Câu 1 :
a, Theo quy định tại Điều 69 Hiến pháp năm 2013, điều 1 Luật t chức Quốc hội năm 2014 khẳng
định: Quốc hội quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, quan quyền lực nhà nước cao nhất của
nước Cộng hoà hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết
định các vấn đề quan trọng của đất nước giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.
Trước hết về cách thức thành lập, Quốc hội quan do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ
thông, bình đẳng, trực tiếp bỏ phiếu kín. Quốc hội đại diện cho ý chí nguyện vọng của Nhân dân
cả nước, được Nhân dân tin tưởng uỷ thác quyền lực nhà nước, thay mặt Nhân dân quyết định những
vấn đề trọng đại của đất nước chịu trách nhiệm trước Nhân dân cả nước.
Hiến pháp năm 2013 đã nêu vị trí của Quốc hội quan đại biểu cao nhất của nhân dân
quan quyền lực nhà ớc cao nhất của nước Cộng hòa hội Chủ nghĩa Việt Nam (Điều 69). Quốc
hội quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước như thông qua Hiến pháp, các đạo
luật, quyết định những chính sách bản về đối nội đối ngoại, mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa,
hội, tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm những chức vụ cao
nhất của bộ máy nhà nước; giám sát tối cao hoạt động của bộ máy nhà nước; Quốc hội biểu hiện tập
b, họp bất thường thứ nhất diễn ra trong bối cảnh cả nước đang nỗ lực triển khai thực hiện các
nhiệm vụ chính trị để cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, các Nghị quyết Kỳ họp thứ 2
Quốc hội khóa XV; đặc biệt trong hoàn cảnh đất nước gặp những khó khăn, thách thức mới gay gắt
hơn do dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, khó lường tại nhiều địa phương trong cả nước, Kỳ
họp bất thường lần thứ Nhất của Quốc hội được tổ chức nhằm kịp thời đưa ra những quyết sách để hỗ
trợ triển khai chương trình phục hồi phát triển kinh tế - hội; giải quyết những vướng mắc pháp
cho đầu phát triển.
c, Theo điều 21 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Đại biểu Quốc hội người đại diện cho ý chí,
nguyện vọng của Nhân dân đơn vị bầu cử ra mình của Nhân dân cả nước; người thay mặt Nhân
dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội”. Với cách một bộ phận cấu thành nên quan
quyền lực nhà nước cao nhất, ĐBQH tr thành cầu nối liên kết mối quan hệ giữa chính quyền nhà
nước với nhân dân. Do đó, ĐBQH phải đủ điều kiện, năng lực, bản lĩnh để phát huy vai trò của mình
vào các hoạt động của Nhà nước. Cũng như Quốc hội, vai tcủa ĐBQH được thể hiện ngay sau khi
được cử tri tín nhiệm bầu đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri để quyết định các vấn đề quan
trọng của đất nước, trong đó việc bầu phê chuẩn các chức danh của bộ máy nhà nước.
Câu 2
Công pháp quốc tế tập hợp nguyên tắc, quy phạm pháp được các quốc gia, các chủ thể khác của
luật quốc tế xây dựng trên sở thỏa thuận, tự nguyện, nh đẳng nhằm điều chỉnh quan hệ nhiều mặt
giữa chúng. VD : Công ước về quyền trẻ em,Công ước về luật biển ,Hiệp định thương mại Việt Nam
Hoa
Luật quốc gia hệ thống các quy phạm pháp luật mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau được
phân định thành các chế định pháp luật, các ngành luật được thể hiện trong các văn bản do nhà
nước ban hành theo những trình tự thủ tụ hình thức nhất định. Luật quốc gia được xây dựng trên
sở ý chí của nhà nước sở tại, không sự tự nguyện.
Sự khác nhau về công pháp quốc tế luật quốc gia:
Về mục đích: công pháp quốc tế được sử dụng để điều chỉnh các mối quan hệ quốc tế. Còn luật quốc
gia được sử dụng với mục đích điều chỉnh các quan hệ trong phạm vi quốc gia
Về đối tượng điều chỉnh: Đối tượng điều chỉnh công pháp quốc tế điều chỉnh những mối quan hệ giữa
các quốc gia với nhau, đồng thời điều chỉnh các quan hệ hội phát sinh trong đời sống sinh hoạt
quốc tế giữa nhiều chủ thể với nhau. Còn Luật quốc gia điều chỉnh các mối quan hệ hội phát sinh
trong nội bộ phạm vi lãnh thổ.
