơ trong lao động của người lao động. Khi độ lớn của
tiền lương phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất của công ty nói chung và cá nhân người lao động nói riêng
thì họ sẽ quan tâm đến việc không ngừng nâng cao năng suất và chất lượng công việc •
Thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát triển
Nâng cao hiệu quả lao động, năng suất lao động suy cho cùng là nguồn gốc để tăng thu nhập,
tăng khả năng thoả mãn các nhu cầu của người lao động.
Khác với thị trường hàng hoá bình thường, cầu về lao động không phải là cầu cho bản thân nó,
mà là cầu dẫn xuất, tức là phụ thuộc vào khả năng tiêu thụ của sản phẩm do lao động tạo ra và mức
giá cả của hàng hoá này. Tổng mức tiền lương quyết định tổng cầu về hàng hoá và dịch vụ cần thiết
phải sản xuất cũng như giá cả của nó. Do vậy, tiền lương phải dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động.
Việc tăng nang suất lao động luôn luôn dẫn đến sự tái phân bố lao động. Theo qui luật thị trường, lao
động sẽ tái phân bố vào các khu vực có năng suất cao hơn để nhận được các mức lương cao hơn. •
Chức năng xã hội của tiền lương lOMoAR cPSD| 61236129
Cùng với việc kích thích không ngừng nâng cao năng suất lao động, tiền lương còn là yếu tố
kích thích việc hoàn thiện các mối quan hệ lao động. Thực tế cho thấy, việc duy trì các mức tiền lương
cao và tăng không ngừng chỉ được thực hiện trên cơ sở hài hoà các mối quan hệ lao động trong các
doanh nghiệp. Việc gắn tiền lương với hiệu quả của người lao động và đơn vị kinh tế sẽ thúc đẩy các
mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lần nhau, nâng cao hiệu quả cạnh tranh của công ty. Bên cạnh đó, tạo
tiền đề cho sự phát triển toàn diện của con người và thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng dân chủ và văn minh.
III. Hai hình thức cơ bản của tiền công trong chủ nghĩa tư bản
Tiền công có hai hình thức cơ bản là tiền công tính theo thời gian và tiền công tính theo sản
phẩm. Tiền công, tính theo thời gian là hình thức tiền công mà số lượng của nó ít hay nhiều tùy
theo thời gian lao động của công nhản (giờ, ngày, tháng) dài hay ngắn.
Tiền công có hai hình thức cơ bản là tiền công tính theo thời gian và tiền công tính theo sản phẩm.
Tiền công, tính theo thời gian là hình thức tiền công mà số lượng của nó ít hay nhiều tùy theo
thời gian lao động của công nhản (giờ, ngày, tháng) dài hay ngắn.
Cần phân biệt tiền công giờ, tiền công ngày, tiền công tuần, tiền công tháng. Tiền công ngày và
tiền công tuần chưa nói rõ được mức tiền công đó cao hay là thấp, vì nó còn tùy theo ngày lao động
dài hay ngắn. Do đó, muốn đánh giá chính xác mức tiền công không chỉ căn cứ vào tiền công ngày,
mà phải căn cứ vào độ dài của ngày lao động và cường độ lao động. Giá cả của một giờ tao động là
thước đo chính xác mức tiền công tính theo thời gian.
Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công mà số lượng của nó phụ thuộc vào số lượng
sản phẩm hay số luợng những bộ phận của sản phẩm mà công nhân đã sản xuất ra hoặc là số lượng
công việc đã hoàn thành.
Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định. Đơn giá tiền công được xác định bằng
thương số giữa tiền công trung bình của công nhân trong một ngày với số lượng sản phẩm trung bình
mà một công nhân sản xuất ra trong một ngày, do đó về thực chất, đơn giá tiền công là tiền công trả
cho thời gian cần thiết sản xuất ra một sản phẩm. Vì thế tiền công tính theo sản phẩm là hình thức
biến tướng của tiền công tính theo thời gian.
