-
Thông tin
-
Quiz
Bài tập lý thuyết ôn tập - Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam | Đại học Tôn Đức Thắng
Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giaiđoạn độc quyền (chủ nghĩa đế quốc). Các nước đế quốc bên trong thì tăng cường bóc lộtnhân dân lao động, bên ngoài thì xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Sựthống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc làm cho đời sống nhân dân lao động các nước trởnên cùng cực. Tài liệu được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐT121) 250 tài liệu
Đại học Tôn Đức Thắng 3.5 K tài liệu
Bài tập lý thuyết ôn tập - Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam | Đại học Tôn Đức Thắng
Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giaiđoạn độc quyền (chủ nghĩa đế quốc). Các nước đế quốc bên trong thì tăng cường bóc lộtnhân dân lao động, bên ngoài thì xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Sựthống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc làm cho đời sống nhân dân lao động các nước trởnên cùng cực. Tài liệu được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!
Môn: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐT121) 250 tài liệu
Trường: Đại học Tôn Đức Thắng 3.5 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:



















Tài liệu khác của Đại học Tôn Đức Thắng
Preview text:
BÀI TẬP TUẦN 1 Câu 1:
a) Sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản và hậu quả của nó.
Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai
đoạn độc quyền (chủ nghĩa đế quốc). Các nước đế quốc bên trong thì tăng cường bóc lột
nhân dân lao động, bên ngoài thì xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Sự
thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc làm cho đời sống nhân dân lao động các nước trở
nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng
gay gắt, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra sôi nổi ở các nước thuộc địa.
Ngày 1-8-1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Cuộc chiến tranh này gây ra
những hậu quả đau thương cho nhân dân các nước (khoảng 10 triệu người chết và 20
triệu người tàn phế do chiến tranh), đồng thời cũng đã làm cho chủ nghĩa tư bản suy yếu
và mâu thuẫn giữa các nước tư bản đế quốc càng tăng thêm. Tình hình đó đã tạo điều
kiện cho phong trào đấu tranh ở các nước nói chung, các dân tộc thuộc địa nói riêng phát triển mạnh mẽ.
b) Ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin
Vào giữa thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển mạnh đặt ra
yêu cầu bức thiết phải có hệ thống lý luận khoa học với tư cách là vũ khí tư tưởng của
giai cấp công nhân đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản. Trong hoàn cành đó, chủ nghĩa
Mác ra đời, về sau được Lênin phát triển và trở thành chủ nghĩa Mác - Lênin.
Chủ nghĩa Mác - Lênin chi rõ muốn giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện
sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải lập ra đảng cộng sản. Sự ra đời của
đảng cộng sản là yêu cầu khách quan đáp ứng cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân
chống áp bức, bóc lột. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (năm 1848) xác định: những
người cộng sản luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào; là bộ phận kiên
quyết nhất trong các đảng công nhân ở các nước; họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và
kết quả của phong trào vô sản. Những nhiệm vụ chủ yếu có tính quy luật mà chính đảng
của giai cấp công nhân cần thực hiện là: tổ chức, lãnh đạo cuộc đấu tranh của giai cấp
công nhân để thực hiện mục đích giành lấy chính quyền và xây dựng xã hội mới. Đảng
phải luôn đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, mọi chiến lực, sách lược của
Đảng đều luôn xuất phát từ lợi ích của giai cấp công nhân. Nhưng, Đảng phải đại biểu
cho quyền lợi của toàn thể nhân dân lao động. Bởi vì giai cấp công nhân chỉ có thể giải
phóng được mình nếu đồng thời giải phóng cho các tầng lớp nhân dân lao động khác trong xã hội.
Kể từ khi chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Việt Nam, phong trào yêu nước và
phong trào công nhân phát triển mạnh theo khuynh hướng cách mạng vô sản, dẫn tới sự
ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng và phát triển
sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, sáng lập ra Đảng
Cộng sản Việt Nam. Chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành
động của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
c) Tác động của Cách mạng Tháng Mười Nga và Quốc tế Cộng sản
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga giành được thắng lợi. Nhà nước Xô Viết dựa
trên nền tảng liên minh công - nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích Nga ra đời.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Muời mở ra một thời đại mới, "thời đại cách mạng
chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc". Cuộc cách mạng này cổ vũ mạnh mẽ phong
trào đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân các nước và là một trong những động lực
ra đời của nhiều đảng cộng sản: Đảng Cộng sản Đức, Đảng Cộng sản Hunggari (Năm
1918), Đảng Cộng sản Mỹ (năm 1919), Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản
Mông cổ (năm 1921), Đảng Cộng sản Nhật Bản (năm 1992)...
Đối với các dân tộc thuộc địa Cách mạng Tháng Mười đã nêu tấm Gương sáng trong việc
giải phóng dân tộc bị áp bức, về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười, Nguyễn Ái Quốc
nhận định: Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc
mê hàng thế kỷ nay. "Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công
thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy
sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin".
Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) được thành lập. Sự ra đời của Quốc tế
Cộng sản có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế. Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của
Lênin được công bố tại Đại hội II Quổc tế Cộng sản vào năm 1920 đã chỉ ra phương
hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa, mở ra con đường giải phong các dân
tộc bị áp bức trên lập trường cách mạng vô sản.
Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa
Mác - Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định vai
trò của tổ chức này đối với cách mạng nước ta là: "An Nam muốn cách mệnh thành công,
thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế". Câu 2:
Chính sách cai trị của thực dân Pháp
– Năm 1858 Thực dân Pháp xâm lược nước ta. Sau hiệp ước Patơ nốt(1884), triều đình
nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp.
– Năm 1897 Pháp bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, Sau 1918 là
chương trình khai thác thuộc địa lần thứ 2 với quy mô và tốc độ lớn hơn lần trước.
Về chính trị: Thực dân Pháp đã tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền
phong kiến nhà Nguyễn lợi dụng triệt để bộ máy cai trị cũ của chế độ phong kiến phục vụ
cho việc áp bức nhân dân Việt Nam. Chúng chia Việt Nam ra thành ba xứ: Nam Kỳ,
Trung Kỳ, Bắc Kỳ và chúng thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng.
Về Kinh tế: Thực dân Pháp tiến hành cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; đầu tư vốn
khai thác tài nguyên (than, thiếc, kẽm), xây dựng một số cơ sở công nghiệp(điện, nước)
Xây dựng hệ thống đường bộ, thuỷ, bến cảng phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa
của nước Pháp. Kinh tế Việt Nam ngày càng nghèo nàn, lạc hậu,què quặt và phụ thuộc vào kinh tế Pháp. Về văn hoá:
– Thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hoá giáo dục thực dân: dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu…
– Ngăn cấm, phá hoại bản sắc văn hoá truyền thống dân tộc Việt Nam, Ngăn cấm văn hoá
tiến bộ thế giới du nhập vào Việt nam. Câu 3:
Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam:
Các cuộc khai thác thuộc địa của Thực dân Pháp ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình xã
hội Việt Nam. Sự phân hoá giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc.