Về chủ thể: Chủ thể của công pháp quốc tế những quốc gia chủ quyền, những dân tộc đang đấu
tranh giành độc lập, nhiều tổ chức liên chính phủ các chủ thể khác. Còn đối với chủ thể luật quốc
gia thể nhân, pháp nhân nhà nước tham gia với cách chủ thể nhất khi nhà nước 1 bên
trong quan hệ.
Về trình tự xây dựng pháp luật: Trình tự xây dựng công pháp quốc tế bởi không quan lập pháp
nên khi xây dựng những quy phạm thành văn hoặc bất thành văn chủ yếu do sự thỏa thuận giữa
những chủ thể chủ quyền quốc gia. Còn đối với trình tự xây dựng pháp luật quốc gia bởi quan
lập pháp của quốc gia đó xây dựng.
Về biện pháp bảo đảm thi hành:Đối với công pháp quốc tế thì không tồn tại quan chuyên biệt để
thể đảm bảo thi hành không bộ máy cưỡng chế tập trung thường trực chỉ một số biện pháp
cưỡng chế mang tính tự cưỡng chế nhất định dưới hình thức riêng r hoặc tập thể. Còn đối với biện
pháp bảo đảm thi hành của Luật quốc gia những quan chuyên biệt như là: quân đội, cảnh sát, tòa
án, nhà tù…
Về phương pháp điều chỉnh: Những ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tế thì chỉ 1 phương
pháp điều chỉnh đó sự thỏa thuận. Đối với luật quốc gia thì những ngành luật trong hệ thống pháp
luật quốc gia lại phương pháp điều chỉnh khác nhau.
Nguyên tắc bản của công pháp quốc tế những tưởng chính trị, pháp mang tính chất chỉ đạo,
bao trùm, giá trị bắt buộc chung đối với mọi chủ thể. Các nguyên tắc này chủ yếu tồn tại dưới dạng
các quy phạm pháp luật thể hiện trong các điều ước tập quán quốc tế.
- Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia: một trong những nguyên tắc bản
được thừa nhận rộng rãi hiện đại được ghi nhận rộng rãi trong nhiều văn bản quốc tế quan
trọng.Bên cạnh đó, một nguyên tắc quan trọng trong chính sách đối ngoại nhà nước ta.
- Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác: một trong những
nguyên tắc bản , theo đó tất cả các quốc gia chấp hành nghĩa vụ không được tiến hành những
hành động can thiệp vào công việc thuộc thẩm quyền của quốc gia khác. Việc thực hiện nguyên tắc
tôn trọng chủ quyền quốc gia, tức tôn trọng quyền tối cao trong nước quyền độc lập trong quan
hệ quốc tế của quốc gia, phải tôn trọng hoạt động thuộc thẩm quyền nội bộ của quốc gia đó.
- Nguyên tắc dân tộc tự quyết: theo bản tuyên bố năm 1970 về những nguyên tắc của luật quốc
tế nội dung của nguyên tắc dân tốc tự quyết được giải thích: tất cả các dân tốc quyền tự do quyết
định quy chế chính trị của mình, không sự can thiệp của nước ngoài, tự do quyết định sự phát
triển về kinh tế, hội văn hoá của dân tộc mình; tất cả các quốc gia đều nghĩa vụ phải tôn trọng
quyền này của các dân tộc; tất cả các quốc gia đều nghĩa vụ phải thúc đẩy các dân tộc thực hiện
quyền tquyết của họ; cấm không được thống trị bốc lột dân tộc khác; phải xoá ngay lập tức chủ
nghĩa thực dân; các dân tộc thuộc địa quyền sử dụng mọi biện pháp cần thiết để đấu tranh giành độc
lập.
