Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ I NĂM HỌC 2024 – 2025
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Triết học Mác Lênin Số báo danh: 38. .Mã số đề thi: 13
Mã số SV/HV:24D135020 Ngày thi:28/12/2024
Lớp: : 241-MLNP0221-21
Tổng số trang: …7……
Họ và tên: LÊ THỊ LINH Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….
………………………......
GV chấm thi 2: …….
………………………......
SV/HV không được viết vào cột này)
Điểm từng câu, diểm thưởng (nếu có) và điểm toàn bài GV chấm 1: Câu 1: ……… điểm
Họ tên SV/HV: LÊ THỊ LINH - Mã LHP: … 241-MLNP0221-21…………………Trang 1/7 Câu 2: ……… điểm …………………. …………………. Cộng …… điểm GV chấm 2: Câu 1: ……… điểm Câu 2: ……… điểm …………………. …………………. Cộng …… điểm Câu 1.
Phân tích luận điểm: Bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội
Trong sinh hoạt xã hội, khi hoạt động ở những điều kiện lịch sử nhất định con người có
quan hệ với nhau để tồn tại và phát triển. Theo Mác thì bản chất con người không phải là
một cái trìu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. C.Mác đã đưa ra luận điểm:” trong tính
hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hoà các quan hệ xã hội”
-Bản chất con người hình thành và thể hiện ở những con người hiện thực, đó là những
con người cụ thể, sống trong những điều kiện cụ thể mà ở dó những mặt khác nhau tạo
nên bản chất của con người sẽ được bộc lộ ở những mức độ cụ thể.
-Tất cả các quan hệ xã hội đều góp phần hình thành nên bản chất của con người. Các
quan hệ xã hội này không kết hợp với nhau theo phép cộng mà chúng là tổng hoà, nghĩa
là chúng có vị trí , vai trò khác nhau nhưng không tách rời nhau, mà tác động qua lại lẫn nhau, thâm nhập vào nhau.
Họ tên SV/HV: LÊ THỊ LINH - Mã LHP: … 241-MLNP0221-21…………………Trang 2/7
-Bản chất con người chỉ có thể được hình thành , được nhận thức qua các quan hệ xã hội
của nó. Bản chất con người không phải là thần bí, trừ tượng , bất biến, tách rời khỏi
những mối quan hệ khách quan, nó có thể được nhận thức thông qua các tổ chức, thể chế
chính trị , các mối quan hệ xã hội hiện thực xác định. Tất cả các mối quan hệ xã hội vật
chất- tinh thần đều góp phần vào việc hình thành bản chất con người, trong đó quan hệ
xã hội đóng vai trò quyết định nhất.
-Bản chất con người không phải được sinh ra mà nó hình thành, phát triển, thay đổi bởi
các quan hệ xã hội, trong đó trước hết và quan trọng nhất là các quan hệ thuộc lĩnh vực
kinh tế. Muốn thay đổi bản chất con người thì không thể không thay đổi những mối quan hệ của họ.
Ý nghĩa cùa việc nghiên cứu vấn đề này đối với bản thân em:
Luận điểm này khẳng định rằng con người không tồn tại độc lập mà luôn gắn kết với
những người khác trong xã hội. Các mối quan hệ này, từ gia đình, bạn bè đến cộng
đồng, định hình suy nghĩ, cảm xúc, hành vi và thậm chí cả nhận thức về bản thân của mỗi người.
Do đó khi nghiên cứu về vấn đề này đã giúp em hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của các
mối quan hệ xã hội giữa bản thân và mọi người xung quanh, giúp em nhận thức được
rằng bản thân là một phần của mạnh lưới quan hệ xã hội và từ đó thì hiểu rõ hơn cảm
xúc hành vi của bản thân. Hiểu được tầm quan trọng của các mối quan hệ xã hội đã giúp
bản thân em hình thành những hành vi, suy nghĩ tích cực khi tham gia vào các mối quan
hệ xung quanh mình như sau:
-Trong gia đình thì luôn luôn giữ thái độ lễ phép, tôn trọng và vâng lời ông bà, bố mẹ,
anh chị, những người đi trước, điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp vói mọi
hoàn cảnh để giữ một không khí vui vẻ, hạnh phúc với các thành viên trong gia đình.
Họ tên SV/HV: LÊ THỊ LINH - Mã LHP: … 241-MLNP0221-21…………………Trang 3/7
-Trong các mối quan hệ bạn bè thì luôn giành sự tôn trọng, lắng nghe cho đối phương,
biết san sẻ và giúp đỡ khi bạn cần, chủ động xây dựng mà duy trì môi trường học tập lành mạnh cùng nhau.