+ Giai cấp địa chủ Việt Nam: Gia cấp địa chủ câu kết với thực dân Pháp bóc lột áp bức
nông dân.Tuy nhiên trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có sự phân hoá, một bộ phận
địa chủ có lòng yêu nước căm thù giặc tham gia đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau.
+ Giai cấp nông dân: Chiếm 90% dân số Việt Nam. Họ phảI chịu 2 tầng áp bức bóc lột
của Thực dân và phong kiến. Tình cảnh khốn khổ, bần cùng của giai cấp nông dân Việt
Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, làm thêm ý trí cách
mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống tự do
+ Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của TDP.
Có đầy đủ đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế (là lực lượng xã hội tiên tiến, đại diện
cho phương thức sản xuất mới, tiến bộ, có ý thức tổ chức kỷ luật cao; có tinh thần cách mạng triệt để)
Ngoài ra giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng
– Phải chịu 3 tầng lớp áp bức bóc lột (địa chủ, đế quốc, tư sản)
– Có mối quan hệ gần gũi với nông dân
– Nội bộ thuần nhất(ra đời trước tư sản) không có tầng lớp quý tộc
– Có tinh thần yêu nước nồng nàn đồng thời sớm tiếp thu những tư tưởng, trào lưu mới của thời đại vô sản
+ Giai cấp tư sản Việt Nam: Bao gồm tư sản công nghiệp, tư sản thương nghiệp, tư sản
nông nghiệp. Ngay từ khi mới ra đời Giai cấp tư sản Việt Nam đã bị chèn ép, thế lực kinh
tế và địa vị chính trị của Giai cấp tư sản Việt Nam nhỏ bé và yếu ớt, vì vậy giai cấp tư sản
không đủ điều kiện để lãnh đạo cách mạng dân tộc
+ Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam: Bao gồm học sinh, tri thức, thợ thủ công, những người
làm nghề tự do…trong đó giới tri thức và học sinh là bộ phận quan trọng của tầng lớp
tiểu tư sản. Đời sống của tiểu tư sản Việt Nam bấp bênh và dễ bị phá sản trở thành người
vô sản. Họ là những người có lòng yêu nước căm thù đế quốc, thực dân lại chịu ảnh
hưởng của những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào, vì vậy đây là lực lượng có tinh thần cách mạng cao Câu 4:
Tại thời điểm khi cả dân tộc ta hiện đang đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu
nước, nhiều chủ thể là những nhà yêu nước đương thời đã tiếp tục con đường cứu nước
theo lối cũ và chưa đem đến kết quả thành công thì vào ngày 5/6/1911 người thanh niên
Nguyễn Tất Thành (tức là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này) đã ra đi tìm đường
cứu nước tại bến cảng Nhà Rồng theo phương hướng mới. Nguyễn Tất Thành (tức là
Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này) trong quá trình tìm đường cứu nước của mình
đã đi qua nhiều nước của châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và đã phát hiện ra một chân lý:
Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thực dân chính là cội nguồn mọi đau khổ của công
nhân và nhân dân lao động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa.
Năm 1917, Nguyễn Tất Thành (tức là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này) đã trở lại
nước Pháp, đến Paris và năm 1919 gia nhập Đảng Xã hội Pháp.
Tháng 6/1919, Nguyễn Tất Thành đã thay mặt những người yêu nước Việt Nam, với tên
gọi mới là Nguyễn Ái Quốc, Người gửi bản yêu sách 8 điểm tới Hội nghị Vécxây.
Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc “Đề cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của
Lênin và từ tư tưởng đó, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam.
Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (tháng 12/1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành
Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản do Lênin sáng lập) và tham gia thành lập Đảng Cộng sản
Pháp, trở thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Đó là một sự kiện lịch sử trọng
đại, đánh dấu bước chuyển quan trọng của con đường giải phóng dân tộc Việt Nam.
Từ năm 1921 đến năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đã không ngừng ra sức truyền bá chủ
nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước taij Việt Nam, chuẩn
bị về lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn này cũng đã viết nhiều bài báo, tham gia nhiều tham
luận tại các đại hội, hội nghị quốc tế. Đó là sự chuẩn bị về đường lối chính trị tiến tới
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc cũng từng khẳng định, muốn thắng
lợi thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo, Đảng có vững, cách mạng mới thành công
cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy.
Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam được đánh giá chính là một tất yếu khách quan, và
nó được bắt nguồn từ thực tiễn cuộc đấu tranh của nhân dân chống sự nô dịch của đế
quốc, được soi rọi dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Việc thành lập Đảng cộng
sản Việt Nam cũng rất phù hợp với quy luật vận động của cách mạng thế giới cũng như là
phù hợp đối với sự nghiệp cách mạng nước ta.
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã đáp ứng những yêu cầu khách quan, thiết yếu và cấp
bách của dân tộc là độc lập, tự do và phát triển. Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập
là kết quả của nhiều yếu tố, trong đó ta nhận thấy rằng vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh
là rất to lớn. Cụ thể thì vai trò to lớn của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam được thể hiện ở những khía cạnh cơ bản như sau:
– Nguyễn Ái Quốc là người đã tìm thấy và lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc ta.
Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX, các phong trào yêu nước đã diễn ra khá sôi nổi tuy
nhiên các phong trào yêu nước này đều có kết quả chung đó là thất bại. Nguyên nhân
chính dẫn đến vấn đề này đó là thiếu lực lượng lãnh đạo, chưa có hệ tương tưởng khoa
học dẫn đường, chưa có lý luận và đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo và đặc biệt là
chưa có một tổ chức lãnh đạo đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Nguyễn Ái Quốc với lòng yêu nước mãnh liệt và tầm nhìn sáng suốt của mình, đã ra đi
tìm đường cứu nước, sau nhiều năm nghiên cứu, khảo nghiệm, học tập, tìm tòi, hoạt động
không ngừng ở nhiều quốc gia, ở hầu khắp các châu lục thì Người cũng đã tìm thấy ở đó
con đường đi đúng đắn giải phóng đất nước khỏi ách thực dân, cứu dân cứu nước là theo
con đường cách mạng vô sản, con đường có mục đích cao cả là giải phóng dân tộc để tiến
tới giải phóng con người.
