








Preview text:
Họ và tên : Nguyễn Thu Phương
Mã sinh viên : 23064085 Lớp : K68LTMQT
Học phần : Luật hình sự và tố tụng hình sự ĐỀ BÀI
Câu 1 : Nêu khái niệm tội phạm và phân tích đặc điểm tội phạm ?
Câu 2 : Theo anh chị, điều kiện cần và đủ để một người thực hiện hành vi xã hội
bị coi là tội phạm là gì ? Tại sao ? Hãy phân tích điều kiện cần và đủ đó ? BÀI LÀM
Câu 1 : Nêu khái niệm tội phạm và phân tích đặc điểm tội phạm
* Khái niệm tội phạm được quy định tại điều 8 BLHS như sau:
- Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật
hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc
vô ý xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất , toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc,
xâm phạm chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa, chế độ kinh tế và sở hữu xã hội
chủ nghĩa, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản,
các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực
khác của trật tự pháp chế xã hội chủ nghĩa
* Đặc điểm của tội phạm :
A, Tính nguy hiểm cho xã hội
- Hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi gây thiệt hại cho xã hội hoặc
hành vi tạo ra khả năng gây ra các thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.
- Hành vi phạm tội bao gồm hành động và không hành động.
+ Hành động phạm tội là làm một việc mà pháp luật hình sự cấm không
được làm. Ví dụ: hành động giết người (Điều 123 BLHS); cướp tài sản (Điều 168 BLHS)…..
+ Không hành động phạm tội là trường không làm một việc mà pháp luật
bắt buộc phải làm. Ví dụ: Không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy
hiểm đến tính mạng (Điều 132 BLHS); Không tố giác tội phạm (Điều 390 BLHS)
B, Tội phạm là hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự
- Một hành vi tuy có tính nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa được quy
định trong Bộ luật hình sự thì không được gọi là tội phạm. Tại Điều 2 BLHS quy định:
+ Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải
chịu trách nhiệm hình sự;
+ Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều
76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Tội phạm đã được luật hình sự quy định bao gồm tất cả các tội phạm
được quy định ở phần các tội phạm, từ Điêù 088 đến Điều 425 BLHS.
- Hình sự hóa và phi hình sự hóa. Hình sự hóa là việc ghi nhận trong
BLHS một tội phạm mới. Phi hình sự hóa là việc bải bỏ một hành vi đã được ghi nhận trong BLHS.
C, Tội phạm do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện
Người có năng lực trách nhiệm hình sự là con người cụ thể đạt độ tuổi do
pháp luật hình sự quy định, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình.
- Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thì tại Điều 12 BLHS quy định:
+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
phạm, trừ những trường hợp mà BLHS có quy định khác.
- Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định
tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170,
171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303
và 304 của Bộ luật này (28 tội).
- Về năng lực trách nhiệm hình sự, thì tại Điều 21 BLHS quy định “Người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một
bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của
mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”.
Như vậy, người có năng lực trách nhiệm hình sự là người thực hiện hành
vi khi khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
D, Tội phạm là hành vi có lỗi
+ Cố ý phạm tội là phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây:
Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy
trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xẩy ra; Người phạm tội
nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của
hành vi đó có thể xẩy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
- Vô ý phạm tội là phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây:
Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại
cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xẩy ra hoặc có thể ngăn ngừa
được; Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả
nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
- Tính có lỗi của tội phạm thể hiện ở việc không có tội nếu như không có lỗi.
E, Tính phải chịu hình phạt
-Trong luật hình sự, tội phạm và hình phạt là hai chế định quan trọng luôn
đi liền với nhau. Để thực hiện nhiệm vụ của mình, BLHS quy định tội phạm và
hình phạt đối với người phạm tội.
- Loại và mức hình phạt có thể áp dụng đối với người (cá nhân hoặc pháp
nhân thương mại) phạm tội được quy định tại từng điều, khoản cụ thể ở phần các tội phạm BLHS.
