Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Họ và tên: Nguyễn Tuấn Anh
Lớp: AUM39C TCNH
Môn: Triết học
Giáo viên: TS Phí Thị Lan Phương
ĐỀ 2
Nội dung và cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện; liên hệ với thực tế đổi mới
kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
MỤC LỤC
LỜI NÓI
ĐẦU...........................................................................................1
NỘI
DUNG................................................................................................
2
A. NỘI DUNG & CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM
TOÀN DIỆN 1. Nội dung của quan điểm toàn diện.........................2
TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
2. Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện............................................3
B. LIÊN HỆ THỰC TẾ ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Công cuộc đổi mới nền kinh tế...................................4
2. Kinh tế Việt Nam hiện nay................................................................6
KẾT
LUẬN................................................................................................
8
TÀI LIỆU THAM
KHẢO........................................................................9
1
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự đi lên
của bất cứ hình thái kinh tế nào. Những vấn đề triết học về lý luận
nhận thức và thực tiễn, phương pháp biện chứng,... luôn là cơ sở,
là phương hướng, là nguyên tắc cho vận hành thực tế, xây dựng
và phát triển xã hội. Nếu xuất phát từ một lập trường triết học
đúng đắn, con người có thể có được những cách giải quyết phù
hợp với các vấn đề do cuộc sống đặt ra. Việc chấp nhận hay
không chấp nhận một lập trường triết học nào đó sẽ không chỉ
đơn thuần là sự chấp nhận một thế giới quan nhất định, một cách
lý giải nhất định về thế giới, mà còn là sự chấp nhận một cơ sở
phương pháp luận nhất định chỉ đạo cho hoạt động.
Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành
của chủ nghĩa Mác - Lênin. Cho đến nay, chỉ có triết học Mác -
Lênin và phép biện chứng duy vật là mang tính ưu việt hơn cả.
Đặc biệt, phép biện chứng duy vật được cho là “chìa khóa” của
chủ nghĩa triết học Mác Lênin. Và quan điểm toàn diện chính là
một trong 3 nguyên tắc phương pháp luận cơ bản và rất quan
trọng của phép biện chứng duy vật.
Trong bối cảnh đổi mới nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường định nghĩa xã hội
chủ nghĩa, mở cửa hội nhập quốc tế đem theo nhiều thách thức
cũng như cơ hội mới của đất nước Việt Nam hiện tại, quan điểm
toàn diện được xem là một công cụ định hướng toàn diện tránh
được những đánh giá khách quan, phiến diện, sai lệch về các sự
vật hiện tượng để mở đường dẫn lối cho đất nước ngày một đổi
mới và phát triển hơn bao giờ hết.
Vì thế trong bài tập này, em đã quyết định lựa chọn đề bài 2:
“Nội dung và cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện; liên
hệ với thực tế đổi mới kinh tế ở Việt Nam hiện nay.”
Bài làm còn nhiều thiếu sót, rất mong có được sự đóng góp ý kiến
khoa học của các thầy/cô giáo để cho bài viết này được hoàn
thiện hơn.
2
Kính chúc thầy/cô giáo luôn mạnh khỏe, thành công, hạnh phúc
và công tác tốt.
Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
A. NỘI DUNG & CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN .
1. Nội dung của quan điểm toàn diện.
Quan điểm toàn diện là quan điểm đánh giá, xem xét sự vật với
tất cả các mối liên hệ mà sự vật có nhưng phải tìm ra được mối
liên hệ nào là cơ bản, quy định sự tồn tại, vận động của sự vật. Từ
đó để có cách nhìn nhận đánh giá đúng bản chất, đúng trọng tâm
của sự vật mà không dàn trải. Quan điểm này là một trong những
nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của triết học Mác - Lênin,
giúp con người khắc phục được bệnh phiến diện, chủ nghĩa chiết
trung và thuật ngụy biện trong nhận thức và cải tạo thực tiễn.
Khi chúng ta phân tích bất cứ một đối tượng nào, việc thực hiện
xác định tiêu chí là cần thiết. Trong xác định những mục tiêu cần
xác định trên đối tượng. Mục tiêu đặt ra càng nhiều thì các tính
chất cần đánh giá càng lớn. Từ đó mà người tiến hành có những
hiểu biết đối với bản chất của đối tượng. Khi nhìn nhận trên khía
cạnh nào, họ cũng có thể cho ra những đánh giá. Tính chất toàn
diện được phản ánh.
Chúng ta cần vận dụng lý thuyết một cách hệ thống, khi thực hiện
trên các đối tượng khác nhau. Tùy thuộc vào đối tượng và tính
chất của nó mà cách tiếp cận trên những phương diện cụ thể.
Cũng như sự áp dụng linh hoạt, sáng tạo và không rập khuôn.
Phải biết điều chỉnh các mức độ và yếu tố tác động hợp lý để tìm
kiếm hiệu quả tốt nhất. Tức là: xem xét nó được cấu thành nên từ
những yếu tố, những bộ phận nào với những mối quan hệ ràng
buộc và tương tác ra sao. Thực hiện các phân tích để hiểu rõ về cơ
chế hay những mối liên hệ giữa những kết quả phản ánh. Từ đó có
thể phát hiện ra thuộc tính chung của hệ thống vốn không có ở
mỗi yếu tố.
3
Mặt khác khi nhìn nhận toàn diện, phải xem xét cả mối quan hệ
của sự vật với các yếu tố xung quanh. Trong tính chất tác động
hay ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố. Điều này cũng làm cho
hướng tiếp cận được thể hiện hiệu quả hơn khi đánh giá toàn diện
các phản ánh từ sự vật. Xem xét sự vật ấy trong tính mở của nó,
trong mối quan hệ với các hệ thống khác. Hay trong mối quan hệ