– Nguyễn Ái Quốc sau khi tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn đã tích cực truyền bá
chủ nghĩa Mác – Lênin vào trong nước và chuẩn bị những điều kiện cho sự thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nguyễn Ái Quốc đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào trong nước. Nguyễn
Ái Quốc đã phác thảo những vấn đề cơ bản cụ thể về đường lối cứu nước đúng đắn của
cách mạng Việt Nam, thể hiện tập trung trong những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc cho
những cán bộ cốt cán của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc).
Bên cạnh đó thì Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị về mặt tổ chức cho sự ra đời của chính
đảng vô sản của giai cấp công nhân Việt Nam. Đó là huấn luyện, đào tạo cán bộ, từ các
lớp huấn luyện do Người tiến hành ở Quảng Châu (Trung Quốc) để chuẩn bị cán bộ trong
nước những tư tưởng về chủ nghĩa Mác – Lênin cũng như nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác
– Lênin tới nhiều đối tượng.
Trong những năm 1928 đến 1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp
tục phát triển mạnh về số lượng và chất lượng. Chủ nghĩa Mác – Lênin được Nguyễn Ái
Quốc và những chiến sĩ tiên phong truyền bá về trong nước, cùng với phong trào vô sản
hoá diễn ra mạnh mẽ cũng đã làm chuyển biến phong trào công nhân, giác ngộ họ và tổ
chức họ đấu tranh cách mạng một cách tự giác.
– Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản.
Với vai trò, trách nhiệm quan trọng trong hệ thống Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã
chủ động triệu tập Hội nghị hợp nhất, sáng lập ra Đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ ngày
06/01/1930 đến ngày 07/02/1930, tại Cửu Long – Hồng Công (Trung Quốc), Hội nghị
hợp nhất đã được tiến hành dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc. Với sự nhất trí cao, Hội
nghị đã đặt tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Chánh cương vắn tắt của
Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của
Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Các văn kiện đã trở thành Cương lĩnh chính
trị đầu tiên của Đảng.
Câu 5: Trước nhu cầu cấp bách của phong trào cách mạng trong nước, với tư cách là phái
viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã đến Hương Cảng (Trung Quốc) triệu tập
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất của Việt Nam.
Nguyễn Ái Quốc đã viết: "Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ
quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, tôi nói
cho họ biết những sai lầm và họ phải làm gì. Họ đồng ý thống nhất vào một Đảng". Hội
nghị thành lập Đảng Hội nghị được tiến hành trong thời gian (từ ngày 6-1-1930 đến ngày
7-2-1930), với nhiều địa điểm khác nhau tại Hương Cảng (Trung Quốc). Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960) đã quyết định lấy ngày 3-2-1930 là ngày kỷ niệm
thành lập Đảng. Dự Hội nghị gồm 2 đại biểu của Dông Dương Cộng sản Đảng (Trịnh
Đinh Cửu và Nguyễn Đức Cảnh), 2 đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng (Châu Văn
Liêm và Nguyễn Thiệu), dưới sự chủ trì cùa Nguyễn Ái Quốc - đại diện của Quốc tế
Cộng sản. Nội dung Hội nghị: Thông qua các văn kiện Chánh cương vắn tắt của Đảng,
Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt. Điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn
Ái Quốc soạn thảo lấy tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam. Các đại biểu về nước phai
tổ chức một Trung ương lâm thời gồm 7 ủy viên chính thức và 7 ủy viên dự khuyết để
lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
(Đại diện của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn không đến kịp, vì vậy đến ngày 24-2-
1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra quyết nghị chấp nhận Đông Dương Cộng sản Liên
đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam).
Hội nghị hợp nhất có ý nghĩa như là Đại hội thành lập Đảng.
Nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng:
Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng được thông qua trong Hội nghị hợp
nhất được coi là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
Từ việc phân tích một Cách khách quan tình hình kinh tế, chính trị, xã hội) Việt Nam vào
những năm đầu thế kỷ XX. Cương lĩnh đã vạch ra phương hướng chiến lược của cách
mạng Việt Nam: "Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để
đi tới xã hội cộng sản’’. Tính chất giai đoạn và lý luận cách mạng không ngừng đã được
thể hiện trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng: Cách mạng tư sản dân quyền là thời kỳ dự
bị để tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đây là con đường cứu nước mới, khác với
những chủ trương, những con đường cứu nước của những nhà yêu nước đương thời đã đi
vào bế tắc và thất bại. Đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam được phản ánh trong
Cương lĩnh đã thể hiện được tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Việc
xác định đúng đắn phương hướng, con đường của cách mạng Việt Nam ngay từ đầu có ý
nghĩa hết sức quan trọng. Đó là ngọn cờ tập hợp lực lượng cách mạng, là cơ sở để giải
quyết đúng đắn các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.
Về nhiệm vụ, mục tiêu cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền (sau này gọi là cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân) là chống đế quốc, chống phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc
và người cày có ruộng. Đây là hai nhiệm vụ cơ bản. Xuất phát từ đặc điểm của chế độ
thuộc địa nửa phong kiến, Cương lĩnh đã phân tích mọi quan hệ gắn bó của hai nhiệm vụ
cơ bản là chống đế quốc và chống phong kiến có gắn bó mật thiết với nhau nhưng trước
hết phải đánh đổ đế quốc chủ nghĩa "làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập".
Về lực lượng của cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh chỉ ra rằng, phải đoàn kết với tất cả
các giai cấp, các tầng lớp nhân dân yêu nước để thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc:
"Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v.
để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư
bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ
đứng trung lập". Đồng thời, Cương lĩnh cũng đã chỉ ra lực lượng chính, động lực chủ yếu
của sự nghiệp cách mạng Việt Nam là: "Trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền, vô sản
giai cấp và nông dân là hai động lực chính, nhưng vô sản có cầm quyền lãnh đạo thì cách
mạng mới thắng lợi được". Đây là sự thể hiện tính nguyên tắc trong chính sách đại đoàn
kết dân tộc và sự sắp xếp, tổ chức lực lượng cách mạng của Đảng ta. Việc tập hợp lực
lượng rộng rãi cũng như xác định được động lực chủ yếu, cơ bản của sự nghiệp cách
mạng phản ánh sự mềm dẻo và linh hoạt trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta.
Về phương pháp cách mạng: sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để đánh đổ đế
quốc phong kiến. Việc nêu lên phương pháp cách mạng bạo lực đã thể hiện sự thấm
nhuần và tiếp thu tư tưởng cách mạng bạo lực và khởi nghĩa vũ trang của chủ nghĩa Mác
- Lênin. Con đường phát triển là cách mạng chứ không phải là cải cách, thỏa hiệp.
