










Preview text:
lOMoARcPSD|37955254
Bài tập Lthads - bài tập luật thi hành án dân sự
Luật dân sự (Trường Đại học Đà Lạt) Scan to open on Studeersnel
Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
1. Anh Hoàng Văn Nam- Huyện Tam Đảo hỏi: Tôi là người được thi hành án, khi
tài sản đang bán đấu giá tôi có quyền được nhận tài sản kê biên để trừ vào số tiền
được thi hành án hay không? Trả lời:
Tại Khoản 2, khoản 3 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định:
- Từ sau lần giảm giá thứ hai trở đi mà không có người tham gia đấu giá, trả
giá hoặc bán đấu giá không thành thì người được thi hành án có quyền nhận tài sản để
trừ vào số tiền được thi hành án.
Trường hợp người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi
hành án, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo về việc không có
người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thông
báo cho người phải thi hành án biết.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được thông báo về
việc người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để thi hành án, nếu người phải thi
hành án không nộp đủ số tiền thi hành án và chi phí thi hành án để lấy lại tài
sản đưa ra bán đấu giá thì Chấp hành viên giao tài sản cho người được thi hành án.
Đối với tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp
hành viên ra quyết định giao tài sản cho người được thi hành án để làm thủ tục đăng
ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản đó cho người được thi hành án.
Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không tự nguyện giao tài
sản cho người được thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án.
- Trường hợp người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản để thi hành án thì
Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Nếu giá trị tài
sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án vẫn
không nhận để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được giao lại cho người phải
thi hành án quản lý, sử dụng. Người phải thi hành án không được đưa tài sản này tham
gia các giao dịch dân sự cho đến khi họ thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án.
Như vậy, phải từ sau lần giảm giá thứ hai trở đi mà không có người tham gia đấu
giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì người được thi hành án có quyền nhận tài
sản để trừ vào số tiền được thi hành án.
2. Anh Nguyễn Mạnh Đông- Huyện Yên Lạc hỏi: Bản án dân sự phúc thẩm
TAND tỉnh tuyên buô ̣c ông Nguyễn Văn A phải giao trả cho tôi quyền sử dụng đất
có diê ̣n tích 100m2. Tôi đã được cơ quan thi hành án tổ chức giao tài sản trên
nhưng sau khi cơ quan thi hành án giao xong, gia đình ông A chiếm lại đất, vậy tôi phải làm thế nào? Trả lời:
Căn cứ Khoản 4 Điều 13 Nghị định 62/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định:
Tài sản đã được giao trên thực tế cho người được nhận tài sản và người đó đã ký nhận
vào biên bản giao, nhận tài sản nhưng sau đó bị chiếm lại thì cơ quan thi hành án dân
sự không có trách nhiệm giao lại tài sản cho người được nhận tài sản.
Người đã nhận tài sản có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản yêu cầu
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
người chiếm lại tài sản trả lại tài sản cho họ. Nếu người chiếm lại tài sản không trả lại
thì người đã nhận tài sản có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành
chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
3. Ông Lê Văn Đường – Huyện Lập Thạch hỏi: Anh A là người phải thi hành bản
án phúc thẩm của tỉnh về khoản thanh toán nợ cho ông B với tổng số tiền
700.000.000đ. Sau khi bản án có hiệu lực, tôi có mua mô ̣t mảnh đất có diê ̣n tích
200m2 của anh A với giá 500.000.000đ. Tài sản đã chuyển nhượng hợp pháp và tôi
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vậy khi thi hành bản án trên,
tài sản này có bị cơ quan thi hành án kê biên không? Trả lời:
Tại Khoản 1 Điều 24 Nghị định 62/NĐ-CP ngày 18/7/2015 về kê biên tài sản để thi hành án quy định:
Kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án
chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác
mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc
tài sản khác không đủ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử
lý để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Khi kê biên tài sản, nếu
có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh
chấp thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự.
Trường hợp đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện
pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà tài sản bị chuyển đổi,
tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố cho người khác thì tài sản đó bị kê
biên, xử lý để thi hành án; Chấp hành viên có văn bản yêu cầu Tòa án tuyên bố giao
dịch đối với tài sản đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên
quan đến giao dịch đối với tài sản đó.