với các yếu tố tạo thành môi trường vận động, phát triển của nó...
Tạo ra sự toàn diện từ nhìn nhận bên trong đến các tác động bên
ngoài.
Như vậy, trong hoạt động nhận thức, thực tiễn cần thiết thực hiện
các nhận thức toàn diện. Nó vừa mang đến những hiểu biết rõ bản
chất của đối tượng, vừa hạn chế được cái nhìn hay tác động phiến
diện có thể gây ra trên sự vật. Cần thiết thực hiện việc quan sát
và tìm hiểu tổng thể trong phản ánh của đối tượng. Mang đến
những hình dung và xâu chuỗi cho các đặc tính tồn tại bên trong
sản phẩm. Cũng như thực hiện với quan sát các mối quan hệ hay
tác động bên ngoài của nó qua lại với những nhân tố khác. Việc
thực hiện nhìn nhận và đưa ra quan điểm hiệu quả giúp cho các
yêu cầu trong mục tiêu phân tích được phản ánh.
Theo quan điểm toàn diện, con người cần nhận thức sự vật qua
mối quan hệ qua lại. Chỉ có như vậy mới mang đến những phản
ánh cho hiểu biết về sự vật. Tính nhiều chiều và phân tích càng cụ
thể, có thể mang đến những nhìn nhận đầy đủ và hiệu quả nhất.
Việc am hiểu về đối tượng mới mang đến các tính toán và tác
động hiệu quả lên đối tượng đó.
2. Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện.
Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến. Các sự vật, hiện tượng có mối liên hệ rất đa dạng và
phong phú: có mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bên ngoài; có
những mối liên hệ chung của toàn bộ thế giới hoặc trong những
lĩnh vực rộng lớn của thế giới lại có những mối liên hệ riêng từng
lĩnh vực, từng sự vật, từng hiện tượng riêng biệt; có mối liên hệ
trực tiếp giữa hai hoặc nhiều sự vật, hiện tượng với nhau, và có
những mối liên hệ gián tiếp, trong đó các sự vật, hiện tượng liên
hệ, tác động qua lại lẫn nhau thông qua một hay nhiều khâu trung
4
gian mới phát huy được tác dụng; có mối liên hệ tất nhiên, ngẫu
nhiên; mối liên hệ cơ bản, thuộc về bản chất của sự vật, đóng vai
trò quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật, cũng có những
mối liên hệ không cơ bản, chỉ đóng vai trò hỗ trợ, bổ sung cho sự
tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng. Các mối liên hệ này
tồn tại phổ biến trong tự nhiên, trong xã hội loài người cũng như
trong ý thức của con người.
Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế
giới. Bởi lẽ, bản chất của thế giới là vật chất. Vật chất có thuộc
tính chung nhất là tồn tại khách quan. Các sự vật trong thế giới đa
dạng đến đâu thì cũng chỉ là những hình thức tồn tại cụ thể của
vật chất, chúng đều chịu sự chi phối của quy luật vật chất, nên
chúng có liên hệ chặt chẽ với nhau.
Quan điểm này được thể hiện từ cơ sở phương pháp luận khoa học
của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Với các tính chất thể hiện
trong tính khách quan, tính phổ biến và tính phong phú, đa dạng
của các mối liên hệ và sự phát triển của tất cả các sự vật, hiện
tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Sự tác động lẫn nhau này
giúp cách sự vật được phản ánh với tính chất đa dạng trong thực
tế. Một sự vật được nhìn nhận theo các yếu tố tác động và những
tác động nên yếu tố khác.
B. LIÊN HỆ THỰC TẾ ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY. 1. Công cuộc đổi mới nền kinh tế.
Nền kinh tế tập trung đã đem lại hiệu quả nhất định trong thời
chiến. Tuy nhiên ngay sau khi đất nước được thống nhất, việc áp
dụng mô hình kinh tế này đã đem lại những hệ quả tiêu cực nhất
định cho đất nước: lãng phí tài nguyên thiên nhiên, hao phí lao
động, ô nhiễm môi trường,... Điều này ảnh hưởng nặng nề đến đời
sống nhân dân, kìm hãm sự phát triển kinh tế, ngân sách thâm
hụt, lạm phát đạt mức cao,... Đứng trước những đòi hỏi bức xúc
của cuộc sống, với xu thế phát triển của thời đại, lại chịu ảnh
hưởng của các nước trong khu vực và trên thế giới, Đảng và Nhà
nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp khắc phục tuy
không kiềm chế nổi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày
5
càng trầm trọng, song đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới tư
duy của Đảng và xã hội để đi tới công cuộc đổi mới toàn diện và
sâu sắc, được mở đầu bằng Đại hội VI của Đảng năm 1986 - Đại
hội của đổi mới.
Đổi mới kinh tế ở Việt Nam được thực hiện từ năm 1986, và đã áp
dụng quan điểm toàn diện của Phép biện chứng duy vật khi thực
hiện đường lối kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để
phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất. Nhưng sau chiến
tranh kết thúc, Việt Nam vẫn là một nước nghèo nàn, lạc hậu, thế
nên ngoài việc chuyển đổi mô hình kinh tế, Đảng và Nhà nước còn
kết hợp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Tuy nhiên, cuối thập niên 80 thế kỉ XX, toàn bộ hệ thống xã hội
chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng toàn diện và sâu sắc, công cuộc
cải tổ không thành công dẫn tới sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô
và Đông Âu là bài học phản diện cho Việt Nam về những kinh
nghiệm không thể cải tổ theo kiểu “phủ định sạch trơn”, giải
quyết không biện chứng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Sự
tác động của những biến đổi của tình hình thế giới đòi hỏi chúng
ta phải suy nghĩ, phải có cách nhìn nhận đúng đắn, khách quan
khoa học trên cả phương diện lí luận và thực tiễn.
Khi ta xem xét về sự tiến bộ xã hội chúng ta phải có quan điểm