Về vấn đề đoàn kết quốc tế, Cương lĩnh nêu rõ: "Trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu
nước An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc
và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp’’. Đồng thời, Cương lĩnh cũng
xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Gắn cách mạng
Việt Nam với cách mạng thế giới, đề cao vấn đề đoàn kết quốc tế chính là sự thể hiện
việc kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, lợi ích dân tộc và
lợi ích toàn nhân loại tiến bộ đang đấu tranh để giải phóng khỏi ách áp bức, bất công trên thế giới.
Để thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng, Cương lĩnh đã khẳng định vai trò quyết
định của Đảng: Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp. Để làm tròn sứ mệnh lịch sử
là nhân tố tiên phong quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Đảng phải: "thu
phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh dạo được dân
chúng". Khẳng định bản chất giai cấp của Đảng vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân
và chiến lược đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh công nông là những vấn đề then
chốt bảo đảm cho Đảng ta trở thành nhân tố duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định được những nội dung cơ bản nhất của con
đường cách mạng Việt Nam. Lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có một bản cương lĩnh
chính trị phản ánh được quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, đáp ứng những nhu
cầu cơ bản và cấp bách của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại. Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã khẳng định: Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại
đa số nhân dân ta... Vì vậy. Đảng đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn
chung quanh giai cấp mình. Còn các đảng phái của các giai cấp khác thì hoặc bị phá sản,
hoặc bị cô lập. Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta - Đảng của giai cấp công nhân - không
ngừng củng cố và tăng cường".
Sự đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã được khẳng định bởi quá trình khảo
nghiệm của lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta suốt bảy mươi lăm năm qua dưới
sự lãnh đạo của Đảng và đến nay vẫn là ngọn cờ dẫn dắt nhân dân ta trong công cuộc đổi
mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Câu 6: Giống nhau:
Về phương hướng chiến lược của cách mạng: Cả 2 văn kiện đều xác định được tích chất
của cách mạng Việt Nam là: Cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng, bỏ qua
giai đoạn tư bản chủ nghĩa để đi tới xã hội cộng sản.
Về phương pháp làm cách mạng: Đứng trước hoàn cảnh của đất nước đang bị áp bức,
bóc lột bởi sức mạnh của thực dân và phong kiến cả hai bản cương lĩnh chính trị và luận
cương chính trị đều nhận thấy cách mạng không còn con đường nào khác là bằng con
đường bạo lực cách mạng.
Về quan hệ quốc tế: Cả hai bản cương lĩnh chính trị và luận cương chính trị đều chỉ ra vị
trí của cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít với cách mạng thế giới và phải
không ngừng liên lạc với cách mạng thế giới để mở rộng mối quan hệ đối ngoại.
Về giai cấp lãnh đạo: Cả cương lĩnh chính trị và luận cương chính trị đều chỉ ra được giai
cấp lãnh đạo cách mạng là giai cấp vô sản với đội ngũ là giai cấp công nhân những người
có kinh nghiệp và là đầu đưa cách mạng Việt Nam đi đến chiến thắng. Khác nhau:
Về tầm ảnh hưởng thì cương lĩnh chính trị tháng 2/1930 xây dựng đường lối cách mạng
của Việt Nam, còn đối với bản luận cương tháng 10/1930 xây dựng đường lối của không
chỉ trong phạm vi cách mạng Việt Nam mà còn cả khối Đông Dương lúc bấy giờ.
Về nhiệm vụ và xác định kẻ thù: Ở hai văn kiện này có sự khác nhau về nhiệm vụ.
Đối với cương lĩnh chính trị đầu tiên nhiệm vụ quan trọng nhất của cách mạng là phải
đánh đổ đế quốc Pháp hung tan sau đó mới đánh đổ phong kiến (đẩy nhiệm vụ dân tộc
lên trước nhiệm vụ giai cấp) để làm cho Việt nam hoàn toàn độc lập, nhân dân được tự
do, dân chủ, bình đẳng, tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc Việt gian chia cho dân cày
nghèo, thành lập chính phủ công nông binh và tổ chức cho quân đội công nông.
Đối với Luận cương chính trị tháng 10/1930 lại có nhiệm vụ khác với cương lĩnh chính
trị tháng 2/1930 khi xác định nhiệm vụ quan trọng trước mắt của cách mạng không phải
là đánh đổ đế quốc trước mà là đánh đổ phong kiến trước sau đó mới đánh đổ đế quốc
Pháp, (đặt nhiệm vụ giai cấp lên trên nhiệm vụ dân tộc) làm cho Đông Dương hoàn toàn
độc lập”. Đây là một điểm hạn chế nghiêm trọng của bản luận cương tháng 10/1930 khi
không xác định được đúng kẻ thù dẫn đến nhiều phong trào cách mạng của nhân dân ta bị
tổn thất nặng nề như kể đến đó là phong trào Xô Viết – Nghệ tĩnh.
Về lực lượng cách mạng: Hai cương lĩnh có sự đánh giá khác nhau về lực lượng cách mạng. Cụ thể:
Đối với cương lĩnh chính tháng 2/1930 xác định lực lượng làm cách mạng là khối đại
đoàn kết dân tộc, mọi giai cấp tầng lớp xã hội trong đó nòng cốt là giai cấp công nhân và
nông dân. Không có sự phân biệt, hễ ai có lòng yêu nước tận tâm giành lại độc lập cho
đất nước thì đều là người của cách mạng.
Đối với luận cương tháng 10/1930 xác định lực lượng của cách mạng là giai cấp vô sản
hay giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo và giai cấp nông dân là sức mạnh của cách
mạng còn những giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội không phải là lực lượng của cách
mạng và có thể theo Pháp bất cứ lúc nào; chính vì những phán đoán sai lầm này mà trong
suốt một quá trình dài cách mạng Việt Nam đã mất đi một lực lượng lớn của cách mạng.
Nhìn chung, hai bản cương lĩnh chính trị và luận cương chính trị có nhiều điểm tương
đồng do xuất phát từ cùng một góc nhìn về thời đại lúc bấy giờ; tuy nhiên xét về hoàn
cảnh áp dụng thì có nhiều điểm khác nhau; đặc biệt là đối với bản luận cương chính trị
tháng 10/1930 đã thể hiện rõ nhiều yếu điểm, hạn chế so với cương lĩnh chính trị tháng
2/1930. Để phù hợp thì luận cương tháng 10/1930 đã được sửa đổi, bổ sung vào các kỳ
họp trung ương đảng tiếp theo. Câu 7:
Vừa mới ra đời, Đảng đã phát động được một phong trào cách mạng rộng lớn, mà đỉnh
cao là Xôviết Nghệ - Tĩnh. Cao trào cách mạng 1930-1931 đã tập hợp được đông đảo
quần chúng công nông, chĩa mũi nhọn đấu tranh vào bọn đế quốc, phong kiến với hình
thức quyết liệt khắp cả Bắc, Trung, Nam, làm rung chuyển nền thống trị của chúng.