Đồng thời quan việc nhận thức được rằng bản thân là một phần của cộng đồng, em luôn
luôn cố gắng trau dồi bản thân về cả kiến thức và kĩ năng từ sách vở đến những bài học
thực tế trong cuộc sống, tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội cũng như là các hoạt
động do trường tổ chức để đóng góp cho sự phát triển của bản thân, của tổ chức và cộng đồng. Câu 2:
Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả là một trong những cặp phạm trù cơ bản của
phép biện chứng duy vật, phản ánh quy luật vận động phát triển của thế giới vật chất.
Đây là mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, trong đó nguyên nhân sinh ra kết quả, và đồng
thời kết quả lại trở thành nguyên nhân cho những quá trình phát triển tiếp theo.
2.1. Khái niệm cặp phạm trù Nguyên nhân- Kết quả
2.2.1: Khái niệm phạm trù “Nguyên nhân”:
Nguyên nhân là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tương tác lẫn nhau giữa các mặt trong
một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây nên những biến đổi nhất định.
2.2.2: Khái niệm phạm trù “ Kết quả”:
Kết quả là phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tương tác giữa
các yếu tố mang tính nguyên nhân gây nên.
2.2.3: Phân biệt “ Nguyên nhân” với “Nguyên cớ” và “ Điều kiện”:
- Nguyên cớ: là một sự kiện xảy ra ngay trước kết quả nhưng không sinh ra kết quả.
Họ tên SV/HV: LÊ THỊ LINH - Mã LHP: … 241-MLNP0221-21…………………Trang 4/7
- Điều kiện:là những yếu tố giúp nguyên nhân sinh ra kết quả nhưng bản thân điều kiện không sinh ra kết quả.
2.2: Tính chất của mối quan hệ nguyên nhân-kết quả
- Tính khách quan: Mối quan hệ nguyên nhân- kết quả tồn tại khách quan trong thế giới
vật chất. Nó phản ánh quy luật của hiện thực, không phụ thuộc vào ý thức của con người.
-Tính tất yếu: Mỗi sự vật, hiện tượng đều có những nguyên nhân nhất định, và khi các
nguyên nhân đó hội tụ đầy đủ thì kết quả sẽ xuất hiện một cách tất yếu.
-Tính phổ biến: Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có nguyên nhân và tạo ra kết
quả. Mối quan hệ này tồn tại trong mọi quá trình vận động, phát triển của thế giới, từ các
quá trình tự nhiên đến các quá trình xã hội. Nguyên nhân và kết quả xuất hiện ở mọi lĩnh
vực : tự nhiên, xã hội và tư duy.
-Tính biện chứng: Nguyên nhân và kết quả không phải là hai khái niệm tĩnh tại mà luôn
chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình vận động phát triển.
2.3 : Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
-Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ khách quan, tất yếu. Nguyên
nhân có trước và sinh ra kết quả, có nguyên nhân thì chắc chắn sẽ có kết quả. Có kết quả
thì tức là do nguyên nhân gây ra.
-Nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hoá lẫn nhau. Kết quả của một hiện tượng này
có thể trở thành nguyên nhân của một hiện tượng khác.
-Sự tác động của nguyên nhân đến kết quả có thể theo hai hướng thuận, nghịch, vì thế
các kết quả được sinh ra từ nguyên nhân cũng khác nhau.
-Một kết quả có thể do một nguyên nhân tạo ra hoặc do nhiều nguyên nhân tạo ra. Ví dụ:
sinh viên A trượt môn có thể do nhiều nguyên nhân như do bạn ấy trốn học quá số buổi
Họ tên SV/HV: LÊ THỊ LINH - Mã LHP: … 241-MLNP0221-21…………………Trang 5/7
quy định, do bạn ấy không chú ý nghe thầy cô giảng bài, do bạn không tham gia vào các
bài kiểm tra thành phần và điều đó dẫn đến bạn không đủ điều kiện dự thi và dẫn đến
trượt môn. Từ việc nhận thức được kết quả có thể do nhiều nguyên nhân gây ra thì giúp
tránh tư tưởng chủ quan, nhìn nhận một kết quả chỉ do một nguyên nhân gây ra. Từ đó ta
tìm đầy đủ nguyên nhân dẫn đến kết quả đó để đưa ra biện pháp khắc phục hiệu quả nhất.