Thực hiện tiền công thính theo sản phẩm, một mặt giúp cho nhà tư bản trong việc quản lý, giám
sát quá trình lao động của công nhân dễ dàng hơn: mặt khác kích thích công nhân lao động tích cực,
khẩn trương tạo ra nhiều sản phẩm để nhận được tiền công, cao hơn.
IV. Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế. Xu hướng vận động của tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản. •
Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế
Tiền lương danh nghĩa là tổng số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của
mình cho nhà tư bản. Nó là giá cả sức lao động. Nó tăng giảm theo sự biến động trong quan hệ cung
– cầu về hàng hoá sức lao động trên thị trường. Đối với người công nhân, điều quan trọng không chỉ lOMoAR cPSD| 61236129
ở tổng số tiền nhận được dưới hình thức tiền lương mà còn ở chỗ có thể mua được gì bằng tiền lương
đó, điều đó phụ thuộc vào giá cả vật phẩm tiêu dùng và dịch vụ.
Tiền lương thực tế là số lượng hàng hoá và thể thu được bằng tiền lương danh nghĩa. Rõ ràng,
thay đổi, tiền lương thực tế phụ thuộc theo tỷ lệ lương danh nghĩa và phụ thuộc theo tỷ lệ nghịch tiêu
dùng và dịch vụ. dịch vụ mà công nhân có nếu điều kiện khác không thuận vào đại lượng tiền với mức giá cả vật phẩm •
Xu hướng vận động của tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản
Nghiên cứu sự vận động của tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản, C.Mác vạch ra rằng, xu hướng
chung có tính quy luật của sự vận động của tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản là: trong quá trình phát
triển của chủ nghĩa tư bản, tiền công danh nghĩa có xu hướng tăng lên, nhưng mức tăng của nó nhiều
khi không theo kịp với mức tăng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ. Khi đó, tiền công thực tế có xu
hướng hạ thấp. (Tiểu Luận: Lý luận của C.Mác về tiền lương trong chủ nghĩa tư bản)
Chừng nào mà tiền lương còn là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, thì sự vận động của
nó gắn liền với sự biến đổi của giá trị sức lao động.
Lượng giá trị của nó do ảnh hưởng của một loạt nhân tố quyết định. Một nhân tố tác động làm
tăng lượng giá trị sức lao động, một nhân tố khác tác động làm giảm giá trị của nó. Sự tác động qua
lại của tất cả các nhân tố đó dẫn tới quá trình phức tạp của sự biến đổi giá trị sức lao động, làm cho
sự giảm sút của nó có tính chất xu hướng. •
Những nhân tố tác động làm tăng giá trị sức lao động là sự nâng cao trình độ chuyên môn
của người lao động và sự tăng cường độ lao động. •
Trong điều kiện của cách mạng khoa học kỹ thuật, nét đặc trưng của quá trình sản xuất là
tăng tính phức tạp của lao động, đòi hỏi phải nâng cao rất nhiều trình độ chuyên môn của
người lao động, tăng cường độ lao động của họ, làm tăng một cách căn bản chi phí về tái
sản xuất sức lao động, do đó làm tăng giá trị của nó.
Những nhu cầu của công nhân và phương thức thảo mãn chúng luôn luôn biến đổi. Cùng với sự
phát triển của lực lượng sản xuất, diễn ra quá trình tăng mức độ về nhu cầu. Để tái sản xuất sức lao
động, đòi hỏi lượng của cải vật chất và văn hoá lớn hơn. Kỹ thuật phức tạp được vận dụng trong quá
trình sản xuất tư bản chủ nghĩa đòi hỏi người lao động phải có vốn kiến thức và tri thức về kỹ thuật
cao hơn. Tất cả những điều đó dẫn đến nhu cầu của công nhân và gia đình học về hàng hoá và dịch
vụ tăng lên làm cho giá trị sức lao động tăng lên. (Tiểu Luận: Lý luận của C.Mác về tiền lương trong chủ nghĩa tư bản)
Nhân tố tác động làm giảm giá trị sức lao động là sự tăng lên của năng suất lao động. Cùng với
sự tăng năng suất lao động thì giá cả về tư liệu sinh hoạt của người công nhân rẻ đi nền tiền lương
thực tế có khả năng tăng lên. Nhưng tiền lương thực tế vẫn chưa dáp ứng được nhu cầu thực sự của
công nhân, và sự chênh lệch giữa chúng không những không được thu hẹp, mà ngược lại còn tăng lên.