Riêng ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tỉnh, chính quyền địch ở nhiều làng, xã bị tan rã, trở
thành các làng đỏ do nhân dân làm chủ, xuât hiện chính quyền của nhân dân mô phỏng
theo các Xôviết trong cách mạng Nga, đưa lại nhiều lợi ích thiêt thực cho nhân dân. Giữa
lúc phong trào cách mạng của quần chúng đang dâng cao, đê quốc Pháp và tay sai đã
thẳng tay đàn áp, khủng bố hòng dập tắt phong trào cách mạng Việt Nam và tiêu diệt
Đảng Cộng sản Đông Dương.
Hàng nghìn chiến sĩ cộng sản, hàng vạn quần chúng yêu nước bị bắt, bị giết hoặc bị tù
đày. Các cơ quan lãnh đạo của Đảng ở Trung ương và các địa phương lần lượt bị phá vỡ.
Toàn bộ Ban Châp hành Trung ương bị bắt. Tòa án của chính quyền thực dân Pháp mở
các phiên tòa đặc biệt để xét xử những người cách mạng.
Tuy bị địch khủng bố ác liệt, Đảng ta và quần chúng cách mạng bị tổn thất nặng nề, song
thành quả lớn nhât của phong trào cách mạng 1930-1931 mà quân thù không thể xóa bỏ
được là: Đã khảng định trong thực tếquvền lãnh đạo và năng lực lãnh đạo cách mạng của
giai cấp công nhân thông qua Đảng tiền phong của mình; đã đem lại cho nông dân niềm
tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng. Cao trào cũng đem lại cho đông đảo quần
chúng, trước hết là công - nông, lòng tự tin ở sức lực cách mạng của bản thân mình dưới
sự lãnh đạo của Đảng. Nhờ tinh thần và nghị lực phi thường được rèn luyện qua thực tiền
đấu tranh cách mạng trong những năm 1930-1931, Đảng ta và quần chúng cách mạng đã
vượt qua thử thách khó khăn, từng bước khôi phuc tổ chức đảng và phong trào cách mạng.
Sự khủng bố của kẻ thù không làm các chiến sĩ cách mạng và quần chúng yêu nước từ bỏ
con đường cách mạng. Trong bối cảnh đó, một số cuộc đấu tranh của công nhân và nông
dân vẫn nô ra, nhiều chi bộ đảng ở trong nhà tù vần được thành lập, hệ thống tổ chức
đảng từng bước được phục hồi.
Mặc dù bị thực dân Pháp khủng bố tàn bạo, một số tổ chức đảng ở Cao Bằng, Sơn Tây,
Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng
Ngãi và nhiều nơi khác ở miền Nam vẫn được duv trì và bám chắc quần chúng để hoạt
động. Nhiều đảng viên vượt tù đã tích cực tham gia khôi phục Đảng và lãnh đạo quần chúng đấu tranh.
Các Xứ ủy Bắc Kỳ, Nam Kỳ, Trung Kỳ bị thực dân Pháp phá vỡ nhiều lẩn, đã lần lượt
được lập lại trong năm 1931 và 1933. Nhiều tỉnh ủy, huyện ủy, chi bộ cùng lần lượt được
phuc hồi. Ở miền núi phía Bắc, một số tổ chức của Đảng được thành lập.
Đầu năm 1932, trước tình hình các ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và hầu hết
ủy viên các Xứ ủy Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ bị địch bắt và nhiều người đã hy sinh,
theo Chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Lê Hồng Phong cùng một số đồng chí chủ chốt ở
trong và ngoài nước tổ chức ra Ban lãnh đạo Trung ương của Đảng. Tháng 6-1932, Ban
lãnh đạo Trung ương đã cồng bố Chương trình hành dộng của Đảng Cộng sản Đông Dương.
Chương trình hành động đã đánh giá hai năm đấu tranh của quần chúng công nông và
khăng định: Công nông Đông Dương dưới sự lãnh dạo của Đảng Cộng sản sẽ nổi lên võ
trang bạo dộng thực hiện những nhiệm vụ chống dế quốc, chống phong kiến và tiến lên
thực hiện chủ nghĩa xã hội.
Để chuẩn bị cho cuộc võ trang bạo động sau này, Đảng phải đề ra và lãnh đạo quần chúng
đấu tranh giành những quyền lợi thiết thực hằng ngày, rồi dần đưa quần chúng tiến lên
đấu tranh cho những vêu cầu chính trị cao hơn. Những yêu cầu chung trước mắt của đông
đảo quần chúng được nêu lên trong Chương trình hành động là: thứ nhất, đòi các quyền
tự đo tô chức, xuất bản, ngôn luận, đi lại trong nước và ra nước ngoài; thứ hai, bỏ những
luật hình đặc biệt đối với người bản xứ, trả tự do cho tù chính trị, bỏ ngay chính sách đàn
áp, giải tán Hội đồng đề hình; thứ ba, bỏ thuế thân, thuế ngụ cư và các thứ thuế vô lý
khác; thứ tư, bỏ các độc quyền về rượu, thuốc phiện và muối.
Chương trinh hành động còn đề ra những yêu cầu cụ thể riêng cho từng giai cấp và tầng
lớp nhân dân; vạch rõ phải ra sức tuyên truyền mơ rộng ảnh hưởng của Đảng trong quần
chúng, củng cố và phát triển các đoàn thể cách mạng, nhất là công hội và nông hội; dẫn
dắt quần chúng đấu tranh cho những quyền lợi hàng ngày tiến lên đấu tranh chính trị,
chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền khi có điều kiện; trong xây dựng Đảng, phải
làm cho Đảng vững mạnh, có kỷ luật nghiêm, giáo dục đảng viên về tư tưởng, chính trị,
rèn luyện đảng viên qua đấu tranh cách mạng... Cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng
cũng được Đảng quan tâm lãnh đạo, nhât là chống chủ nghĩa duy tâm "nghệ thuật vị nghệ
thuật", thực hiện "nghệ thuật vị nhân sinh".
Những yêu cầu chính trị ữước mắt cùng với những biện pháp tổ chức và đấu tranh do
Đảng vạch ra trong Chương trình hành động năm 1932 phù hợp với điều kiện lịch sử lúc
bây giờ. Nhờ vậy, phong trào cách mạng của quần chúng vả hệ thống tổ chức của Đảng
đã nhanh chóng được khôi phục.