Như vậy, trường hợp của Ông cần làm rõ người phải thi hành án có sử dụng khoản tiền
thu được để thi hành án? có tài sản khác hay không? hoặc tài sản khác có đủ để đảm
bảo nghĩa vụ thi hành án? Khi đó mới xem xét tới việc kê biên, xử lý tài sản của bạn
đã mua. Khi kê biên tài sản, ông có quyền khởi kiện tranh chấp theo quy định tại
Khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự.
4. Chị Nguyễn Thị Hoa- Huyện Sông Lô hỏi: Chồng tôi là người phải thi hành án
khoản trả nợ cho ông A số tiền 300.000.000đ, vợ chồng tôi có tài sản chung duy
nhất là nhà đất đang ở. Vậy tài sản này có bị kê biên không? Trả lời:
Tại Khoản 1 Điều 24 Nghị định 62/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định việc kê biên, xử
lý tài sản chung của người phải thi hành với người khác được thực hiện như sau:
Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên, xử lý đối với tài sản chung là quyền sử dụng
đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi các tài sản khác không đủ để thi hành án
hoặc khi có đề nghị của đương sự theo quy định tại Khoản 4 Điều này;
Trường hợp người phải thi hành án có chung tài sản với người khác mà đã xác định
được phần tài sản, quyền tài sản của từng người thì Chấp hành viên kê biên phần tài
sản, quyền tài sản của người phải thi hành án để thi hành án theo quy định tại Khoản 2
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
Điều 74 Luật Thi hành án dân sự; trường hợp chưa xác định được phần quyền của
người phải thi hành án thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành
án dân sự, trừ trường hợp quy định tại Điểm c Khoản này;
Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên
xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia
đình và thông báo cho vợ, chồng biết.
Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì Chấp
hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình tại
thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản, thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê
đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất. Chấp hành viên
thông báo kết quả xác định phần sở hữu, sử dụng cho các thành viên trong hộ gia đình biết.
Trường hợp vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình không đồng ý với việc xác
định của Chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong
thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Hết thời hạn này mà không có
người khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản và trả lại cho vợ
hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của họ.
Như vậy, tài sản chung của vợ chồng Chị vẫn bị xem xét kê biên để đảm bảo thi hành án theo quy định trên.
5. Ông Đào Văn Tiến- Thành Phố Vĩnh Yên hỏi: Chi cục THADS thành phố đang
thi hành bản án dân sự sơ thẩm về viê ̣c ông A phải trả cho tôi số tiền 50.000.000đ.
Ngày 30/3/2017, Chấp hành viên triê ̣u tâ ̣p tôi và ông A đến làm viê ̣c tại trụ sở
UBND phường, tại đây, ông A đã nô ̣p đủ số tiền trên. Vâ ̣y, tôi có đề nghị được
nhận tiền ngay tại trụ sở UBND phường không? Trả lời:
Căn cứ Khoản 4 Điều Điều 49 Nghị định 62/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định về Thủ
tục thanh toán tiền, trả tài sản thi hành án: Khi thi hành án tại cơ sở, trường hợp người
phải thi hành án và người được thi hành án cùng có mặt, Chấp hành viên có thể chi trả
ngay cho đương sự số tiền, tài sản thu được, sau khi đã trừ khoản phí thi hành án. Việc
chi trả tiền, tài sản phải lập biên bản ghi đầy đủ thời gian, địa điểm, họ tên đương sự,
lý do, nội dung giao nhận, số tiền, tài sản, chữ ký và họ tên của đương sự, Chấp hành
viên và phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành việc chi trả tiền, tài
sản. Biên bản phải giao cho đương sự, lưu hồ sơ thi hành án và chuyển cho kế toán cơ
quan thi hành án dân sự để vào sổ theo dõi.
Như vậy, trường hợp của Ông có thể được chi trả ngay tại UBND phường.
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
Bài tập 1: Ngày 20/10/2018 Tòa án nhân dân huyện ĐT tỉnh LĐ tuyên chia đều di sản
thừa kế cho các ông, bà có tên sau đây mỗi người được hưởng 5 tỷ, bản án sơ thẩm bị
kháng cáo ngày 24/12/2018 Tòa án nhân dân tỉnh LĐ tuyên sửa bản án sơ thẩm theo
hướng như sau: - Minh Anh được hưởng 4 tỷ; - Trang Linh được hưởng 6 tỷ; - Bach
Nguyên được hưởng 5 tỷ. 1. Bằng sự hiểu biết của mình anh, chị hãy xác định Cơ
quan thi hành án có thẩm quyền tổ chức thi hành án? 2. Giả sử bản án ngày 20/10/2018
do Tòa án nhân dân tỉnh LĐ sử sơ thẩm nhưng không bị kháng cáo, kháng nghị theo
anh chị cơ quan nào có thẩm quyền thi hành bản án trên? Trả lời:
1. Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 35 LTHADS, cơ quan thi hành án dân sự huyện
ĐT có thẩm quyền thi hành bản án này.