Câu 2 : Theo anh chị, điều kiện cần và đủ để một người thực hiện hành vi xã hội
bị coi là tội phạm là gì ? Tại sao ? Hãy phân tích điều kiện cần và đủ đó ?
* Điều kiện cần và đủ để một người thực hiện hành vi xã hội bị coi là tội phạm là :
- Cấu thành tội phạm là tổng thể các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội
phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự. Để một người thực hiện
hành vi xã hội bị coi là tội phạm cần có đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm đó
là : Khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm.
Điều này có ý nghĩa trong việc xác định một người đã thực hiện hành vi
được cho là tội phạm hay chưa, hay việc thực hiện hành vi đó phạm tội ở mức độ nào.
* Cần có đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm để một người bị coi là tội phạm vì:
- Cấu thành tội phạm nói chung là sự mô tả tội phạm trong luật hình sự
mà ở đó không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân hoặc pháp nhân thực
hiện hành vi không được quy định trong luật hình sự. 4 yếu tố cấu thành trên là điều
kiện cần và đủ để chứng minh một người là tội phạm, bởi các dấu hiệu trong
cấu thành tội phạm có mối liên hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau, nếu thiếu một
dấu hiệu nào trong bốn yếu tố trên đều không thể được coi là cấu thành tội
phạm. Giả sử một số tội phạm đòi hỏi yêu cầu sự hiện diện của các yếu tố động
cơ phạm tội, mục đích phạm tội, hành vi phạm tội (như cướp giật, giết người...),
nếu có đủ yếu tố chủ thể, chủ quan, khách thể nhưng thiếu bất kì một yếu tố
khách quan nào thì không bị coi là tội phạm bởi điều đó chưa đủ chứng cứ
thuyết phục để buộc một người là tội phạm và ngược lại. Bởi vậy, cấu thành tội
phạm là điều kiện cần và đủ cho việc thừa nhân rằng một người nào đó đã thực
hiện hành vi phạm tội nhất định sẽ phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự theo
luật định. Nó cũng là điều kiện “ cần” vì nếu thiếu sự hiện diện của các yếu tố
cấu thành tội phạm ở dạng tổng thể thì không thể có đủ căn cứ để truy cứu trách
nhiệm hình sự một ai đó. Còn dấu hiệu “ đủ ” vì chỉ cần những dấu hiệu đó là
đủ để truy cứu TNHS một ai đó đã thực hiện một tội phạm mà không cần xét
thêm những dấu hiệu bổ sung nào khác.
* Nội dung các điều kiện cần và đủ của tội phạm là :
1. Khách thể của tội phạm A, Khái niệm:
- Là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm phạm bằng cách gây thiệt hại hoặc hướng
tới việc gây thiệt hại cho quan hệ xã hội nhất định thông qua việc tác động đến
một đối tượng cụ thể của quan hệ xã hội đó. Do vậy, khách thể của tội phạm
không chỉ là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm phạm mà còn bao gồm đối tượng
tác động của tội phạm.
Ví dụ: Anh A giết chị B trong lúc nóng giận. Do đó anh A đã xâm phạm quyền
được sống của chị B ( Khách thể của tội phạm ), làm phát sinh quan hệ pháp
luật hình sự giữa nhà nước và anh A ( Đối tượng điều chỉnh của LHS ) * Phân loại khách thể :
- Khách thể chung là tổng hợp các QHXH được LHS bảo vệ khỏi sự xâm hại
của tội phạm ( Điều 1 và Điều 8 BLHS )
- Khách thể loại của tội phạm là nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất được
nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ và bị nhóm tội phạm xâm hại. Bộ
luật hình sự nước ta chia các tội phạm thành 14 nhóm tương ứng với 14 nhóm
quan hệ xã hội cùng tính chất, mỗi nhóm là một chương của Phần các tội phạm
(từ Chương XIII đến Chương XXVI BLHS).
- Khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm cụ thể xâm
hại (gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại) mà sự xâm hại đó phản ánh đầy đủ
tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đó. Một tội phạm có thể xâm hại
đến nhiều quan hệ xã hội nhưng không phải tất cả những quan hệ xã hội bị xâm
hại đó đều là khách thể trực tiếp của tội phạm, mà chỉ những quan hệ xã hội nào
mà sự gây hại cho nó thể hiện đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm của hành vi
phạm tội mới là khách thể trực tiếp của tội phạm. Ví dụ: hành vi phá hoại công
trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia xâm hại đến hai quan hệ sở
hữu và sự an toàn của công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia,
nhưng chỉ có quan hệ về sự an toàn của công trình phương tiện quan trọng về an
ninh quốc gia mới là khách thể trực tiếp của tội phạm.
Có tội phạm có một khách thể trực tiếp nhưng cũng có tội phạm có nhiều
khách thể trực tiếp. Ví dụ: tội cướp tài sản có khách thể trực tiếp là quan hệ
nhân thân và quan hệ sở hữu.
B, Đối tượng tác động của tội phạm:
- Đối tượng tác động của tội phạm là là bộ phận của khách thể của tội phạm bị
hành vi phạm tội tác động và quan đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho
quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.
- Một số đối tượng tác động của tội phạm:
+ Con người. Ví dụ: tội giết người
+ Đối tượng vật chất với ý nghĩa là khách thể của quan hệ xã hội.Ví dụ: tài sản
trong tội trộm cướp giật tài sản.
+ Hoạt động bình thường của chủ thể QHXH có thể là đối tượng tác động của
tội phạm. Khi tác động đến đối tượng tác động loại này, hành vi phạm tội làm
biến đổi tình trạng bình thường của nó, có thể là cản trở hoạt động bình thường
của chủ thể, ví dụ như hành vi đe dọa dùng vũ lực chống người thi hành công
vụ, hoặc làm biến dạng hành vi của người khác như tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn
hoặc tự làm biến dạng xử sự của mình như đưa, nhận hối lộ, cố ý không cứu
giúp người khác trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng...
2. Mặt khách quan của tội phạm A, Khái niệm:
- Mặt khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm bao gồm những
biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan.
B, Những biểu hiện cơ bản của mặt khách quan của tội phạm bao gồm:
+ Hành vi khách quan của tội phạm có tính nguy hiểm cho xã hội.
+ Hậu quả do hành vi phạm tội gây ra.
+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.
+ Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi: Công cụ, phương tiện
phạm tội; Thời gian, địa điểm xảy ra hành vi khách quan của tội phạm....
- Hành vi khách quan của tội phạm là hoạt động có ý thức và ý chí của con
người, là hành vi trái pháp luật hình sự, có tính nguy hiểm cho xã hội theo
Khoản 1 Điều 8 BLHS 2015. Hành vi khách quan là một trong những căn cứ
quan trọng xác định có vi phạm pháp luật xảy ra hay không. Bất kì một vi phạm
pháp luật nào cũng được cấu thành bởi hành vi trái pháp luật, nghĩa là nếu
không tồn tại hành vi trái pháp luật của cá nhân hoặc tổ chức cụ thể nào đó thì
không thể xác định được vi phạm pháp luật.
