Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
Bài tập về nhà: Luật kinh doanh chiều t7
Câu 1: Nếu một bên vi phạm nhiều nghĩa vụ trong hợp đồng thương mại thì việc tính tiền
phạt và tiền bồi thường có cộng dồn không?
-Quá trình thực hiện hợp đồng thương mại có thể vi phạm một hay nhiều nghĩa vụ trong hợp
đồng thì bên vi phạm phải chịu hậu quả do chính hành vi của họ gây ra, hậu quả đó có thể được
quy định trong hợp đồng hoặc do pháp luật quy định
-Như vậy bên vi phạm phải thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng thương mại
Câu 2: Điểm khác nhau khi áp dụng phạt vi phạm hợp đồng với đòi bồi thường thiệt hại là gì?
- Tiêu chí: Bảo vệ quyền và lơi ích của các bên chủ Bồi thường thiệt hại thể
-tiêu chí : bảo vệ lợi ích của bên bị vi phạm
- Mục đích: là trách nhiệm pháp lý nhằm nâng cao
-Mục đích: nhằm bù đắp những lợi ích vật chất bị
ý thức của các bên khi thực hiện hợp đồng mất đi của bên vi phạm -Điều kiện áp dụng: -Điều kiện áp dụng:
+ có thỏa thuận áp dụng
+ Không cần có thỏa thuận áp dụng
+ không cần có thiệt hại thực tế xảy ra
+có thiệt hại thực tế xảy ra
+ chỉ cần chứng minh được có vi phạm
+Phải chứng minh được phần thiệt hại thực tế xảy
-Mức phạt được thỏa thuận trong hợp đồng và ra đó
không được quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp
+Hành vi vi phạm phải là nguyên nhân trực tiếp đồng bị vi phạm
-Tính phổ biến: Chỉ áp dụng khi khả năng thiệt hại
-Tính phổ biến: áp dụng phổ biến đối với các vi có thể xảy ra phạm hợp đồng -Nghĩa vụ của các bên:
-Nghĩa vụ của các bên: chỉ cần thỏa thuận được
+Nghĩa vụ chứng minh tổn thất
ghi trong hợp đồng thì khi có hành vi vi phạm có
+Nghĩa vụ hạn chế tổn thất thể áp dụng
Câu 3: Điều kiện áp dụng 3 chế tài: đình chỉ, hủy bỏ, tạm ngưng hợp đồng? Chúng giống nhau như thế nào? Giống nhau:
- Đều thuộc một trong các chế tài trong thương mại được quy định tại Luật thương mại 2005
- Đều được áp dụng khi xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện
để thực hiện chế tài trên hoặc một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng
- Bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp
đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc tạm ngừng, đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng
- Trong trường hợp không thông báo ngay mà gây thiệt hại cho bên kia thì bên tạm
ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng phải bồi thường thiệt hại. -Điều kiện áp dụng:
+ Tạm ngưng hợp đồng thương mại: căn cứ điều 308 Luật thương mại 2005 khi
-xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng
-một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng
+ Đình chỉ hợp đồng thương mại: Điều 310 Luật thương mại 2005
-Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng
-Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
+Hủy bỏ hợp đồng thương mại: theo điều 294 Luật thương mại 2005
-Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng
-Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng
Câu 4: Chế tài buộc thực hiện hợp đồng không được áp dụng đồng thời với những chế tài nào? Vì sao?
Căn cứ Điều 299, Luật thương mại 2005, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác thì bên bị
vi phạm có thể áp dụng đồng thời chế tài buộc thực hiện hợp đồng và chế tài bồi thường thiệt
hại và phạt vi phạm, ngoài các chế tài nêu trên thì không được áp dụng các chế tài khác.
Câu 5: Sự kiện bất khả kháng khác gì với “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”?
- Theo khoản 1, Điều 156 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “ Sự kiện bất khả kháng là
sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc
phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”
Vậy ta có thể xác định sự kiện bất khả kháng là:
- Đó là một sự kiện khách quan, nằm ngoài phạm vi kiểm soát: vd động đất, song thần,..
- Hậu quả của sự kiện không lường trước được tại thời điểm giao kết hoặc trong quá
trình thực hiện hợp đồng cho đến trước thời điểm xảy ra hành vi vi phạm
- Hậu quả của sự kiện đó không thể khắc phục được mặc dù áp dụng mọi biện pháp
cần thiết và khả năng cho phép.