toàn diện. Nghĩa là, phải xem xét tiến bộ xã hội trong chỉnh thể
của nó. Đó là nhóm các tiêu chuẩn về kinh tế, chính trị, xã hội và
các tiêu chuẩn dựa trên chỉ số phát triển con người. Đảng ta chủ
trương: “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công
bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển... Tăng trưởng kinh
tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục”1.
Bên cạnh đó, trong chủ trương đổi mới toàn diện đất nước được
thông qua ở Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986),
Đảng ta xác định đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế phải
được coi là “bước đột phá”, là trọng tâm của toàn bộ sự nghiệp
đổi mới. Nghị quyết khẳng định: “Để tăng cường sức chiến đấu và
năng lực tổ chức thực tiễn của mình, Đảng phải đổi mới về nhiều
mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức;
đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công
6
tác”2. Nhờ xác định đúng khâu đột phá và trọng tâm, trọng điểm
trong đổi mới, nhờ có hình thức và bước đi phù hợp, Đảng ta đã
lãnh đạo nhân dân ta vượt qua khó khăn, thử thách, tiếp tục đưa
sự nghiệp đổi mới phát triển không ngừng.
Quan điểm toàn diện luôn được áp dụng xuyên suốt trong quá
trình đổi mới, phát triển đất nước. Đối với định hướng phát triển
đất nước giai đoạn 2021-¿2030, Đảng xác định: “Hoàn thiện toàn
diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ
và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy đầu tư, sản xuất
kinh doanh”3.
Ở Việt Nam, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
đem lại sự đa dạng các hình thức sở hữu và đa dạng các thành
phần kinh tế, trong đó khu vực kinh tế nhà nước vẫn còn giữ vai
trò chủ đạo, đất đai thuộc về nhân dân. Nhà nước vẫn thừa nhận
vai trò tích cực của các thành phần kinh tế khác cũng như thừa
nhận sự tồn tại của hình thức sở hữu tư nhân, sàng lọc, lựa chọn
và giữ nguyên các tập đoàn quốc doanh kinh doanh có hiệu quả
đồng thời xóa bỏ các tập đoàn, doanh nghiệp quốc doanh làm ăn
kém hiệu quả gây hệ lụy xấu cho toàn bộ nền kinh tế. Quan điểm
toàn diện còn được Đảng ta nhận thức và quán triệt ngay trong
chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng cũng vừa vận
hành theo cơ chế thị trường. Ở đây, kết quả lao động, hiệu quả
kinh tế chi phối các hoạt động kinh tế.
Về mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam: Theo
chủ nghĩa Mác – Lênin, sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và
phát triển kinh tế, xã hội. Vì vậy, qua sự đổi mới kinh tế, Đảng và
Nhà nước đang cố gắng hết sức để có thể phát triển lực lượng sản
xuất của nước nhà theo cả số lượng và chất lượng để từ đó mang
lại một năng suất cao nhất giúp kinh tế phát triển. Sau đó là nâng
cao chất lượng cơ sở vật chất – kỹ thuật và nâng cao đời sống
nhân dân.
Có thể khẳng định đây là sự vận động và quán triệt quan điểm
toàn diện trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới và đem lại những
7
thắng lợi to lớn cho sự nghiệp đổi mới nền kinh tế Việt Nam hiện
đại.
2. Kinh tế Việt Nam hiện nay.
Trong suốt quá trình chuyển mình từ một nền kinh tế lạc hậu, bao
cấp sang nền kinh tế thị trường hiện đại định hướng xã hội chủ
nghĩa, Việt Nam đã vươn lên thành một điểm sáng tăng trưởng
trong khu vực và trên thế giới với nhiều thành tựu đáng ghi nhận.
Nền kinh tế không chỉ tăng trưởng về quy mô mà chất lượng tăng
trưởng cũng được cải thiện, đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân được cải thiện đáng kể.
Việt Nam chính là một câu chuyện phát triển thành công. Những
cải cách kinh tế từ năm 1986 kết hợp với những xu hướng toàn
cầu thuận lợi đã nhanh chóng giúp Việt Nam phát triển từ một
trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia
thu nhập trung bình thấp chỉ trong vòng một thế hệ. Từ năm 2002
đến 2020, GDP đầu người tăng 3,6 lần, đạt gần 3.700 USD. Tỉ lệ
nghèo (theo chuẩn 3,65 USD/ngày, theo PPP năm 2017) giảm từ
hơn 14% năm 2010 xuống còn 3,8% năm 2020.
Nhờ có nền tảng vững chắc, nền kinh tế Việt Nam đã thể hiện sức
chống chịu đáng kể trong những giai đoạn khủng hoảng, mới đây
là đại dịch COVID-19. Tăng trưởng GDP giảm 2,6% vào năm 2021
do sự xuất hiện của biến thể Delta của virus Sars-CoV-2 và dự
kiến sẽ phục hồi lên 7,2% vào năm 2022 và 6,7% vào năm 2023.
Với tỉ lệ tăng trưởng ở mức 2,5% đến 3,5% mỗi năm trong suốt 30
năm qua, ngành nông nghiệp đã hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và
đảm bảo an ninh lương thực. Năm 2020 nông nghiệp đóng góp
14% cho GDP và 38% việc làm, năm 2021 xuất khẩu đạt hơn 48
tỷ USD giữa thời điểm đại dịch COVID-19.
Kinh tế vĩ mô cơ bản được giữ ổn định, các thị trường vận hành
thông suốt tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp tập trung
sản xuất, kinh doanh. Tỷ lệ lạm phát dần được kiểm soát từ mức
ba chữ số những năm đầu của thời kỳ đổi mới xuống mức mục
tiêu 4% trong suốt giai đoạn 2016 - 2020.
8
Nguồn nhân lực có kỹ năng, được đào tạo bài bản, có khả năng
ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, kinh doanh được chú trọng
phát triển, tạo tiềm lực phát triển kinh tế hiện đại trên nền tảng
khoa học - công nghệ. Hệ thống hạ tầng quốc gia được tập trung
nguồn lực xây dựng một cách đồng bộ, hiện đại, nhất là hạ tầng
giao thông và hạ tầng đô thị lớn. Bộ máy Chính phủ thực hiện tốt
vai trò Chính phủ kiến tạo, nỗ lực xóa bỏ nhiều thủ tục hành chính