- Hậu quả do hành vi trái pháp luật gây ra cho xã hội (sự thiệt hại của xã hội
do hành vi trái pháp luật gây ra). Hành vi trái pháp luật ở những mức độ khác
nhau đều nguy hiểm và gây thiệt hại cho xã hội. Tính nguy hiểm của hành vi
trái pháp luật thể hiện ở chỗ là nó đã gây ra hoặc có nguy cơ gây ra những thiệt
hại về vật chất, về tinh thần cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến các quan hệ xã
hội được pháp luật bảo vệ. Mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật được
xác định thông qua mức độ thiệt hại thực tế hoặc nguy cơ gây thiệt hại cho xã
hội mà hành vi đó gây ra
- Mối quan hệ nhân quả là mối quan hệ giữa hành vi khách quan của tội
phạm với hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Giữa hành vi nguy hiểm
cho xã hội và hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra có mối quan hệ nhân
quả khi: Hành vi nguy hiểm cho xã hội phải xảy ra trước hậu quản thiệt hại cho
xã hội về mặt thời gian; Hành vi nguy hiểm cho xã hội độc lập hoặc trong sự
tổng hợp với một hoặc nhiều hiện tượng khác phải chứa đựng khả năng gây ra
hậu quả thiệt hại cho xã hội; Hậu quả thiệt hại cho xã hội đã xảy ra phải đúng là
sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi nguy hiểm cho xã hội
- Các biểu hiện khác của mặt khách quan: Ngoài ba biểu hiện cơ bản trên ,
mặt khách quan còn biểu hiện qua công cụ , phương tiện , thời gian , địa điểm ,
hoàn cảnh phạm tội ....
+Về công cụ , phương tiện phạm tội : Phương tiện pháp tội là đối tượng
được chủ thể của tội phạm sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội của mình .
Công cụ phạm tội là dạng cụ thể của phương tiện phạm tội . Ví dụ như : dao , rìu , búa ..
+Về phương pháp , thủ đoạn phạm tội : Phương pháp , thủ đoạn phạm tội là
cách thức thực hiện hành vi phạm tội , trong đó có cách thức sử dụng công cụ ,
phương tiện như : thủ đoạn lừa đảo , hành hạ , ngược đãi người khác , uy hiếp tinh thần ...
+ Về thời gian , địa điểm , hoàn cảnh phạm tội : Tính nguy hiểm cho xã hội
của một số hành vi có thể phụ thuộc vào thời gian xảy ra. Ví dụ: Thời gian vào
mùa sinh sản thủy hải sản có thể ảnh hưởng đến tính nguy hiểm cho xã hội của
hành vi đánh bắt thủy hải sản trái phép
- Trong đó dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm được thực hiện ở một
thời gian và địa điểm cụ thể là những dấu hiệu bắt buộc của mỗi tội phạm; Hậu
quả do hành vi phạm tội gây ra, công cụ và phương tiện phạm tội chỉ là những
dấu hiệu bắt buộc của một số tội phạm cụ thể.
3. Mặt chủ quan của tội phạm
- Là những biểu hiện tâm lý bên trong của tội phạm. Những biểu hiện cơ bản
của mặt chủ quan của tội phạm bao gồm lỗi, động cơ và mục đích của người
thực hiện hành vi phạm tội.
- Trong đó: Lỗi là dấu hiệu bắt buộc của mỗi tội phạm. Lỗi bao gồm 4 hình thức:
Lỗi cố ý trực tiếp:
Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội,
thấy trước hậu quả của hành vi đó và muốn hậu quả xảy ra [ Khoản 1 Điều 10 bộ luật hình sự 2015 ]
Lỗi cố ý gián tiếp:
Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội,
thấy trước hậu quả của hành vi do có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng
vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra [ Khoản 2 Điều 10 bộ luật hình sư 2015 ]
Lỗi vô ý do cẩu thả:
Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả
nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó
[ Khoản 2 Điều 11 bọ luật hình sự 2015 ]
Lỗi vô ý vì quá tự tin:
Người phạm tội tuy nhìn thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả
nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể
ngăn ngừa được [ Khoản 1 Điều 11 bộ luật hình sự 2015 ]
- Động cơ, mục đích chỉ là những dấu hiệu bắt buộc của một số tội phạm cụ thể. Trong đó:
+ Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện
hành vi phạm tội. Động cơ phạm tội chỉ có ở những trường hợp phạm tội cố ý,
bởi vì người phạm tội vô ý hoàn toàn không mong muốn thực hiện tội phạm. Họ
không biết hành vi của mình là hành vi phạm tội hoặc tự tin rằng hành vi phạm
tội sẽ không xảy ra. Động cơ thường sẽ không là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP.