Nếu xét thấy cần thiết, cơ quan thi hành án dân sự tỉnh LĐ có thể lấy lên để thi
hành bản án theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 35 LTHADS.
2. Căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 35 LTHADS, cơ quan thi hành án dân sự tỉnh LĐ
có thẩm quyền thi hành bản án này.
Bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Lâm Đồng buộc công ty A phải nhận ông B trở lại
làm việc và bồi thường cho ông B số tiền là 500 triệu đồng do sa thải ông B không
đúng pháp luật. Trong quá trình thi hành án do ông B và công ty A đã có thoả thuận
khác nên ông A làm đơn yêu cầu đình chỉ thi hành bản án trên, Cơ quan thi hành án đã
đình chỉ thi hanh bản án, tuy nhiên sau khi có quyết định đình chỉ thi hành, công ty A
đã không thực hiện nội dung thoả thuận với ông B nên ông B làm đơn yêu cầu tiếp tục
thực hiện bản án phúc thẩm. Cơ quan thi hành án có chấp nhận yêu cầu của ông B không? Tại sao? Trả lời:
Căn cứ khoản 1 Điều 6 LTHADS, công ty A và ông B có quyền thỏa thuận về việc thi
hành án, nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.
Ông A có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự đình chỉ thi hành án, theo điểm c
khoản 1 Điều 50 LTHADS thì đơn yêu cầu của ông A được chấp nhận, Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành án.
Căn cứ khoản 2 Điều 6 LTHADS, công ty A không thực hiện đúng thỏa thuận thì ông
B có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành phần nghĩa vụ chưa được thi hành. (Đ5 NĐ 62/2015)
Yêu cầu của ông B có thể được cơ quan thi hành án dân sự chấp nhận.
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng chế bắt buộc của cơ quan thi hành
án do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc đương sự phải thực hiện
những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của tòa án, được áp
dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự
nguyện thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn định, hoặc trong trường hợp cần
ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản.
Theo quy định của Luật thi hành án dân sự, hiện nay có 06 biện pháp cưỡng chế thi hành án bao gồm:
- Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
Đây là biện pháp được áp dụng đối với có nghĩa vụ phải thi hành nghĩa vụ trả tiền mà
người phải thi hành án đang có tiền trong tài khoản ngân hàng hoặc đang sở hữu các giấy tờ có giá.
- Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
Biện pháp này thường được áp dụng khi người phải thi hành án có thu nhập thực tế và
không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ.
- Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
Việc kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án được thực hiện trong trường hợp
người thi hành án chỉ có tài sản mà tài sản đó lại đang do người thứ bao bảo quản và
người thi hành án không tự nguyện thi hành án.
- Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
Biện pháp này được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện
thi hành án và giá trị tài sản của người phải thi hành án quá lớn so với nghĩa vụ họ phải
thi hành - nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định của Toà án.
- Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
Biện pháp này áp dụng đối với trường hợp người thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ
chuyển giao vật hoặc quyền tài sản theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
nhưng cố tình không thực hiện.
- Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
Đối tượng của biện pháp này là một công việc nhất định mà người phải thi hành án
phải làm hoặc không được làm dựa trên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
Khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi
hành án là một trong các biện pháp cướng chế thi hành án, được áp dụng trong trường
hợp người đó phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định mà họ đang có
tiền trong tài khoản hoặc đang sở hữu giấy tờ có giá. Nếu người phải thi hành án- thực
hiện nghĩa vụ trả tiền, mà họ đang giữ tiền, giấy tờ có giá hoặc gửi tại kho bạc, tổ chức
tín dụng thì đây sẽ này sẽ là biện pháp cưỡng chế đầu tiên đầu tiên được áp dụng.