rườm rà, tạo ra môi trường kinh doanh, đầu tư thuận lợi để tập
trung, chuyển hóa nguồn lực từ tất cả các thành phần kinh tế vào
phát triển kinh tế - xã hội.
Nền kinh tế thị trường ở nước ta đã trở nên hiện đại, hội nhập
quốc tế và đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là nền kinh
tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần; có sự phát triển
đầy đủ, đồng bộ các loại thị trường, thị trường trong nước gắn kết
với thị trường quốc tế. Thị trường đã phát huy vai trò trong việc
xác định giá cả, phân bổ nguồn lực, điều tiết sản xuất và lưu
thông hàng hóa; nền kinh tế đã vận hành theo các quy luật của
một nền kinh tế thị trường.
Đồng thời, Nhà nước đã ngày một xây dựng và hoàn thiện thể
chế. tạo khung khổ pháp luật, môi trường ổn định, thuận lợi cho
kinh tế phát triển, vừa sử dụng triệt để các nguồn lực trong nước,
vừa biết tận dụng cơ hội phát triển và sự giúp đỡ từ các nước
trong khu vực cũng như quốc tế, hướng đến mục tiêu “Dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Thế nhưng, cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn thừa nhận
rằng chưa có nhận thức rõ ràng, cụ thể và đầy đủ về thế nào là
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa do mô hình
này hoàn toàn mới, chưa từng có tiền lệ trong lịch sử. Đến năm
2017, sau những nỗ lực đàm phán các Hiệp định thương mại tự do
(FTA) song phương với quốc tế, đã có 69 nước công nhận Việt
Nam là một nền kinh tế thị trường, tuy nhiên Hoa Kỳ (đối tác
thương mại lớn thứ 2) thì vẫn chưa công nhận kinh tế Việt Nam là
một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh.
Tuy nhiên, từ thực tiễn đến lý luận chúng ta vẫn có thể khẳng
định được mô hình kinh tế thị trường là mô hình hiện đại, phù hợp
9
với định hướng phát triển đất nước trong thời điểm hiện tại, theo
kịp xu thế hội nhập toàn cầu. Hơn nữa, sự kiên định đổi mới, hội
nhập và phát triển trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với đất nước và chế
độ ta. Mối quan hệ giữa đổi mới, hội nhập và phát triển phản ánh
quy luật mang tính biện chứng, là một trong những vấn đề lý luận
cốt lõi về đường lối đổi mới ở nước ta, phản ánh mục tiêu, điều
kiện, phương thức để tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh và
bền vững.
KẾT LUẬN
Việt Nam đã học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm từ quốc tế kèm
với đó là vận dụng thành công quan điểm toàn diện của chủ nghĩa
Mác Lênin. Quan điểm toàn diện đóng vai trò như “chìa khoá
vàng” trong công cuộc đổi mới nền kinh tế và đưa kinh tế nước
nhà phát triển đến đỉnh cao. Quan điểm toàn diện giúp Đảng và
Nhà nước cũng như các doanh nghiệp nhìn nhận nền kinh tế một
cách khách quan về mọi mối liên hệ xung quanh nó cũng như các
mặt bên trong nền kinh tế Việt Nam. Từ đó có thể giúp Nhà nước
và doanh nghiệp tránh được những cái nhìn sai lệch, phiến diện,
đem lại nhiều rủi ro và tổn thất cho kinh tế nước nhà.
Tình hình kinh tế Việt Nam những năm gần đây cũng chứng minh
được, quan điểm toàn diện có vai trò quan trọng trong tư tưởng
suy nghĩ của mỗi cá nhân cũng như một tập thể. Vì vậy, ở trong
mọi lĩnh vực của đời sống, cuộc sống hằng ngày tất cả chúng ta
đều cần tôn trọng, đề cao quan điểm toàn diện để có thể đem lại
lợi ích cho chính bản thân mình cũng như một cộng đồng.
Qua thực tiễn lãnh đạo của Đảng ta hơn 90 năm qua, đã chứng
minh tính cách mạng, khoa học, sức sống mãnh liệt, giá trị bền
vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự
nghiệp xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.
Chúng ta rất tự hào rằng:
Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín
quốc tế như ngày nay.”4
TÀI LIỆU THAM KHẢO
10
1. 1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần
thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2001, tr.88.
2. 2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kì đổi
mới.
Nxb. Chính trị quốc gia, H.2005, tr.133. 3 Đảng Cộng sản Việt
Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr 114.
4. 4 Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng: Diễn văn kỷ
niệm 90
năm Ngày thành lập Đảng. Báo Nhân Dân ngày 4-2-2020, tr.2.
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019), Giáo trình Triết học Mác - Lênin
(Sử
dụng trong các trường đại học không chuyên lý luận chính trị).
6. Luật Dương Gia - https://luatduonggia.vn/quan-diem-toan-
diencuachu-nghia-mac-le-nin-va-van-dung-quan-diem-toan-dien-
de-danhgia-coche-kinh-te-ke-hoach-hoa-tap-trung/
7. Wikipedia -Kinh tế Việt Nam https://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_t
%E1%BA%BF_Vi%E1%BB%87t_Nam#:~:text=Kinh%20t%E1%BA
%BF%20Vi%E1%BB%87t%20Nam%20l%C3%A0,h
%C6%B0%E1%BB%9Bng%20x%C3%A3%20h%E1%BB%99i%20ch
%E1%BB%A7%20ngh%C4%A9a.
8. World bank - Tổng quan về Việt Nam
https://www.worldbank.org/vi/country/vietnam/overview#1
9. Tạp chí cộng sản -
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinhte/-
/2018/823673/mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-ve-nen-kinh-
tethitruong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-o-viet-nam.aspx
11
10. Trường chính trị Lê Duẩn
http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/
Nghiencuutrao-doi/quan-diem-toan-dien-voi-dinh-huong-phat-
trien-dat-nuocgiaidoan-2021-2030-349.html
11. Cổng TTĐT Bộ tài chính
https://mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiet-tin?
dDocName=MOFUCM194860
12