Tuy nhiên, ở một số tội động cơ sẽ là dấu hiệu định tội bắt buộc. Ví dụ: động cơ
phòng vệ ở tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng ( Điều 126 )
+ Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra
phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội
Ví dụ: Điều 123 động cơ giết chủ nợ nhằm mục đích trốn nợ
4. Chủ thể của tội phạm A, Khái niệm:
- Là cá nhân, pháp nhân thương mại thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
hội được quy định trong BLHS tại Điều 8 BLHS quy định “Tội phạm là hành vi
nguy hiểm cho xã hội … do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp
nhân thương mại thực hiện…”
- Trong đó: Cá nhân là con người cụ thể có năng lực trách nhiệm hình sự
(năng lực nhân thức, năng lực điều khiển hành vi) và đạt độ tuổi do pháp luật quy định.
- BLHS 2015 quy định người đủ 14 tuổi trở lên mới là chủ thể của tội phạm.
- Điều 12 BLHS 2015 quy định: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách
nhiệm hình sự về mọi tội phạm , trừ những tội phạm mà BLHS có quy định
khác. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong
các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178,
248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này
Ví dụ: Điều 145 BLHS quy định người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu
hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới
16 tuổi thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự
về hành vi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123 (Tội giết người), Điều 168
(Tội cướp tài sản) của BLHS.
- Pháp nhân thương mại là tổ chức phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy
định của BLHS. Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về 33
tội phạm quy định tại Điều 76 BLHS khi có đủ điều kiện quy định tại Điều 75
BLHS: Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;
Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; Hành vi
phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp
nhân thương mại; Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại
khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của BLHS
B, Chủ thể đặc biệt của tội phạm:
- Ngoài năng lực trách nhiệm hình sự, chủ thể của một số tội phạm còn
đòi hỏi có thêm dấu hiệu đặc biệt khác vì chỉ có thể thực hiện được hành vi
phạm tội của những tội phạm này khi có những dấu hiệu đó. Chủ thể của tội
phạm đòi hỏi thêm những dấu hiệu đặc biệt đó gọi là chủ thể đặc biệt của tội
phạm. Những đặc điểm đặc biệt có thể là:
+ Đặc điểm liên quan đến chức vụ, quyền hạn là đặc điểm của chủ thể
của các tội phạm về chức vụ; các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội xâm
phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân.
+ Đặc điểm liên quan đến nghè nghiệp, tính chất công việc là chủ thể của
Tội vi phạm quy định về điều khiến tàu bay vi phạm quy định về hàng không
của nước CHXHCN Việt Nam (Điều 283), Tội điều khiển phương tiện hàng hải
vi phạm quy định về hàng hải của nước CHXHCN Việt Nam (Điều 284)…
+ Đặc điểm liên quan đến nghĩa vụ phải thực hiện là chủ thể của Tội trốn
tránh nghĩa vụ quân sự (Điều 332), Tội không chấp hành án (Điêì 380)…
+ Đặc điểm về quan hệ gia đình là chủ thể của Tội loạn luân (Điều 184),
Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 186)…
C, Năng lực trách nhiệm hình sự:
- Năng lực trách nhiệm hình sự là năng lực có thể phải chịu trách nhiệm
hình sự nếu thực hiện hành vi phạm tội. Năng lực trách nhiệm hình sự được Nhà
nước xác nhận dựa trên cơ sở: năng lực nhận thức; năng lực điều khiển hành vi
theo đòi hỏi của xã hội.
- Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là tình trạng mất năng
lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi do mắc bệnh.
- Người ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là
người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc
bệnh khác là mất khả năng lực nhận thức hoặc khả năng lực điều khiển hành vi
của mình. Như vậy, có hai dấu hiệu để xác định tình trạng không có năng lực
trách nhiệm hình sự: Dấu hiệu y học là mắc bệnh; Dấu hiệu tâm lý là mất khả
năng lực nhận thức hoặc khả năng lực điều khiển hành vi của mình.