Sự hạ thấp tiền lương dưới giá trị sức lao động do tác động của một loạt nhân tố sau đây: •
Thị trường sức lao động luôn ở tình trạng cung về lao động làm thuê vượt quá cầu về lao
động, do đó cạnh tranh giữa công nhân tăng lên. Điều đó cho phép nhà tư bản thấy rằng,
hàng hoá – sức lao động buộc phải bán trong mọi điều kiện, vì công nhân không có cách lOMoAR cPSD| 61236129
nào khác để sinh sống. Mức lương trung bình bị giảm xuống còn do hàng triệu người không
có việc làm đầy đủ trong năm, nói chung họ không nhận được tiền lương. •
Lạm phát làm giảm sức mua của đồng tiền cũng là nhân tố làm giảm tiền lương trong điều kiện hiện nay.
Mức lương của các nước có sự khác nhau. Điều đó được quyết định bởi nhân tố tự nhiên, truyền
thống văn hoá và những nhân tố khác, trong đó nhân tố đấu tranh của giai cấp công nhân đóng vai trò
quan trọng. Trong các nước tư bản phát triển, mức lương thường cao hơn ở các nước đang phát triển.
Nhưng ở đó có sự bóc lột cao hơn, vì kỹ thuật và phương pháp tổ chức lao động hiện đại được áp
dụng. Giá cả hàng hoá – sức lao động thấp là nhân tố quan trọng nhất thu hút tư bản độc quyền vào
các nước đang phát triển. (Tiểu Luận: Lý luận của C.Mác về tiền lương trong chủ nghĩa tư bản)
Trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản hiện đại, tiền lương theo thời gian với những hình thức đa
dạng chiếm ưu thế. Trong việc tìm kiếm những phương pháp mới nhằm bóc lột lao động làm thuê,
giai cấp tư sản buộc phải thừa nhận vai trò con người tron quá trình sản xuất, và điều chỉnh lại việc tổ
chức lao động, cũng như kích thích người lao động.
Sự bóc lột lao động làm thuê ở các nước tư bản phát triển còn có những hình thức che giấu tinh
vi ơn. Khi thiên về sự củng cố “quan hệ con người”, về sự thống trị của các nguyên tắc “công ty là
một gia đình”, giai cấp tư sản hiện đại thực hiện mưu toan thuyết phục công nhân rằng lợi ích của xí
nghiệp, lợi ích của tư bản thống nhất với lợi ích của công nhân. Vai trò kích thích của tiền lương được
sử dụng vào mục đích đó. Không phải chỉ có thái độ tận tâm với công việc mà sự phục vụ trung thành
cho công ty cũng được kích thích bởi đại lượng và hình thức của tiền lương. Điều đó có nghĩa là không
chỉ bằng hình thức tiền lương, mà còn bằng tổ chức tiền lương dựa trên cơ sở tâm lý của hoạt động
lao động, giai cấp tư sản rất muốn “thủ tiêu” hoặc làm dịu mâu thuẫn giữa tư bản và lao động. Đó là
đặc trưng của những liên hiệp độc quyền lớn hiện đại, ở đó các nhà tư bản đã không tiếc tiền chi vào
những chi phí nhằm tạo ra “bầu không khí tin cậy” để hình thành ở người công nhân “ý thức người
chủ”. Tính mềm dẻo trong sự vận dụng các hình thức khác nhau của tiền lương, việc tính toán những
yêu cầu kỹ thuật, tổ chức và tâm lý khi trang bị nơi làm việc đưa đến tăng năng suất lao động và tăng
chất lượng sản phẩm, tất cả đều nhằm mục đích tăng giá trị thặng dư. Điều đó có nghĩa là tăng cường
bóc lột người lao động.