Tháng 3-1935, Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng họp ở Ma Cao (Trung Quốc). Đại hội
khảng định thắng lợi của cuộc đấu tranh khôi phục phong trào cách mạng và hệ thống tổ
chức Đảng. Đại hội đề ra ba nhiệm vụ trước mắt là: củng cố và phát triển Đảng; đẩy
mạnh cuộc vận động thu phục quần chúng; mở rộng tuyên truvền chống đê quốc, chống
chiến ữanh, ủng hộ Liên Xô, ủng hộ cách mạng Trung Quốc... Đại hội đã bầu Ban Chấp
hành Trung ương Đảng gồm 13 ủv viên, do đồng chí Lê Hồng Phong lảm Tổng Bí thư.
Thành công của Đại hội đã khảng đinh trên thực tế phong trào cách mạng và hệ thống tổ
chức Đảng đã được khôi phục, mở ra một giai đoạn phát triển mới của cách mạng Đông Dương. Câu 8
Chủ trương từ năm 1936-1939
- Tháng 7-1936, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ hai tại Thượng Hải.
Xuất phát từ tình hình thực tế Hội nghị đã xác định:
+ Mục tiêu chiến lược: không thay đổi so với Hội nghị lần thứ nhất- “cách mạng tư sản
dân quyền - phản đế và điền địa - lập chính quyền công nông bằng hình thức Xô viết”,
“để dự bị điều kiện đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa”. + Kẻ thù trước mắt và nguy hại
nhất là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng. + Nhiệm vụ trước mắt của
cách mạng: chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, chống bọn phản động thuộc địa và
tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Để thực hiện được nhiệm vụ này, BCH
TƯ quyết định lập Mặt trận nhân dân phản đế gồm các giai cấp, đảng phái các đoàn thể
chính trị và các tôn giáo khác nhau, các dân tộc xứ Đông Dương để cũng đấu tranh đòi
những quyền dân chủ đơn sơ. + Về đoàn kết quốc tế: Đoàn kết với giai cấp công nhân và
Đảng Cộng sản Pháp, ủng hộ Mặt trận Nhân dân Pháp, ủng hộ Chính phủ Mặt trận Nhân
dân Pháp để cùng chống kẻ thù chung là phát xít và phản động thuộc địa ở Đông Dương.
+ Về hình thức tổ chức và biện pháp đấu tranh: Hội nghị chủ trương chuyển hình thức tổ
chức bí mật không hợp pháp sang hình thức tổ chức và đấu tranh công khai, nửa công
khai, hợp pháp và nửa hợp pháp. Mục đích mở rộng quan hệ của Đảng với quần chúng.
- Tháng 10-1936, Trung ương Đảng được tổ chức lại do đồng chí Hà Huy Tập làm Tổng
Bí thư, trong văn kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới Ban Chấp hành Trung ương
cũng đặt ra vấn đề nhận thức lại mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, phản
đế và điền địa trong cách mạng Đông Dương: cách mạng giải phóng dân tộc không nhất
thiết phải gắn kết chặt với cuộc cách mạng điền địa. “Nếu phát triển cuộc đấu tranh chia
đất mà ngăn trở cuộc đấu tranh phản đế thì phải chọn vấn đề nào quan trọng hơn mà giải
quyết trước”. Đó là nhận thức mới phù hợp với tinh thần Cương lĩnh cách mạng đầu tiên
của Đảng, bước đầu khắc phục hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10-1930.
- Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào quần chúng từ giữa năm 1936 trở đi khẳng định
sự chuyển hướng chỉ đạo cách mạng đúng đắn của Đảng. Hội nghị lần thứ ba (3-1937),
lần thứ tư (9-1937), tiếp đó là Hội nghị lần thứ năm (3-1938) đã đi sâu về công tác tổ
chức của Đảng, quyết định chuyển mạnh hơn nữa về phương pháp tổ chức và hoạt động
để tập hợp được đông đảo quần chúng trong mặt trận chống phản động thuộc địa, chống
phát xít, đòi tự do, cơm áo, hòa bình.
- Tại Hội nghị tháng 7-1939 Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ cho xuất bản tác phẩm Tự chỉ
trích, nhằm rút kinh nghiệm về những sai lầm, thiếu sót của Đảng viên, hoạt động công
khai trong cuộc vận động tranh cử ở Hội đồng quản hạt Nam kỳ (4-1939). Tác phẩm đã
phân tích những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng, tổng kết kinh nghiệm cuộc vận động
dân chủ của Đảng, nhất là về đường lối xây dựng Mặt trận dân chủ Đông Dương. Tác
phẩm không chỉ có tác dụng lớn trong cuộc đấu tranh khắc phục những lệch lạc, sai lầm
trong phong trào vận động dân chủ, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng,
mà còn là một văn kiện lý luận quan trọng về công tác xây dựng Đảng, vận động quần chúng.
Tóm lại, trong những năm 1936-1939, bám sát tình hình thực tiễn, Đảng đã phát động
được một cao trào cách mạng rộng lớn trên tất cả các mặt trận: chính trị, kinh tế, văn hóa
tư tưởng với các hình thức đấu tranh phong phú và linh hoạt. Qua cuộc vận động dân chủ
rộng lớn, uy tín và ảnh hưởng của Đảng được mở rộng và nâng cao trong quần chúng,
chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối của Đảng được tuyên truyền rộng rãi trong khắp mọi
tầng lớp nhân dân, tổ chức Đảng được củng cố và mở rộng.
Chủ trương từ năm 1939-1945
+ Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11-1939) + Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (11-1940) +
Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5-1941) - quan trọng nhất
Trên cơ sở nhận định khả năng diễn biến của Chiến tranh thế giới lần thứ hai và căn cứ
vào tình hình cụ thể ở trong nước, BCH Trung ương đã quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược như sau:
Một là, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu
Tạm gác khẩu hiểu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiều
“tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo” chia lại ruộng đất
cho công bằng, giảm tô, giảm tức.
Hai là, giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương
Ở Việt Nam, Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng
minh (Việt Minh) thu hút mọi người dân yêu nước không phân biệt thành phần, lứa tuổi,
đoàn kết bên nhau đặng cứu Tổ quốc, cứu giống nòi.
Ba là, quyết định phải xúc tiến ngay công tác khởi nghĩa vũ trang, coi đây là nhiệm vụ
trọng tâm của Đảng trong giai đoạn hiện tại. Để khởi nghĩa vũ trang đi đến thắng lợi cần
phải phát triển lực lượng cách mạng, tiến hành xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Hội nghị cũng chú trọng công tác đào tạo cán bộ, nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo
của Đảng, đẩy mạnh công tác vận động quần chúng.
Chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền
a) Phát động Cao trào kháng Nhật, cứu nước và đẩy mạnh khởi nghĩa từng phần
Phát động Cao trào kháng Nhật cứu nước:
Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới II đã đi vào giai đoạn kết thúc. Quân đồng minh
chuẩn bị tiến vào Đông Nam Á. Phát xít Nhật lâm vào tình trạng nguy khốn. Ngày 9-3-
1945, Nhật nổ súng lật đổ Pháp trên toàn cõi Đông Dương, Pháp chống cự rất yếu ớt và nhanh chóng đầu hàng.
Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị Nhật Pháp bắn nhau và hành
động của chúng ta. Nội dung:
- Chỉ thị đã nhận định: Nhật đảo chính Pháp sẽ tạo ra một cuộc khủng hoảng chính trị sâu
sắc, nhưng điều kiện khởi nghĩa chưa thực sự chín muồi, tuy nhiên nó sẽ làm cho những
điều kiện tổng khởi nghĩa mau chóng chín muồi.
- Xác định kẻ thù là Nhật, khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật”. Đồng thời chủ trương
phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đề cho khởi nghĩa.
- Phương châm đấu tranh: phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa - Dự báo thời cơ:
+ Quân Đồng minh vào Đông Dương đánh Nhật, quân Nhật kéo ra mặt trận ngăn cản
quân Đồng minh để phía sau sơ hở.
+ Cách mạng Nhật bùng nổ, chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật được thành lập
hoặc Nhật bị mất nước như Pháp năm 1940 và quân đội viễn chinh Nhật mất tinh thần.
Cao trào kháng Nhật cứu nước đã thu được những kết quả quan trọng, là tiền đề trực tiếp
đưa tới thắng lợi của tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8-1945.
Đẩy mạnh khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận:
- Từ giữa tháng 3-1945 trở đi, Cao trào kháng Nhật cứu nước đã diễn ra rất sôI nổi, mạnh
mẽ và phong phú về nội dung, hình thức.
- Tháng 3/1945 tù chính trị nhà giam Ba Tơ khởi nghĩa, đội du kích Ba Tơ ra đời. Đây là
lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên do Đảng tổ chức và lãnh đạo ở miền Trung.
- Để chỉ đạo phong trào, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ được triệu tập (5/1945) đã
quy định thống nhất các lực lượng vũ trang, phát triển lực lượng bán vũ trang. Đồng thời,
đẩy mạnh chiến tranh du kích, xây dựng 7 chiến khu trong cả nước: Trần Hưng Đạo, Lê
Lợi, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung ở Bắc Kỳ; Trưng Trắc, Phan Đình Phùng ở Trung
Kỳ; Nguyễn Tri Phương ở Nam Kỳ.
- Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh về Tân Trào, Tuyên Quang. Ngày 4/6/1945 theo chỉ thị của
Người “Khu giải phóng” được thành lập gồm Cao-Bắc-Lạng-Thái-Tuyên-Hà và một số
vùng phụ cận. Khu giải phóng trở thành căn cứ địa chính của cách mạng cả nước và là
hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới.
- Ở Đồng Bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, phong trào “phá kho thóc giải quyết nạn đói”
đã lôi cuốn hàng triệu quần chúng tham gia biến thành cuộc khởi nghĩa từng phần diễn ra
ở nhiều địa phương. Trong thời gian ngắn, Đảng đã động viên được hàng triệu quần
chúng tiến lên trận tuyến cách mạng.
b) Đảng phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước
- Điều kiện phát động tổng khởi nghĩa (thời cơ tổng khởi nghĩa) :
Chiến tranh thế giới II kết thúc, thắng lợi thuộc về phe Đồng minh, phát xít Đức đầu hàng
Đồng minh không điều kiện (9-5-1945), phát xít Nhật đi gần đến chỗ thất bại hoàn toàn,
chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim hoang mang cực độ. Tình thế cách mạng trực tiếp xuất hiện.
Quân đội các nước đế quốc với danh nghĩa đồng minh chuẩn bị vào Đông Dương tước vũ khí quân Nhật.
Vấn đề giành chính quyền được đặt ra như một cuộc chạy đua nước rút với quân Đồng minh.
- Ngày 13-8-1945 Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Tân Trào
quyết định tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước từ tay phát xít Nhật, trước
khi quân Đồng minh vào Đông Dương.
Hội nghị cũng quyết định những vấn đề quan trọng về chính sách đối nội, đối ngoại sau khi giành chính quyền.
- Ngày 16-8-1945, Đại hội Quốc dân họp tại Tân Trào, tán thành quyết định tổng khởi
nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương, lập Uỷ ban dân tộc giải phóng do Hồ chí Minh
làm Chủ tịch. Ngay sau Đại hội Quốc dân, Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào cả
nước: “giờ quyết định vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng lên
đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 20 triệu nhân dân ta đã nhất tề vũng dậy khởi nghĩa
giành chính quyền. Từ ngày 14-8: Giải phóng quân tiến công các đồn Nhật ở Cao Bằng,
Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái. Ngày 14 đến ngày 18: Giành chính
quyền ở Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Phúc Yên, Thanh Hoá, Thái Bình.
Ngày 19-8: Giành chính quyền ở Thủ đô Hà Nội. Ngày 23-8: Khởi nghĩa giành chính
quyền ở Huế. Ngày 25-8: Quân Nhật ở Sài Gòn thất thủ. Ngày 28-8: Ta giành chính
quyền trong cả nước. Uỷ ban dân tộc giải phóng tuyên bố tự cải tổ thành Chính phủ Lâm
thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Chỉ trong vòng 15 ngày (14 đến 28-8) cuộc Tổng
khởi nghĩa đã thành công trên cả nước, chính quyền về tay nhân dân.
Ngày 30-8: vua Bảo Đại thoái vị và giao nộp ấn, kiếm, áo bào cho đại diện Chính phủ
Lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Ngày 2-9: Tại quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời đọc
Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Câu 9
Ở Đông Dương, đế quốc Pháp điên cuồng chống phá Đảng Cộng sản, chúng thực hiện
chính sách kinh tế thời chiến, đồng thời tiến hành bắt người, cướp của, khủng bố, tổng
động viên… làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân Đông Dương với thực dân Pháp ngày càng gay gắt.
Trước những chuyển biến của tình hình, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Đông Dương liên tiếp mở các hội nghị để hoạch định chủ trương, nhiệm vụ, chuyển
hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, đặt “nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu”.
Chủ trương này của Đảng tập trung ở 03 hội nghị lần thứ sáu, lần thứ bảy và lần thứ tám
của Ban chấp hành Trung ương.