Preview text:

Đại học Kinh Tế Quốc Dân

Họ và tên: Nguyễn Tuấn Anh

Lớp: AUM39C TCNH

Môn: Triết học

Giáo viên: TS Phí Thị Lan Phương

ĐỀ 2

⃰Nội dung và cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện; liên hệ với thực tế đổi mới kinh tế ở Việt Nam hiện nay.

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU...........................................................................................1

NỘI DUNG................................................................................................2

A. NỘI DUNG & CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM

TOÀN DIỆN 1. Nội dung của quan điểm toàn diện.........................2

TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

2. Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện............................................3

B. LIÊN HỆ THỰC TẾ ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Công cuộc đổi mới nền kinh tế...................................4

2. Kinh tế Việt Nam hiện nay................................................................6

KẾT LUẬN................................................................................................8

TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................9

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự đi lên của bất cứ hình thái kinh tế nào. Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và thực tiễn, phương pháp biện chứng,... luôn là cơ sở, là phương hướng, là nguyên tắc cho vận hành thực tế, xây dựng và phát triển xã hội. Nếu xuất phát từ một lập trường triết học đúng đắn, con người có thể có được những cách giải quyết phù hợp với các vấn đề do cuộc sống đặt ra. Việc chấp nhận hay không chấp nhận một lập trường triết học nào đó sẽ không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận một thế giới quan nhất định, một cách lý giải nhất định về thế giới, mà còn là sự chấp nhận một cơ sở phương pháp luận nhất định chỉ đạo cho hoạt động.

Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác - Lênin. Cho đến nay, chỉ có triết học Mác - Lênin và phép biện chứng duy vật là mang tính ưu việt hơn cả. Đặc biệt, phép biện chứng duy vật được cho là “chìa khóa” của chủ nghĩa triết học Mác Lênin. Và quan điểm toàn diện chính là một trong 3 nguyên tắc phương pháp luận cơ bản và rất quan trọng của phép biện chứng duy vật.

Trong bối cảnh đổi mới nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường định nghĩa xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập quốc tế đem theo nhiều thách thức cũng như cơ hội mới của đất nước Việt Nam hiện tại, quan điểm toàn diện được xem là một công cụ định hướng toàn diện tránh được những đánh giá khách quan, phiến diện, sai lệch về các sự vật hiện tượng để mở đường dẫn lối cho đất nước ngày một đổi mới và phát triển hơn bao giờ hết.

Vì thế trong bài tập này, em đã quyết định lựa chọn đề bài 2: “Nội dung và cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện; liên hệ với thực tế đổi mới kinh tế ở Việt Nam hiện nay.”

Bài làm còn nhiều thiếu sót, rất mong có được sự đóng góp ý kiến khoa học của các thầy/cô giáo để cho bài viết này được hoàn thiện hơn.

Kính chúc thầy/cô giáo luôn mạnh khỏe, thành công, hạnh phúc và công tác tốt.

Em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG

A. NỘI DUNG & CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN .

1. Nội dung của quan điểm toàn diện.

Quan điểm toàn diện là quan điểm đánh giá, xem xét sự vật với tất cả các mối liên hệ mà sự vật có nhưng phải tìm ra được mối liên hệ nào là cơ bản, quy định sự tồn tại, vận động của sự vật. Từ đó để có cách nhìn nhận đánh giá đúng bản chất, đúng trọng tâm của sự vật mà không dàn trải. Quan điểm này là một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của triết học Mác - Lênin, giúp con người khắc phục được bệnh phiến diện, chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện trong nhận thức và cải tạo thực tiễn.

Khi chúng ta phân tích bất cứ một đối tượng nào, việc thực hiện xác định tiêu chí là cần thiết. Trong xác định những mục tiêu cần xác định trên đối tượng. Mục tiêu đặt ra càng nhiều thì các tính chất cần đánh giá càng lớn. Từ đó mà người tiến hành có những hiểu biết đối với bản chất của đối tượng. Khi nhìn nhận trên khía cạnh nào, họ cũng có thể cho ra những đánh giá. Tính chất toàn diện được phản ánh.