Thủ tục cưỡng chế thi hành án khấu trừ tiền trong tài khoản:
- Chấp hành viên ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành
án. Số tiền khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng
chế.Trường hợp đối tượng bị cưỡng chế có mở tài khoản tiền gửi tại nhiều Kho bạc
Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác nhau thì Chấp hành viên căn
cứ số dư tài khoản để quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài
khoản đối với một tài khoản hoặc nhiều tài khoản để đảm bảo thu đủ tiền phải thi hành
án và chi phí cưỡng chế thi hành án (nếu có).
- Quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản phải ghi rõ các nội dung sau: Ngày, tháng,
năm ban hành quyết định. Căn cứ ban hành quyết định. Họ tên Chấp hành viên. Họ tên
người phải thi hành án. Số tài khoản của đương sự. Tên, địa chỉ Kho bạc Nhà nước,
Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác nơi mở tài khoản. Số tiền phải khấu trừ.
Số tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự nhận khoản tiền bị khấu trừ và thời hạn
thực hiện việc khấu trừ.
-Thực hiện quyết định cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản. Ngay sau khi nhận
được quyết định về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án, cơ quan,
tổ chức đang quản lý tài khoản phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan
thi hành án dân sự hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định khấu trừ.
- Chấm dứt khấu trừ tiền trong tài khoản. Việc phong toả tài khoản được chấm dứt
trong các trường hợp sau đây: Người phải thi hành án đã thi hành xong nghĩa vụ thi
hành án; Cơ quan, tổ chức đã thực hiện xong yêu cầu của Chấp hành viên về khấu trừ
tiền trong tài khoản của người phải thi hành án; có quyết định đình chỉ thi hành án theo
quy định tại Điều 50 của Luật thi hành án dân sự năm 2008. Chấp hành viên ra quyết
định chấm dứt việc phong toả tài khoản ngay sau khi có căn cứ nêu trên.
Bên cạnh việc áp dụng hiệu quả các biện pháp cưỡng chế thi hành án thì vẫn còn một
số khó khăn cần kể tới.
- Đầu tiên, việc thu thập thông tin về tài khoản của người phải thi hành án do người có
thẩm quyền thi hành án tiến hành xác minh gặp nhiều khó khăn do vướng phải các quy
định về bảo mật thông tin khách hàng của các tổ chức tín dụng, ngân hàng. Các tổ
chức tín dụng sẽ viện dẫn quy định tại Điều 14 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 để từ
chối cung cấp thông tin về tài khoản của người phải thi hành án.
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
- Khó xác minh thu nhập của người phải thi hành án. Ví dụ, thu nhập từ hoạt động
kinh doanh của người phải thi hành án rất khó xác minh vì tài sản, thu nhập của người
khác thuộc bí mật thông tin và được pháp luật bảo vệ.
- Người có thẩm quyền thi hành án muốn xác minh phải nhờ cơ quan chức năng khác.
Trường hợp người được thi hành án trực tiếp yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cung cấp
thông tin thì càng khó khăn hơn. Chưa kể, việc bị từ chối cung cấp thông tin hoặc cố tình cung cấp sai.
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
Biện pháp cưỡng chế trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền
từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm là một trong bốn biện pháp cưỡng chế
thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Theo nguyên tắc áp dụng biện
pháp cưỡng chế thì đây là biện pháp đầu tiên được xem xét thực hiện.
1. Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập[1]
- Đối tượng bị áp dụng: Cá nhân bị cưỡng chế là cán bộ, công chức hoặc cá nhân đang
làm việc được hưởng tiền lương hoặc thu nhập tại một cơ quan, đơn vị, tổ chức; cá
nhân bị cưỡng chế đang được hưởng bảo hiểm xã hội.
- Xác minh thông tin về tiền lương và thu nhập: Người có thẩm quyền ra quyết định
cưỡng chế có trách nhiệm tổ chức xác minh thông tin về tiền lương, thu nhập, mức bảo
hiểm xã hội được hưởng của cá nhân bị cưỡng chế để làm căn cứ ra quyết định cưỡng chế.
Cá nhân bị cưỡng chế; tổ chức, cá nhân đang quản lý tiền lương hoặc thu nhập và các
tổ chức, cá nhân liên quan phải cung cấp thông tin về tiền lương, thu nhập, mức bảo
hiểm xã hội của cá nhân bị cưỡng chế trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận được yêu cầu và chịu trách nhiệm trước pháp luật về thông tin đã cung cấp.