- Hội nghị BCHTW 6 được tiến hành từ ngày 06 đến 08/11/1939 tại Bà Điểm, Gia Định
do đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư BCHTW Đảng chủ trì (Tham dự có các đồng
chí: Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Võ văn Tần) hội nghị đánh dấu sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược;
Hội nghị quyết định: Giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Đông
Dương; Hội nghị quyết định thay đổi một số khẩu hiệu, chuyển hướng hình thức đấu tranh:
Tạm gác khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của địa chủ mà chủ trương tịch thu ruộng đất của
đế quốc và tay sai; Không nêu khẩu hiệu thành lập chính phủ Xô viết công nông binh mà
đề ra khẩu hiệu lập Chính phủ Liên bang cộng hoà dân chủ Đông Dương;
Hội nghị quyết định: Thành lập Mặt trận thống nhất phản đế Đông Dương, thay thế cho
Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương.
- Hội nghị BCHTW 7: Tháng 11/1940 tại Đình Bảng, Bắc Ninh, có Đ/c Hoàng Văn Thụ,
Hoàng Quốc Việt, Phan Đăng Lưu, Trần Đăng Ninh tham dự
Hội nghi nhận định cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy, Đảng phải chuẩn bị giành
lấy sứ mệnh thiêng liêng cao cả là lãnh đạo cách mạng võ trang giành chính quyền; Hội
nghị xác định kẻ thù chính của cách mạng Đông Dương lúc này là phát xít Nhật - Pháp;
Hội nghị quyết định duy trì cuộc khởi nghĩa Bắc sơn, xúc tiến xây dựng căn cứ cách
mạng; Hội nghị cử ra BCHTW lâm thời do đồng chí Trường Chinh làm quyền Tổng Bí
thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.
- Hội nghị BCHTW 8: Tháng 5/1941, tại Pắc Pó, Cao Bằng do đồng chí Nguyễn Ái Quốc
trực tiếp chủ trì, tham dự có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc
Việt, Phùng Chí Kiên và một số đồng chí đại biểu của xứ uỷ Bắc kỳ, Trung kỳ, đại biểu
của tổ chức Đảng ta ở nước ngoài;
Hội nghị phát triển, hoàn chỉnh đường lối cách mạng của nghị quyết BCHTW6, 7 và
khẳng định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, cấp bách của cách mạng Việt Nam;
Hội nghị chủ trương không giữ khẩu hiệu thành lập Chính phủ Liên bang cộng hoà dân
chủ Đông Dương như trước đây mà giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng
nước. Hội nghị chỉ rõ: Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền là nhiệm vụ trọng
tâm của Đảng và nhân ta trong giai đoạn hiện tại. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận
Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh)
Hội nghị quyết định những vấn đề quan trọng về tư tưởng chỉ đạo chiến lược như: Mối
quan hệ giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp; giữa nhiệm vụ chống đế quốc và
phong kiến; về sách lược tập hợp lực lượng cách mạng; tư tưởng giải quyết vấn đề dân
tộc theo khuôn khổ mỗi nước…Hội nghị cử ra Ban Chấp hành Trung ương, bầu đồng chí
Trường Chinh làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng; bầu Ban Thường vụ
gồm các đồng chí Trường chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt.
Sau 03 hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, Đảng khẩn trương chuẩn bị mọi mặt về
chính trị, tư tưởng và tổ chức để khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng tháng 8/1945. Câu 10: a. Tính chất
Muốn xác định tính chất của một cuộc cách mạng người ta phải căn cứ vào thời gian nó
nổ ra, nhiệm vụ nó phải làm, mục tiêu cần đạt, vai trò lãnh đạo, động lực tham gia; cuối
cùng còn phải căn cứ vào kết quả nó đạt được trên thực tế. Từ lý luận soi vào ta thấy
Cách mạng tháng Tám trước hết chỉ là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Song vì giải
phóng dân tộc là một nhiệm vụ cơ bản nhất của một trong hai nhiệm vụ cơ bản của một
cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, mà nếu hoàn thành được nhiệm vụ này tất yếu
sẽ mở đường đi đến hoàn thành nhiệm vụ tiếp theo. Vì thế, chúng ta có thể nói Cách
mạng tháng Tám là một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
b. Ý nghĩa lịch sử:
- Đối với trong nước:
+ Đưa nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, dân
chủ cộng hòa, đưa dân ta từ người nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, đưa Đảng ta từ
một Đảng bất hợp pháp trở thành một Đảng cầm quyền trong cả nước. + Mở ra một kỷ
nguyên mới cho dân tộc ta - kỷ nguyên độc lập tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội, ghi
thêm một trang oanh liệt nữa vào truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm anh hùng bất khuất của dân tộc ta.
+ Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám tuy chỉ là bước đầu nhưng đã có ý nghĩa quyết
định đối với toàn bộ tiến trình phát triển về sau của lịch sử dân tộc. - Đối với thế giới:
+ Sự kiện này đã đưa nước ta bước vào hàng ngũ các nước dân chủ nhân dân và chủ
nghĩa xã hội trên thế giới, sánh vai với các cường quốc trên toàn cầu.
+ Đây cũng là tháng lợi (lớn, chung) của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Vì
thế nó có sức cổ vũ rất lớn lao đối với nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, nhất là
các nước thuộc địa Pháp, đang nổi dậy đấu tranh giải phóng cho mình.
+ Thắng lợi này đã góp phần làm suy yếu chủ nghĩa đế quốc, nhất là đế quốc Pháp ở
Đông Dương. Vì thế nó cũng góp phần lớn vào việc củng cố hòa bình ở khu vực Đông
Nam Á nói riêng và trên toàn thế giới nói chung.
Đúng như Hồ Chủ tịch đã nhận xét: Nói đến Cách mạng tháng Tám thì chẳng những
nhân dân ta có quyền tự hào mà nhân dân các dân tộc bị áp bức trên thế giới cũng có
quyền tự hào vì lần này là lần đầu tiên trên thế giới một dân tộc thuộc địa nhỏ yếu đã tự
mình đứng lên đánh đuổi được ách thống trị của bọn đế quốc để giải phóng cho mình.
c. Bài học kinh nghiệm:
+ Biết kết hợp giải quyết một cách đúng đắn mối quan hệ giữa phản đế và phản phong.
+ Biết tập hợp mọi lực lượng yêu nước của dân tộc để xây dựng một Mặt trận dân tộc
thống nhất, lấy liên minh công nông làm nền tảng.
Biết kiên quyết đi theo con đường cách mạng bạo lực của quần chúng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin.
+ Biết kết hợp chuẩn bị lâu dài với việc chớp thời cơ.