- Nguyên tắc cấm dùng lực hoặc đe dọa dùng lực trong quan hệ quốc tế.Theo tuyên bố
năm 1970, nguyên tắc cấm dùng lực hoặc đe doạ dùng lực trong quan hệ quốc tế những nội
dung sau đây: cấm dùng lực đe doạ dùng lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia
khác, kể cả vi phạm biên giới quốc gia của ớc khác, với giới tuyến ngừng bắn; cấm dùng lực
đe doạ dùng lực chống lại nền độc lập chính trị của quốc gia khác; cấm dùng lực đe doạ dùng
lực làm biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế; cấm tuyên truyền chiến tranh xâm lược
- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp quốc tế bằng các phương pháp hòa nh. Điều 2 khoản 3
Hiến chương Liên hợp quốc quy định: tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc giải quyết các tranh
chấp của họ bằng những phương pháp hoà bình, làm sao để khỏi gây ra sự đe dọa cho hoà bình, an
ninh thế giới công lý. Căn cứ vào tuyên bố năm 1970, một khi các bên tranh chấp đã sử dụng
phương pháp hoà bình này để giải quyết tranh chấp, nhưng chưa đạt được kết quả, thì phải tìm phương
pháp hoà bình khác để giải quyết
- Nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế:Nguyên tắc Pacta Sunt Servanda được gải thích cụ
thể trong tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị hợp
tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc
- Nguyên tắc các quốc gia nghĩa vụ hợp tác
VD : Hiện nay , cuộc xung đột trang Nga-Ukraine đề tài nóng trên toàn thế giới bởi mức độ
nghiêm trọng để lại . thể thấy rằng ớc Nga đã vi phạm nghiêm trọng những nguyên tắc
trong công pháp quốc tế như: Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia , tôn trọng chủ
quyền của quốc gia khác. Nguyên tắc cấm dùng lực đe dọa dùng lực trong quan hệ quốc tế.
Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế.
Hay Việc các tàu Trung Quốc hoạt động trong phạm vi lãnh hải Sinh Tồn Đông thuộc quần đảo
Trường Sa của Việt Nam đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, vi phạm các quy định
của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982, đi ngược lại tinh thần nội dung của Tuyên bố
về ứng xử của các bên Biển Đông. Ngày 18/4/2020, Trung Quốc thành lập cái gọi "quận Nam Sa"
"quận Tây Sa", trực thuộc "thành phố Tam Sa". Đây thành phố Trung Quốc công bố từ năm
2012, xem như đơn vị hành chính quản quần đảo Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam. Những
hành động đó của Trung Quốc đã vi phạm Hiến chương Liên Hợp quốc (LHQ), Tuyên bố Nguyên tắc
ứng xử trên Biển Đông công pháp quốc tế về nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia
toàn vẹn lãnh thổ .
Những sự việc trên đáng bị cả thế giới lên án tẩy chay để xây dựng một thế giới công bằng , bình
đẳng văn minh

Preview text:

Câu 1 :
a, Theo quy định tại Điều 69 Hiến pháp năm 2013, điều 1 Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 khẳng
định: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết
định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.
Trước hết về cách thức thành lập, Quốc hội là cơ quan do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ
thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Quốc hội đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân
cả nước, được Nhân dân tin tưởng uỷ thác quyền lực nhà nước, thay mặt Nhân dân quyết định những
vấn đề trọng đại của đất nước và chịu trách nhiệm trước Nhân dân cả nước.
Hiến pháp năm 2013 đã nêu rõ vị trí của Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Điều 69). Quốc
hội có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước như thông qua Hiến pháp, các đạo
luật, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm những chức vụ cao
nhất của bộ máy nhà nước; giám sát tối cao hoạt động của bộ máy nhà nước; Quốc hội biểu hiện tập
trung ý chí và quyền lực của nhân dân trong phạm vi toàn quốc.
b, Kì họp bất thường thứ nhất diễn ra trong bối cảnh cả nước đang nỗ lực triển khai thực hiện các
nhiệm vụ chính trị để cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, các Nghị quyết Kỳ họp thứ 2
Quốc hội khóa XV; đặc biệt trong hoàn cảnh đất nước gặp những khó khăn, thách thức mới gay gắt
hơn do dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, khó lường tại nhiều địa phương trong cả nước, Kỳ
họp bất thường lần thứ Nhất của Quốc hội được tổ chức nhằm kịp thời đưa ra những quyết sách để hỗ
trợ triển khai chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; giải quyết những vướng mắc pháp lý cho đầu tư phát triển.