- Quyết định cưỡng chế khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập đối với cá
nhân: Quyết định cưỡng chế khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập đối với
cá nhân bao gồm những nội dung sau: Số quyết định; ngày, tháng, năm ra quyết định;
căn cứ ra quyết định; họ tên, chức vụ, đơn vị công tác của người ra quyết định; họ tên,
địa chỉ của cá nhân bị cưỡng chế khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập;
tên, địa chỉ cơ quan, tổ chức quản lý tiền lương hoặc thu nhập của cá nhân bị cưỡng
chế; số tiền bị khấu trừ; lý do khấu trừ; tên, địa chỉ của Kho bạc Nhà nước nhận tiền;
phương thức chuyển số tiền bị khấu trừ đến Kho bạc; thời gian thi hành; chữ ký của
người ra quyết định và đóng dấu của cơ quan ra quyết định.
- Tỷ lệ khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập đối với cá nhân: Việc khấu
trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập có thể tiến hành nhiều lần, tỷ lệ như sau:
Đối với tiền lương, bảo hiểm xã hội tỷ lệ khấu trừ mỗi lần không quá 30% tổng số tiền
lương, bảo hiểm xã hội được hưởng. Đối với những khoản thu nhập khác, tỷ lệ khấu
trừ mỗi lần không quá 50% tổng số thu nhập.
- Trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động đang quản lý tiền
lương hoặc thu nhập của cá nhân bị khấu trừ: Cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng
lao động đang quản lý tiền lương hoặc thu nhập của cá nhân bị áp dụng biện pháp
khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập có trách nhiệm chấp hành nghiêm
chỉnh quyết định cưỡng chế của cơ quan có thẩm quyền. Đến kỳ lĩnh tiền lương hoặc
thu nhập gần nhất, cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động đang quản lý tiền
lương hoặc thu nhập của cá nhân bị cưỡng chế có trách nhiệm khấu trừ một phần
lương hoặc thu nhập của cá nhân bị cưỡng chế và chuyển số tiền đã khấu trừ đến tài
khoản tại Kho bạc Nhà nước theo nội dung ghi trong quyết định cưỡng chế, đồng thời
thông báo cho cơ quan có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế biết. Trường hợp chưa
khấu trừ đủ số tiền theo quyết định cưỡng chế mà cá nhân bị cưỡng chế đã chấm dứt
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
hợp đồng có hưởng lương hoặc thu nhập thì cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng
lao động phải thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế
biết. Trường hợp cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động đang quản lý tiền
lương hoặc thu nhập của cá nhân bị áp dụng biện pháp khấu trừ một phần lương hoặc
một phần thu nhập cố tình không thực hiện quyết định cưỡng chế khấu trừ của cơ quan
có thẩm quyền thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.
2. Khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm[2]
- Đối tượng bị áp dụng: Đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền từ tài
khoản là tổ chức, cá nhân không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt, quyết định
khắc phục hậu quả, không thanh toán hoặc thanh toán chưa đủ chi phí cưỡng chế mà
có tiền gửi tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam.
- Xác minh thông tin về tài khoản của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế: Người có thẩm
quyền ra quyết định cưỡng chế khấu trừ tiền từ tài khoản có quyền yêu cầu tổ chức tín
dụng cung cấp thông tin về tài khoản của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế theo quy định
của pháp luật; trường hợp người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế không có
thẩm quyền yêu cầu cung cấp thông tin về tài khoản thì đề nghị người có thẩm quyền
yêu cầu tổ chức tín dụng cung cấp thông tin. Người được cung cấp thông tin có trách
nhiệm bảo mật những thông tin được cung cấp.
Cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế có trách nhiệm thông báo cho người có thẩm quyền ra
quyết định cưỡng chế khấu trừ tiền từ tài khoản về tên tổ chức tín dụng, nơi mở tài
khoản, số tài khoản của mình tại tổ chức tín dụng khi có yêu cầu.