B. Liên hệ thực tế với Việt Nam
I. Thực trạng về chênh lệch tiền lương giữa các ngành nghề, khu vực của Việt Nam hiện nay
Tình trạng tiền lương ở Việt Nam hiện nay đang có sự chênh lệch giữa các ngành nghề và khu
vực. Trong khi một số ngành nghề đang có mức lương tương đối cao như ngành kỹ thuật, IT, tài chính,
sản xuất, thủy sản, vận tải thì lại có những ngành nghề đang bị thấp hơn so với mức lương trung bình
của quốc gia. Đặc biệt, mức lương của các khu vực khác nhau ở Việt Nam cũng có sự chênh lệch đáng
kể. Các thành phố lớn như Hà Nội hoặc TP.HCM có mức lương trung bình cao hơn so với các khu
vực miền núi, miền quê. Tuy nhiên, tình trạng thu nhập không đồng đều không chỉ tồn tại ở Việt Nam
mà còn ở nhiều quốc gia khác trên thế giới. Ngoài ra, tình trạng phân hóa thu nhập giữa các nhân viên
có trình độ cao và những người có trình độ thấp cũng đang diễn ra. Các chuyên gia, nhân viên có trình
độ cao thường được trả lương cao hơn so với những nhân viên lao động phổ thông.
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới sự chênh lệch tiền lương giữa các ngành nghề ở Việt Nam, trong
đó những nguyên nhân chính bao gồm: Khác biệt về năng lực và kỹ năng: Mức lương của một ngành
nghề thường phản ánh mức độ quan trọng và hiệu quả của công việc đó. Những ngành nghề đòi hỏi
nhiều kỹ năng đặc biệt, kiến thức và năng lực cao thì thường được đánh giá cao hơn và có mức lương lOMoAR cPSD| 61236129
cao hơn. Sự khan hiếm về nguồn lao động: Những ngành nghề có nguồn lao động khan hiếm, như
ngành y tế, kỹ thuật, công nghệ thông tin, thường có mức lương cao hơn những ngành nghề khác. Tác
động của thị trường: Sự chênh lệch trong mức lương thường phản ánh sự khác biệt trong nhu cầu của
thị trường. Khi thị trường quyết định trả lương cho một ngành nghề nhiều hơn, những người lao động
trong ngành đó sẽ được hưởng lợi bởi mức lương cao hơn. Chính sách nhà nước: Chính sách của nhà
nước, chẳng hạn như chính sách miễn thuế hay các khoản tài trợ cho các ngành kinh tế khác nhau
cũng tác động đến mức lương của người lao động trong các ngành nghề khác nhau. Diễn biến kinh tế:
Nếu kinh tế phát triển mạnh, các ngành nghề liên quan như sản xuất, xây dựng, dịch vụ,… sẽ tăng
nhu cầu lao động, đồng thời tăng mức lương của người lao động. Những ngành nghề liên quan đến
kinh doanh và dịch vụ có thể phát triển mạnh nếu sự tiêu dùng của người tiêu dùng tăng lên.
Tương tự như chênh lệch mức lương giữa các ngành nghề, sự chênh lệch mức lương giữa các
khu vực ở Việt Nam cũng có nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm: Khác biệt về phát triển kinh tế:
Những khu vực phát triển kinh tế mạnh như các thành phố lớn, khu vực kinh tế trọng điểm, vùng ven
đô… thường có mức lương cao hơn so với các vùng khác, bởi vì cơ hội việc làm tại các khu vực này
là nhiều hơn, song song đó người lao động chịu áp lực chi phí sinh hoạt đắt đỏ. Khác biệt về chất
lượng nguồn nhân lực: Các khu vực có nguồn nhân lực chất lượng cao và đào tạo tốt có thể được trả
mức lương cao hơn so với các khu vực khác. Khác biệt về chi phí sinh hoạt: Các khu vực đông dân
cư, có các dịch vụ văn hóa giải trí, tiêu dùng hiện đại và đắt đỏ sẽ đòi hỏi người lao động phải chi trả
chi phí sinh hoạt cao hơn so với các khu vực khác. Chính sách của nhà nước: Một số khu vực có chính
sách hỗ trợ ưu đãi của chính phủ và các địa phương, điều này có thể thúc đẩy sự phát triển kinh tế và
tăng mức lương của các người lao động làm việc tại đó. Tác động của thị trường: Giá cả của các mặt
hàng và dịch vụ khác nhau có thể khác nhau tùy vào khu vực đó, điều này có ảnh hưởng đến giá trị
của lao động và mức lương có thể trả cho các người lao động đó.