Chúng ta cần vận dụng lý thuyết một cách hệ thống, khi thực hiện trên các đối tượng khác nhau. Tùy thuộc vào đối tượng và tính chất của nó mà cách tiếp cận trên những phương diện cụ thể. Cũng như sự áp dụng linh hoạt, sáng tạo và không rập khuôn. Phải biết điều chỉnh các mức độ và yếu tố tác động hợp lý để tìm kiếm hiệu quả tốt nhất. Tức là: xem xét nó được cấu thành nên từ những yếu tố, những bộ phận nào với những mối quan hệ ràng buộc và tương tác ra sao. Thực hiện các phân tích để hiểu rõ về cơ chế hay những mối liên hệ giữa những kết quả phản ánh. Từ đó có thể phát hiện ra thuộc tính chung của hệ thống vốn không có ở mỗi yếu tố.

Mặt khác khi nhìn nhận toàn diện, phải xem xét cả mối quan hệ của sự vật với các yếu tố xung quanh. Trong tính chất tác động hay ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố. Điều này cũng làm cho hướng tiếp cận được thể hiện hiệu quả hơn khi đánh giá toàn diện các phản ánh từ sự vật. Xem xét sự vật ấy trong tính mở của nó, trong mối quan hệ với các hệ thống khác. Hay trong mối quan hệ với các yếu tố tạo thành môi trường vận động, phát triển của nó... Tạo ra sự toàn diện từ nhìn nhận bên trong đến các tác động bên ngoài.

Như vậy, trong hoạt động nhận thức, thực tiễn cần thiết thực hiện các nhận thức toàn diện. Nó vừa mang đến những hiểu biết rõ bản chất của đối tượng, vừa hạn chế được cái nhìn hay tác động phiến diện có thể gây ra trên sự vật. Cần thiết thực hiện việc quan sát và tìm hiểu tổng thể trong phản ánh của đối tượng. Mang đến những hình dung và xâu chuỗi cho các đặc tính tồn tại bên trong sản phẩm. Cũng như thực hiện với quan sát các mối quan hệ hay tác động bên ngoài của nó qua lại với những nhân tố khác. Việc thực hiện nhìn nhận và đưa ra quan điểm hiệu quả giúp cho các yêu cầu trong mục tiêu phân tích được phản ánh.

Theo quan điểm toàn diện, con người cần nhận thức sự vật qua mối quan hệ qua lại. Chỉ có như vậy mới mang đến những phản ánh cho hiểu biết về sự vật. Tính nhiều chiều và phân tích càng cụ thể, có thể mang đến những nhìn nhận đầy đủ và hiệu quả nhất. Việc am hiểu về đối tượng mới mang đến các tính toán và tác động hiệu quả lên đối tượng đó.

2. Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện.

Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Các sự vật, hiện tượng có mối liên hệ rất đa dạng và phong phú: có mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bên ngoài; có những mối liên hệ chung của toàn bộ thế giới hoặc trong những lĩnh vực rộng lớn của thế giới lại có những mối liên hệ riêng từng lĩnh vực, từng sự vật, từng hiện tượng riêng biệt; có mối liên hệ trực tiếp giữa hai hoặc nhiều sự vật, hiện tượng với nhau, và có những mối liên hệ gián tiếp, trong đó các sự vật, hiện tượng liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau thông qua một hay nhiều khâu trung gian mới phát huy được tác dụng; có mối liên hệ tất nhiên, ngẫu nhiên; mối liên hệ cơ bản, thuộc về bản chất của sự vật, đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật, cũng có những mối liên hệ không cơ bản, chỉ đóng vai trò hỗ trợ, bổ sung cho sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng. Các mối liên hệ này tồn tại phổ biến trong tự nhiên, trong xã hội loài người cũng như trong ý thức của con người.

Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới. Bởi lẽ, bản chất của thế giới là vật chất. Vật chất có thuộc tính chung nhất là tồn tại khách quan. Các sự vật trong thế giới đa dạng đến đâu thì cũng chỉ là những hình thức tồn tại cụ thể của vật chất, chúng đều chịu sự chi phối của quy luật vật chất, nên chúng có liên hệ chặt chẽ với nhau.

Quan điểm này được thể hiện từ cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Với các tính chất thể hiện trong tính khách quan, tính phổ biến và tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ và sự phát triển của tất cả các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Sự tác động lẫn nhau này giúp cách sự vật được phản ánh với tính chất đa dạng trong thực tế. Một sự vật được nhìn nhận theo các yếu tố tác động và những tác động nên yếu tố khác.

B. LIÊN HỆ THỰC TẾ ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN

NAY. 1. Công cuộc đổi mới nền kinh tế.

Nền kinh tế tập trung đã đem lại hiệu quả nhất định trong thời chiến. Tuy nhiên ngay sau khi đất nước được thống nhất, việc áp dụng mô hình kinh tế này đã đem lại những hệ quả tiêu cực nhất định cho đất nước: lãng phí tài nguyên thiên nhiên, hao phí lao động, ô nhiễm môi trường,... Điều này ảnh hưởng nặng nề đến đời sống nhân dân, kìm hãm sự phát triển kinh tế, ngân sách thâm hụt, lạm phát đạt mức cao,... Đứng trước những đòi hỏi bức xúc của cuộc sống, với xu thế phát triển của thời đại, lại chịu ảnh hưởng của các nước trong khu vực và trên thế giới, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp khắc phục tuy không kiềm chế nổi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày càng trầm trọng, song đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới tư duy của Đảng và xã hội để đi tới công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc, được mở đầu bằng Đại hội VI của Đảng năm 1986 - Đại hội của đổi mới.