“Hoàn cảnh thay đổi cơ bản”
- Theo khoản 1, Điều 420 Bộ luật dân sự 2015 ta có thể xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản là:
+ Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng
+ Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh
+Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hơp đồng đã
không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác
Câu 6: Công ty TNHH A ký hợp đồng bán cho công ty TNHH B một lô hàng thực phẩm tươi sống,
theo hợp đồng công ty A sẽ giao hàng cho công ty B tại kho của công ty B. Công ty A sau đó đã
ký một hợp đồng với công ty TNHH X - một công ty chuyên kinh doanh dịch vụ logistics để công
ty này tổ chức việc vận chuyển và giao hàng cho công ty B. Trên đường vận chuyển, xe của công
ty X bị trưng dụng để khắc phục hậu quả thiên tai nhưng không thông báo gì cho công ty A. Vì lý
do trên, hàng hóa khi được chuyển đến kho của công ty B đã trễ 10 ngày,hàng hóa khi giao đã
có dấu hiệu giảm sút về chất lượng tuy vẫn còn trong thời hạn sử dụng. Công ty B đã yêu cầu
công ty A phải thay thế hàng hóa khác cho mình đồng thời phải bồi thường thiệt hại do việc
giao hàng chậm trễ. Trách nhiệm của các bên là gì khi đây là trường hợp miễn trách nhiệm theo
quy định của luật thương mại?
- Cty A ký hợp đồng bán cho công ty B một lô hàng thực phẩm tươi sống-> hợp đồng mua bán
- Cty A ký hợp đồng với cty X để vận chuyển lo hàng cho công ty B-> Đây là hợp đồng dịch vụ
- Trong tình huống này, bên A là bên bán hàng, có nghĩa vụ giao hàng cho bên B, nhưng
bên A đã ko thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, cụ thể là: không giao hàng đúng thời hạn
và chất lượng của lô hàng đã giảm sút. Như vậy căn cứ theo quy định: hành vi của bên A
là vi phạm hợp đồng. Bên A phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm hợp đồng của mình gây ra.
- Trách nhiệm của cty X đối với cty A: Trong trường hợp này, cty X ko giao hàng đến cty B
đúng hạn do xe bị trưng dụng để khắc phục hậu quả của thiên tai, nhưng ko thông báo
choc ty A. Trường hợp này cty X cũng vi phạm hợp đồng với cty A
Câu 7: Do đang có nhu cầu mang laptop đi công tác để giải quyết công việc, chị Nhung đã mượn
chiếc laptop HP của bạn mình là chị Hằng trong thời gian 5 ngày. Sau thời gian công tác về, chị
Nhung báo với chị Hằng là chiếc laptop bị trộm lấy mất khi chị để ở trong phòng tại khách sạn
chị ở trong thời gian công tác.Vì chiếc laptop đã sử dụng lâu năm và xuống cấp nên khách sạn
chỉ bồi thường 1 triệu đồng. Vì nghĩ tình bạn bè thân thiết lâu năm và sự việc xảy ra cũng không
ai mong muốn nên chị Hằng đành chấp thuận. Tuy nhiên sau đó chị Hằng được chị Lan là người
đi công tác cùng chị Nhung cho biết, thực chất chiếc laptop không phải bị mất mà do chị Nhung
đổi chiếc laptop lấy chiếc máy tính bảng Sam Sung của chị. Vì chị Lan nghĩ đó là laptop của chị
Nhung nên mới đồng ý đổi.Hãy giải quyết tình huống để bảo vệ quyền lợi cho chị Hằng và chị Lan.
- Theo quy định tại khoản 3 điều 455 BLDS năm 2015: “Trường hợp một bên trao đổi cho
bên kia tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình hoặc không được chủ sở hữu ủy
quyền thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.
- Chiếc laptop mà chị Nhung dùng để trao đổi lấy chiếc máy tính bảng Samsung của chị
Lan không thuộc sở hữu của chị Nhung. Đồng thời, việc trao đổi này không được chị
Hằng- là chủ sở hữu của chiếc laptop biết. Do đó, theo quy định trên, chị Lan có quyền
yêu cầu hủy bỏ hợp đồng trao đổi. Khi hợp đồng được hủy bỏ thì các bên phải hoàn trả
lại cho nhau những gì đã nhận, cụ thể: Chị Lan được nhận lại chiếc máy tính bảng của
mình, còn chiếc laptop được giao trả cho chị Hằng- chủ sở hữu đích thực của tài sản.