Vấn đề chênh lệch mức lương giữa các ngành nghề ở Việt Nam hiện nay là rất thực tế và đang
gây ra nhiều tranh cãi, ảnh hưởng đến sự công bằng và phát triển của ngành kinh tế đất nước. Cụ thể,
có một số thực trạng như sau:
Chênh lệch mức lương giữa các ngành nghề đang ngày càng gia tăng, với mức lương của các
ngành nghề chuyên môn cao như kỹ sư, bác sĩ, luật sư, trưởng phòng cao hơn rất nhiều so với các
ngành nghề lao động phổ thông như lao động sản xuất, nhân viên bán lẻ, cắt tóc v.v.
Các ngành nghề mới nổi như marketing, tư vấn tài chính, bất động sản, công nghệ thông tin
v.v. đang có xu hướng trả lương cao hơn so với các ngành nghề truyền thống khác.
Sự chênh lệch về mức lương giữa các khu vực đang tồn tại, khi mức lương của các ngành nghề
ở các thành phố lớn, thành thị phát triển cao hơn so với các khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa.
Mức lương của nhân viên làm việc tại các doanh nghiệp nước ngoài hoặc tại các địa phương có
mật độ doanh nghiệp ngoại đầu tư cao cũng thường cao hơn so với các doanh nghiệp trong nước và
các địa phương kém phát triển.
Thực tế đang tồn tại là sự chênh lệch mức lương giữa các khu vực ở Việt Nam đang càng ngày
càng lớn. Những điểm đáng chú ý nhất có thể kể đến như sau:
Các thành phố lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh có mức lương trung bình cao hơn rất nhiều
so với các tỉnh phía Nam, phía Bắc, hay các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.
Mức lương ở các địa phương có mật độ doanh nghiệp ngoại đầu tư cao cũng thường cao hơn so
với các doanh nghiệp trong nước ở các địa phương khác.
Các ngành nghề phổ biến như nhân viên văn phòng, nhân viên bán hàng, công nhân sản xuất
thường có mức lương thấp hơn ở các địa phương kém phát triển so với các thành phố lớn và các địa
phương có ngành kinh tế phát triển.
Sự chênh lệch mức lương giữa các ngành nghề và khu vực trong nền kinh tế Việt Nam đã và
đang gây ra nhiều ảnh hưởng như sau: lOMoAR cPSD| 61236129
Gây ra sự bất bình đẳng trong xã hội: Sự chnh lệch mức lương giữa các ngành nghề và khu vực
khiến cho sự phân bố giá trị tài sản và lợi nhuận không đồng đều, gây ra sự bất bình đẳng trong xã hội
và làm suy thoái tính công bằng của nền kinh tế.
Tình trạng đói nghèo và nạn thất nghiệp: Sự chênh lệch mức lương giữa các khu vực hay ngành
nghề ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận với nguồn lực tài chính, từ đó ảnh hưởng đến mức sống của
một số tầng lớp trong xã hội, dẫn đến tình trạng đói nghèo và thất nghiệp.
Gây ra khó khăn cho sản xuất và doanh nghiệp: Sự chênh lệch mức lương giữa các ngành nghề
hay khu vực có thể dẫn đến những khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tuyển dụng và giữ chân
người lao động, gây ra sự không ổn định về lực lượng lao động, làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất.