- Quyết định cưỡng chế khấu trừ tiền từ tài khoản: Quyết định cưỡng chế khấu trừ tiền
từ tài khoản bao gồm những nội dung sau: Số quyết định; ngày, tháng, năm ra quyết
định; căn cứ ra quyết định; họ tên, chức vụ, đơn vị công tác của người ra quyết định;
số tiền bị khấu trừ, lý do khấu trừ; họ tên, số tài khoản của cá nhân, tổ chức bị khấu
trừ; tên, địa chỉ tổ chức tín dụng nơi đối tượng bị áp dụng khấu trừ mở tài khoản; tên,
địa chỉ, số tài khoản của Kho bạc Nhà nước, phương thức chuyển số tiền bị khấu trừ từ
tổ chức tín dụng đến Kho bạc Nhà nước; chữ ký của người ra quyết định và đóng dấu cơ quan ra quyết định.
Khi nhận được quyết định cưỡng chế khấu trừ tiền từ tài khoản, cá nhân, tổ chức bị
cưỡng chế có trách nhiệm yêu cầu tổ chức tín dụng nơi mình mở tài khoản chuyển tiền
từ tài khoản của mình sang tài khoản của Kho bạc Nhà nước ghi trong quyết định
cưỡng chế khấu trừ tiền từ tài khoản.
- Tổ chức tín dụng nơi cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế mở tài khoản có trách nhiệm
cung cấp các thông tin bằng văn bản về tài khoản của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế
hiện đang mở tài khoản tại tổ chức tín dụng của mình khi có yêu cầu của người có
thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế. Giữ lại trong tài khoản của cá nhân, tổ chức bị
cưỡng chế số tiền tương đương với số tiền mà cá nhân, tổ chức đó phải nộp theo yêu
cầu của người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế. Trích chuyển từ tài khoản tiền
gửi của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế vào ngân sách nhà nước qua tài khoản mở tại
Kho bạc Nhà nước số tiền mà cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế phải nộp.
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com) lOMoARcPSD|37955254
Trường hợp cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế không yêu cầu tổ chức tín dụng nơi mình
mở tài khoản chuyển tiền từ tài khoản của mình sang tài khoản của Kho bạc Nhà nước
ghi trong quyết định cưỡng chế khấu trừ tiền từ tài khoản thì tổ chức tín dụng thông
báo cho cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế biết việc trích chuyển; việc trích chuyển không
cần sự đồng ý của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế.
Trường hợp trong tài khoản không còn số dư hoặc còn nhưng không đủ để khấu trừ thì
tổ chức tín dụng sau khi khấu trừ số tiền hiện có phải thông báo bằng văn bản cho cơ
quan đã ra quyết định cưỡng chế khấu trừ tiền từ tài khoản tại tổ chức tín dụng biết để
áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản. Nếu trong tài khoản của cá nhân, tổ chức
còn số dư mà tổ chức tín dụng không thực hiện việc trích chuyển tiền của cá nhân, tổ
chức bị cưỡng chế theo quyết định cưỡng chế khấu trừ của người có thẩm quyền thì tổ
chức tín dụng bị xử lý theo quy định của pháp luật./. 5. So sánh
Đối tượng bị áp dụng
Cưỡng chế khấu trừ tiền từ tài khoản là tổ chức, cá nhân không tự
nguyện chấp hành quyết định xử phạt, quyết định khắc phục hậu
quả, không thanh toán hoặc thanh toán chưa đủ chi phí cưỡng chế
mà có tiền gửi tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là áp dụng biện pháp
này được xác định khi người phải thi hành án có thu nhập tương đối
ổn định và không tự nguyện. Cơ quan tiếp nhận
Cưỡng chế khấu trừ tiền từ tài khoản
Trách nhiệm của tổ chức tín dụng
+ Cung cấp các thông tin bằng văn bản về tài khoản của cá nhân, tổ chức bị cưỡng
chế hiện đang mở tài khoản tại tổ chức tín dụng của mình khi có yêu cầu của người
có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế.
+ Giữ lại trong tài khoản của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế số tiền tương đương
với số tiền mà cá nhân, tổ chức đó phải nộp theo yêu cầu của người có thẩm quyền
ra quyết định cưỡng chế.
Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
+ Thực hiện quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là việc tổ chức
giao quyết định cưỡng chế cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lí thu nhập của
người phải thi hành án thực hiện quyết định khấu trừ tiền của người phải thi hành án để thi hành án.
+ Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, cơ quan BHXH nơi người phải thi
hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp
pháp khác khi nhận được quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập phải có nhiệm vụ
thực hiện quyết định đó theo đúng nội dung đã quyết định
Downloaded by Vy T??ng (tuongvy290720@gmail.com)
Document Outline
- 5. So sánh