c, Theo điều 21 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, “ Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí,
nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước; là người thay mặt Nhân
dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội”. Với tư cách là một bộ phận cấu thành nên cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất, ĐBQH trở thành cầu nối liên kết mối quan hệ giữa chính quyền nhà
nước với nhân dân. Do đó, ĐBQH phải đủ điều kiện, năng lực, bản lĩnh để phát huy vai trò của mình
vào các hoạt động của Nhà nước. Cũng như Quốc hội, vai trò của ĐBQH được thể hiện ngay sau khi
được cử tri tín nhiệm bầu là đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri để quyết định các vấn đề quan
trọng của đất nước, trong đó có việc bầu và phê chuẩn các chức danh của bộ máy nhà nước. Câu 2
Công pháp quốc tế là tập hợp nguyên tắc, quy phạm pháp lý được các quốc gia, các chủ thể khác của
luật quốc tế xây dựng trên cơ sở thỏa thuận, tự nguyện, bình đẳng nhằm điều chỉnh quan hệ nhiều mặt
giữa chúng. VD : Công ước về quyền trẻ em,Công ước về luật biển ,Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kì
Luật quốc gia là hệ thống các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau được
phân định thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản do nhà
nước ban hành theo những trình tự thủ tụ và hình thức nhất định. Luật quốc gia được xây dựng trên cơ
sở ý chí của nhà nước sở tại, không có sự tự nguyện.
Sự khác nhau về công pháp quốc tế và luật quốc gia:
Về mục đích: công pháp quốc tế được sử dụng để điều chỉnh các mối quan hệ quốc tế. Còn luật quốc
gia được sử dụng với mục đích điều chỉnh các quan hệ trong phạm vi quốc gia
Về đối tượng điều chỉnh: Đối tượng điều chỉnh công pháp quốc tế điều chỉnh những mối quan hệ giữa
các quốc gia với nhau, đồng thời điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống sinh hoạt
quốc tế giữa nhiều chủ thể với nhau. Còn Luật quốc gia điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh
trong nội bộ phạm vi lãnh thổ.
Về chủ thể: Chủ thể của công pháp quốc tế là những quốc gia có chủ quyền, những dân tộc đang đấu
tranh giành độc lập, nhiều tổ chức liên chính phủ và các chủ thể khác. Còn đối với chủ thể luật quốc
gia là thể nhân, pháp nhân và nhà nước tham gia với tư cách là chủ thể nhất là khi nhà nước là 1 bên trong quan hệ.
Về trình tự xây dựng pháp luật: Trình tự xây dựng công pháp quốc tế bởi không có cơ quan lập pháp
nên khi xây dựng những quy phạm thành văn hoặc bất thành văn chủ yếu là do sự thỏa thuận giữa
những chủ thể có chủ quyền quốc gia. Còn đối với trình tự xây dựng pháp luật quốc gia bởi cơ quan
lập pháp của quốc gia đó xây dựng.
Về biện pháp bảo đảm thi hành:Đối với công pháp quốc tế thì không tồn tại cơ quan chuyên biệt để có
thể đảm bảo thi hành và không có bộ máy cưỡng chế tập trung thường trực mà chỉ có một số biện pháp
cưỡng chế mang tính tự cưỡng chế nhất định dưới hình thức riêng rẽ hoặc tập thể. Còn đối với biện
pháp bảo đảm thi hành của Luật quốc gia là những cơ quan chuyên biệt như là: quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù…
Về phương pháp điều chỉnh: Những ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tế thì chỉ có 1 phương
pháp điều chỉnh đó là sự thỏa thuận. Đối với luật quốc gia thì những ngành luật trong hệ thống pháp
luật quốc gia lại có phương pháp điều chỉnh khác nhau.
Nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chất chỉ đạo,
bao trùm, có giá trị bắt buộc chung đối với mọi chủ thể. Các nguyên tắc này chủ yếu tồn tại dưới dạng
các quy phạm pháp luật thể hiện trong các điều ước và tập quán quốc tế. -
Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia: là một trong những nguyên tắc cơ bản
được thừa nhận rộng rãi hiện đại và được ghi nhận rộng rãi trong nhiều văn bản quốc tế quan
trọng.Bên cạnh đó, là một nguyên tắc quan trọng trong chính sách đối ngoại và nhà nước ta. -
Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác: là một trong những
nguyên tắc cơ bản , theo đó tất cả các quốc gia chấp hành có nghĩa vụ không được tiến hành những
hành động can thiệp vào công việc thuộc thẩm quyền của quốc gia khác. Việc thực hiện nguyên tắc
tôn trọng chủ quyền quốc gia, tức là tôn trọng quyền tối cao ở trong nước và quyền độc lập trong quan
hệ quốc tế của quốc gia, phải tôn trọng hoạt động thuộc thẩm quyền nội bộ của quốc gia đó. -
Nguyên tắc dân tộc tự quyết: theo bản tuyên bố năm 1970 về những nguyên tắc của luật quốc
tế nội dung của nguyên tắc dân tốc tự quyết được giải thích: tất cả các dân tốc có quyền tự do quyết
định quy chế chính trị của mình, không có sự can thiệp của nước ngoài, và tự do quyết định sự phát
triển về kinh tế, xã hội và văn hoá của dân tộc mình; tất cả các quốc gia đều có nghĩa vụ phải tôn trọng
quyền này của các dân tộc; tất cả các quốc gia đều có nghĩa vụ phải thúc đẩy các dân tộc thực hiện
quyền tự quyết của họ; cấm không được thống trị và bốc lột dân tộc khác; phải xoá ngay lập tức chủ
nghĩa thực dân; các dân tộc thuộc địa có quyền sử dụng mọi biện pháp cần thiết để đấu tranh giành độc lập. -
Nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế.Theo tuyên bố
năm 1970, nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế có những nội
dung sau đây: cấm dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia
khác, kể cả vi phạm biên giới quốc gia của nước khác, với giới tuyến ngừng bắn; cấm dùng vũ lực và
đe doạ dùng vũ lực chống lại nền độc lập chính trị của quốc gia khác; cấm dùng vũ lực và đe doạ dùng
vũ lực làm biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế; cấm tuyên truyền chiến tranh xâm lược -
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp quốc tế bằng các phương pháp hòa bình. Điều 2 khoản 3
Hiến chương Liên hợp quốc quy định: tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc giải quyết các tranh
chấp của họ bằng những phương pháp hoà bình, làm sao để khỏi gây ra sự đe dọa cho hoà bình, an
ninh thế giới và công lý. Căn cứ vào tuyên bố năm 1970, một khi các bên tranh chấp đã sử dụng
phương pháp hoà bình này để giải quyết tranh chấp, nhưng chưa đạt được kết quả, thì phải tìm phương
pháp hoà bình khác để giải quyết -
Nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế:Nguyên tắc Pacta Sunt Servanda được gải thích cụ
thể trong tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp
tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc -
Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác
VD : Hiện nay , cuộc xung đột vũ trang Nga-Ukraine là đề tài nóng trên toàn thế giới bởi mức độ
nghiêm trọng mà nó để lại . Có thể thấy rằng nước Nga đã vi phạm nghiêm trọng những nguyên tắc
trong công pháp quốc tế như: Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia , tôn trọng chủ
quyền của quốc gia khác. Nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế.
Hay Việc các tàu Trung Quốc hoạt động trong phạm vi lãnh hải Sinh Tồn Đông thuộc quần đảo
Trường Sa của Việt Nam đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, vi phạm các quy định
của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982, và đi ngược lại tinh thần và nội dung của Tuyên bố
về ứng xử của các bên ở Biển Đông. Ngày 18/4/2020, Trung Quốc thành lập cái gọi là "quận Nam Sa"
và "quận Tây Sa", trực thuộc "thành phố Tam Sa". Đây là thành phố mà Trung Quốc công bố từ năm
2012, xem như đơn vị hành chính quản lý quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Những
hành động đó của Trung Quốc đã vi phạm Hiến chương Liên Hợp quốc (LHQ), Tuyên bố Nguyên tắc
ứng xử trên Biển Đông và công pháp quốc tế về nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ .
Những sự việc trên đáng bị cả thế giới lên án và tẩy chay để xây dựng một thế giới công bằng , bình đẳng và văn minh