Đổi mới kinh tế ở Việt Nam được thực hiện từ năm 1986, và đã áp dụng quan điểm toàn diện của Phép biện chứng duy vật khi thực hiện đường lối kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất. Nhưng sau chiến tranh kết thúc, Việt Nam vẫn là một nước nghèo nàn, lạc hậu, thế nên ngoài việc chuyển đổi mô hình kinh tế, Đảng và Nhà nước còn kết hợp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Tuy nhiên, cuối thập niên 80 thế kỉ XX, toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng toàn diện và sâu sắc, công cuộc cải tổ không thành công dẫn tới sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là bài học phản diện cho Việt Nam về những kinh nghiệm không thể cải tổ theo kiểu “phủ định sạch trơn”, giải quyết không biện chứng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Sự tác động của những biến đổi của tình hình thế giới đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ, phải có cách nhìn nhận đúng đắn, khách quan khoa học trên cả phương diện lí luận và thực tiễn.

Khi ta xem xét về sự tiến bộ xã hội chúng ta phải có quan điểm toàn diện. Nghĩa là, phải xem xét tiến bộ xã hội trong chỉnh thể của nó. Đó là nhóm các tiêu chuẩn về kinh tế, chính trị, xã hội và các tiêu chuẩn dựa trên chỉ số phát triển con người. Đảng ta chủ trương: “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển... Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục”1.

Bên cạnh đó, trong chủ trương đổi mới toàn diện đất nước được thông qua ở Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), Đảng ta xác định đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế phải được coi là “bước đột phá”, là trọng tâm của toàn bộ sự nghiệp đổi mới. Nghị quyết khẳng định: “Để tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn của mình, Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác”2. Nhờ xác định đúng khâu đột phá và trọng tâm, trọng điểm trong đổi mới, nhờ có hình thức và bước đi phù hợp, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua khó khăn, thử thách, tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới phát triển không ngừng.

Quan điểm toàn diện luôn được áp dụng xuyên suốt trong quá trình đổi mới, phát triển đất nước. Đối với định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-¿2030, Đảng xác định: “Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh”3.

Ở Việt Nam, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đem lại sự đa dạng các hình thức sở hữu và đa dạng các thành phần kinh tế, trong đó khu vực kinh tế nhà nước vẫn còn giữ vai trò chủ đạo, đất đai thuộc về nhân dân. Nhà nước vẫn thừa nhận vai trò tích cực của các thành phần kinh tế khác cũng như thừa nhận sự tồn tại của hình thức sở hữu tư nhân, sàng lọc, lựa chọn và giữ nguyên các tập đoàn quốc doanh kinh doanh có hiệu quả đồng thời xóa bỏ các tập đoàn, doanh nghiệp quốc doanh làm ăn kém hiệu quả gây hệ lụy xấu cho toàn bộ nền kinh tế. Quan điểm toàn diện còn được Đảng ta nhận thức và quán triệt ngay trong chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng cũng vừa vận hành theo cơ chế thị trường. Ở đây, kết quả lao động, hiệu quả kinh tế chi phối các hoạt động kinh tế.

Về mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam: Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội. Vì vậy, qua sự đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước đang cố gắng hết sức để có thể phát triển lực lượng sản xuất của nước nhà theo cả số lượng và chất lượng để từ đó mang lại một năng suất cao nhất giúp kinh tế phát triển. Sau đó là nâng cao chất lượng cơ sở vật chất – kỹ thuật và nâng cao đời sống nhân dân.

Có thể khẳng định đây là sự vận động và quán triệt quan điểm toàn diện trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới và đem lại những thắng lợi to lớn cho sự nghiệp đổi mới nền kinh tế Việt Nam hiện đại.

2. Kinh tế Việt Nam hiện nay.

Trong suốt quá trình chuyển mình từ một nền kinh tế lạc hậu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã vươn lên thành một điểm sáng tăng trưởng trong khu vực và trên thế giới với nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Nền kinh tế không chỉ tăng trưởng về quy mô mà chất lượng tăng trưởng cũng được cải thiện, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện đáng kể.

Việt Nam chính là một câu chuyện phát triển thành công. Những cải cách kinh tế từ năm 1986 kết hợp với những xu hướng toàn cầu thuận lợi đã nhanh chóng giúp Việt Nam phát triển từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp chỉ trong vòng một thế hệ. Từ năm 2002 đến 2020, GDP đầu người tăng 3,6 lần, đạt gần 3.700 USD. Tỉ lệ nghèo (theo chuẩn 3,65 USD/ngày, theo PPP năm 2017) giảm từ hơn 14% năm 2010 xuống còn 3,8% năm 2020.

Nhờ có nền tảng vững chắc, nền kinh tế Việt Nam đã thể hiện sức chống chịu đáng kể trong những giai đoạn khủng hoảng, mới đây là đại dịch COVID-19. Tăng trưởng GDP giảm 2,6% vào năm 2021 do sự xuất hiện của biến thể Delta của virus Sars-CoV-2 và dự kiến sẽ phục hồi lên 7,2% vào năm 2022 và 6,7% vào năm 2023.

Với tỉ lệ tăng trưởng ở mức 2,5% đến 3,5% mỗi năm trong suốt 30 năm qua, ngành nông nghiệp đã hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an ninh lương thực. Năm 2020 nông nghiệp đóng góp 14% cho GDP và 38% việc làm, năm 2021 xuất khẩu đạt hơn 48 tỷ USD giữa thời điểm đại dịch COVID-19.

Kinh tế vĩ mô cơ bản được giữ ổn định, các thị trường vận hành thông suốt tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp tập trung sản xuất, kinh doanh. Tỷ lệ lạm phát dần được kiểm soát từ mức ba chữ số những năm đầu của thời kỳ đổi mới xuống mức mục tiêu 4% trong suốt giai đoạn 2016 - 2020.