Gây ra tình trạng di cư lao động: Sự chênh lệch mức lương giữa các khu vực hay ngành nghề là
nguyên nhân dẫn đến tình trạng di cư lao động từ các vùng kinh tế phát triển thấp sang các vùng thành
thị phát triển cao, gây ra sự ổn định trong khu vực và làm suy yếu sự phân bố lao động đúng nghề trên các khu vực.
Để giải quyết tình trạng chênh lệch mức lương giữa các ngành nghề và khu vực, có thể áp dụng những giải pháp sau:
Đưa ra chính sách hỗ trợ cho các ngành nghề và khu vực có mức lương thấp: Chính phủ cần tạo
điều kiện thuận lợi cho các ngành nghề và khu vực có mức lương thấp để phát triển, thông qua các
chính sách hỗ trợ về đầu tư, tiền lương, giáo dục và đào tạo.
Tăng cường đào tạo kỹ năng và nâng cao trình độ cho lao động: Đối với những ngành nghề hay
khu vực có mức lương cao, chính phủ cần tạo điều kiện cho người lao động có thể tiếp cận và được
đào tạo những kỹ năng hiện đại, nâng cao trình độ để có thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động.
Kích thích hoạt động kinh tế tại các vùng kinh tế phát triển chậm: Những vùng kinh tế đang phát
triển chậm, chính phủ cần đưa ra các chính sách khuyến khích đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho
doanh nghiệp đầu tư và mở rộng hoạt động, từ đó tạo ra nguồ việc làm mới, giảm thiểu tình trạng thất nghiệp.
Sự tham gia của các tổ chức xã hội và doanh nghiệp: Các tổ chức xã hội và doanh nghiệp có thể
đóng góp giảm thiểu sự chênh lệch mức lương giữa các ngành nghề và khu vực bằng cách đưa ra các
chính sách tăng lương, đảm bảo sự công bằng trong việc xem xét và đánh giá năng lực lao động.Tăng
cường giám sát và kiểm tra sự tuân thủ của các chính sách liên quan đến lương: Chính phủ cần tăng
cường giám sát và kiểm tra các chính sách liên quan đến lương, từ đó đảm bảo sự công bằng và giải
quyết tình trạng chênh lệch mức lương hiệu quả.
II. Thực tế mức lương của Việt Nam so với các nước trong khu vực
So với các nước trong khu vực, mức lương của Việt Nam hiện nay vẫn còn khá thấp. Dưới đây
là bảng so sánh mức lương trung bình hàng năm của các nước trong khu vực, được tính bằng đô la Mỹ (USD) vào năm 2021:
Singapore: 60.000 - 70.000 USD/năm
Brunei: 30.000 - 35.000 USD/năm
Malaysia: 12.000 - 15.000 USD/năm
Thái Lan: 8.000 - 12.000 USD/năm
Philippines: 4.000 - 8.000 USD/năm
Việt Nam: 2.000 - 5.000 USD/năm
Như vậy, mức lương của Việt Nam vẫn đang ở mức thấp so với các nước trong khu vực. Tuy
nhiên, hiện nay, chính phủ Việt Nam đang tập trung đẩy mạnh chính sách nâng cao mức thu nhập của
người dân, trong đó bao gồm cả cán bộ, công chức. Nhiều chính sách đã được triển khai như định kỳ
tăng lương, tăng kỷ luật tiêu cực cho các đơn vị không tăng lương, hỗ trợ các đối tượng bị ảnh hưởng
bởi dịch Covid-19, quản lý sát sao các chính sách phụ cấp… Tuy vậy, vấn đề về chất lượng, công bằng
và bảo đảm các quyền lợi cho công chức trong lĩnh vực này vẫn còn nhiều thách thức cần được giải quyết. lOMoAR cPSD| 61236129
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến mức lương của Việt Nam thấp hơn so với các nước trong khu vực:
Trình độ, năng lực của nhân sự: Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế từ đất nước
nghèo sang nước có nền kinh tế phát triển. Do đó, hệ thống giáo dục còn nhiều hạn chế, trình độ và
năng lực của nhân sự chưa cao. Điều này khiến cho lực lượng lao động Việt Nam chưa thể đòi hỏi
mức lương cao hơn được khu vực.