Nguồn nhân lực có kỹ năng, được đào tạo bài bản, có khả năng ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, kinh doanh được chú trọng phát triển, tạo tiềm lực phát triển kinh tế hiện đại trên nền tảng khoa học - công nghệ. Hệ thống hạ tầng quốc gia được tập trung nguồn lực xây dựng một cách đồng bộ, hiện đại, nhất là hạ tầng giao thông và hạ tầng đô thị lớn. Bộ máy Chính phủ thực hiện tốt vai trò Chính phủ kiến tạo, nỗ lực xóa bỏ nhiều thủ tục hành chính rườm rà, tạo ra môi trường kinh doanh, đầu tư thuận lợi để tập trung, chuyển hóa nguồn lực từ tất cả các thành phần kinh tế vào phát triển kinh tế - xã hội.

Nền kinh tế thị trường ở nước ta đã trở nên hiện đại, hội nhập quốc tế và đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần; có sự phát triển đầy đủ, đồng bộ các loại thị trường, thị trường trong nước gắn kết với thị trường quốc tế. Thị trường đã phát huy vai trò trong việc xác định giá cả, phân bổ nguồn lực, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa; nền kinh tế đã vận hành theo các quy luật của một nền kinh tế thị trường.

Đồng thời, Nhà nước đã ngày một xây dựng và hoàn thiện thể chế. tạo khung khổ pháp luật, môi trường ổn định, thuận lợi cho kinh tế phát triển, vừa sử dụng triệt để các nguồn lực trong nước, vừa biết tận dụng cơ hội phát triển và sự giúp đỡ từ các nước trong khu vực cũng như quốc tế, hướng đến mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thế nhưng, cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn thừa nhận rằng chưa có nhận thức rõ ràng, cụ thể và đầy đủ về thế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa do mô hình này hoàn toàn mới, chưa từng có tiền lệ trong lịch sử. Đến năm 2017, sau những nỗ lực đàm phán các Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương với quốc tế, đã có 69 nước công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường, tuy nhiên Hoa Kỳ (đối tác thương mại lớn thứ 2) thì vẫn chưa công nhận kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh.

Tuy nhiên, từ thực tiễn đến lý luận chúng ta vẫn có thể khẳng định được mô hình kinh tế thị trường là mô hình hiện đại, phù hợp với định hướng phát triển đất nước trong thời điểm hiện tại, theo kịp xu thế hội nhập toàn cầu. Hơn nữa, sự kiên định đổi mới, hội nhập và phát triển trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với đất nước và chế độ ta. Mối quan hệ giữa đổi mới, hội nhập và phát triển phản ánh quy luật mang tính biện chứng, là một trong những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới ở nước ta, phản ánh mục tiêu, điều kiện, phương thức để tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

KẾT LUẬN

Việt Nam đã học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm từ quốc tế kèm với đó là vận dụng thành công quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác Lênin. Quan điểm toàn diện đóng vai trò như “chìa khoá vàng” trong công cuộc đổi mới nền kinh tế và đưa kinh tế nước nhà phát triển đến đỉnh cao. Quan điểm toàn diện giúp Đảng và Nhà nước cũng như các doanh nghiệp nhìn nhận nền kinh tế một cách khách quan về mọi mối liên hệ xung quanh nó cũng như các mặt bên trong nền kinh tế Việt Nam. Từ đó có thể giúp Nhà nước và doanh nghiệp tránh được những cái nhìn sai lệch, phiến diện, đem lại nhiều rủi ro và tổn thất cho kinh tế nước nhà.

Tình hình kinh tế Việt Nam những năm gần đây cũng chứng minh được, quan điểm toàn diện có vai trò quan trọng trong tư tưởng suy nghĩ của mỗi cá nhân cũng như một tập thể. Vì vậy, ở trong mọi lĩnh vực của đời sống, cuộc sống hằng ngày tất cả chúng ta đều cần tôn trọng, đề cao quan điểm toàn diện để có thể đem lại lợi ích cho chính bản thân mình cũng như một cộng đồng.

Qua thực tiễn lãnh đạo của Đảng ta hơn 90 năm qua, đã chứng minh tính cách mạng, khoa học, sức sống mãnh liệt, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Chúng ta rất tự hào rằng:

“Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.”4

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. 1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2001, tr.88.

2. 2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kì đổi mới.

Nxb. Chính trị quốc gia, H.2005, tr.133. 3 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr 114.

4. 4 Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng: Diễn văn kỷ niệm 90

năm Ngày thành lập Đảng. Báo Nhân Dân ngày 4-2-2020, tr.2.

5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019), Giáo trình Triết học Mác - Lênin (Sử

dụng trong các trường đại học không chuyên lý luận chính trị).

6. Luật Dương Gia - https://luatduonggia.vn/quan-diem-toan-diencuachu-nghia-mac-le-nin-va-van-dung-quan-diem-toan-dien-de-danhgia-coche-kinh-te-ke-hoach-hoa-tap-trung/

7. Wikipedia -Kinh tế Việt Nam https://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_t

%E1%BA%BF_Vi%E1%BB%87t_Nam#:~:text=Kinh%20t%E1%BA

%BF%20Vi%E1%BB%87t%20Nam%20l%C3%A0,h

%C6%B0%E1%BB%9Bng%20x%C3%A3%20h%E1%BB%99i%20ch

%E1%BB%A7%20ngh%C4%A9a.

8. World bank - Tổng quan về Việt Nam

https://www.worldbank.org/vi/country/vietnam/overview#1

9. Tạp chí cộng sản -

https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinhte/-

/2018/823673/mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-ve-nen-kinh-tethitruong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-o-viet-nam.aspx

10. Trường chính trị Lê Duẩn

http://truongleduan.quangtri.gov.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghiencuutrao-doi/quan-diem-toan-dien-voi-dinh-huong-phat-trien-dat-nuocgiaidoan-2021-2030-349.html

11. Cổng TTĐT Bộ tài chính

https://mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiet-tin?

dDocName=MOFUCM194860