Hệ thống thu nhập chung: Mức lương của các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, nhân viên
kinh doanh tại Việt Nam thường được tính theo định mức chung, không phân biệt rõ ràng giữa các
khu vực kinh tế, ngành nghề hoặc trình độ.
Các chính sách và quy định về thu nhập: Nhiều quy định pháp luật về tiền lương trong các doanh
nghiệp nhà nước vẫn đang được áp dụng thường xuyên, khiến cho lương của nhân viên còn thấp hơn
so với các nước khác trong khu vực.
Tình trạng tham nhũng: Tình trạng tham nhũng và lãng phí ngân sách tại một số đơn vị làm giảm
mức lương của nhân viên tại các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang.
Chi phí phục vụ lương cao: Chi phí phục vụ lương của cán bộ, công chức tại Việt Nam khá cao,
chiếm một phần lớn trong ngân sách. Nền kinh tế chưa phát triển mạnh khiến ngân sách không đủ để
bảo đảm mức lương cho cán bộ, công chức cao hơn so với các nước khác trong khu vực.
Các cú sốc kinh tế và tác động của dịch Covid-19: Những cú sốc kinh tế từ các khó khăn trong
thị trường hoặc sự thay đổi chính sách địa phương, quốc gia cõng thể tạo ra tác động lớn đến mức
lương, và đặc biệt hơn nữa là dịch Covid-19 khiến mức lương lại càng bất ổn.
Tóm lại, nhiều nguyên nhân đã dẫn đến mức lương của Việt Nam thấp hơn so với các nước trong
khu vực, từ trình độ và năng lực của nhân sự, đến các chính sách và quy định về thu nhập, tình trạng
tham nhũng, chi phí phục vụ lương cao và các cú sốc kinh tế gây ra.
Để giải quyết tình trạng mức lương thấp, chính phủ có thể thực hiện các biện pháp sau:
Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nhân lực: Chính phủ cần đầu tư nhiều hơn vào giáo dục
và đào tạo, đảm bảo cho cả hệ thống giáo dục công lập và tư nhân phát triển hoạt động, đồng thời tăng
cường đào tạo nhân lực, đặc biệt là nhân lực các công nghệ thông tin, kỹ thuật cao.
Xây dựng chính sách lương, thực hiện tăng lương thường xuyên: Chính phủ cần có chính sách
lương công bằng, hợp lý, đồng thời tăng lương theo mức tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng năng suất lao động.
Tăng cường quản lý sự thể hiện công bằng trong quy trình xét tăng lương: Có chính sách tăng
lương công bằng, căn cứ vào năng lực và nhiệm vụ của nhân viên. Hạn chế định mức lương áp dụng
chung cho toàn bộ nhân viên.
Cải thiện được thu nhập khác, đặc biệt là thu nhập không lương: Ngoài lương, các chế độ khác
như xã hội hóa tốt, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động, cung cấp chỗ ở, chăm
sóc sức khỏe và giáo dục cho con cái, cùng với các kỳ nghỉ phù hợp sẽ giúp cho người lao động cảm
thấy được quan tâm và động viên trong công việc.
Xác định giá trị và kỹ năng của lao động: Bằng cách xác định mức lương công bằng và hấp
dẫn trong từng lĩnh vực, giúp người lao động thấy được giá trị cơ hội tăng lương và nâng cao năng lực.
Tăng cường giám sát và kiểm soát tình trạng tham nhũng, lãng phí ngân sách, đồng thời đưa ra
hình phạt nghiêm khắc đối với những người vi phạm.
Tóm lại, để giải quyết tình trạng mức lương thấp, chính phủ cần có các biện pháp như nâng
cao chất lượng giáo dục và đào tạo nhân lực, xây dựng chính sách lương công bằng và tăng lương
thường xuyên, tăng cường giám sát và kiểm soát tình trạng tham nhũng và cải thiện được thu nhập khác.