-Một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả khác nhau. Ví dụ như hành vi chặt phá
rừng có thể dẫn đến kết quả như có gỗ để sử dụng, có đất để canh tác, cũng có các kết
quả tiêu cực như dẫn đến xói mòn đất, mất đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu. ví dụ
khác như tác động của cách mạng công nghệ thông tin đã làm biến đổi to lớn và cơ bản
nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống kinh tế-xã hội. Qua việc nhận thức được một
nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả thì chúng ta có sự cân nhắc để lựa chọn
những hành động đúng đắn để có được kết quả trọn vẹn nhất, hoàn hảo nhất cũng như
giảm thiểu những kết quả tiêu cực.
2.4: Từ ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu mối quan hệ giữa
nguyên nhân và kết quả, phân tích thực trạng ô nhiễm môi trường và dịch bệnh hiện nay
2.4.1: Ý nghĩa phương pháp luận
- Nếu bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng có nguyên nhân và do nguyên nhân quyết định
thì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải bắt đầu từ việc đi tìm những
nguyên nhân xuất hiện sự vật, hiện tượng.
- Xét về mặt thời gian, nguyên nhân có trước kết quả nên khi tìm nguyên nhân của một
sự vật hiện tượng cần tìm ở các sự vật, hiện tượng mối liên hệ đã xảy ra trước khi sự vật, hiện tượng xuất hiện.
Họ tên SV/HV: LÊ THỊ LINH - Mã LHP: … 241-MLNP0221-21…………………Trang 6/7
-Một sự vật, hiện tượng có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra và quyết định, nên khi
nghiên cứu sự vật, hiện tượng đó không vội kết luận về nguyên nhân nào đã sinh ra nó,
khi muốn gây ra một sự vật, hiện tượng có ích trong thực tiễn cần phải lựa chọn phương
pháp thích hợp nhất với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.
-Phải tận dụng các kết quả đã đạt được để tạo điều kiện thúc đẩy nguyên nhân phát huy
tác dụng, nhằm đạt mục đích đề ra.
2.4.2: Phân tích thực trạng ô nhiễm môi trường và dịch bệnh hiện nay
Tình trạng ô nhiễm môi trường và dịch bệnh hiện nay đang diễn biến ngày càng phức
tạp và điều đó đặt ra thách thức rất lớn cho Nhà nước nói riêng và toàn thể người dân nói
chung. Thông qua việc nghiên cứu ý nghĩa phương pháp luận được rút ra từ việc nghiên
cứu mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả thì chúng ta cần phân tích toàn diện, nhận
thức đầy đủ về các nguyên nhân và từ đó nhận thức được kết quả mà nó gây nên. Đồng
thời tìm ra nguyên nhân cốt lõi, gốc rễ của sự vật hiện tượng để có thể đưa ra biện pháp
và cách giải quyết đúng đắn nhất.
Trong thực tế vấn đề ô nhiễm môi trường được xác định do nhiều nguyên nhân gây ra:
do hoạt động công nghiệp và đô thị hoá, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên quá mức
như nạn phá rừng để lấy đất canh tác, buôn lậu gỗ đã gây mất cân bằng sinh thái, gây xói
mòn, sạt lở đất. Trong năm 2024 nước ta đã phải chứng kiến nhiều vụ sạt lở đất, mưa
lớn dẫn đến xói mòn, lũ lụt thương tâm như ở Làng Nủ thuộc tỉnh Lào Cai gây thiệt hại
rất lớn về người và tài sản .Ngoài ra, ô nhiễm còn do ý thức của con người xả rác bừa
bãi, chính sách quản lý chưa phù hợp.
Những nguyên nhân ấy dẫn đến ô nhiễm môi trường trầm trọng, kéo dài sẽ làm chất
lượng không khí giảm sút làm giảm hệ miễn dịch và tăng nguy cơ mắc bệnh. Đồng thời
ô nhiễm có thể tạo điều kiện cho vi khuẩn và virus phát triển nhanh hơn.Bên cạnh đó,
nạn phá rừng làm mất nơi cư trú của động vật hoang dã đã tăng nguy cơ lây lan bệnh từ
động vật sang người. hiện đã xuất hiện nhiều bệnh truyền nhiễm gây hại đến tính mạng
Họ tên SV/HV: LÊ THỊ LINH - Mã LHP: … 241-MLNP0221-21…………………Trang 7/7
con người như COVID 19, SARS, MERS, và các căn bệnh nhiệt đới như sốt rét, sốt xuất huyết..
Từ việc tìm hiểu rõ các nguyên nhân và nhận thức được hệ quả to lớn đối với môi
trường và sức khoẻ cộng đồng, thì con người sẽ có những biện pháp khắc phục hiệu quả
và nghiêm túc nhất. Cụ thể, nhà nước chú trọng, khuyến khích chuyển đổi sang nguồn
năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, tăng cường giám sát và thực thi pháp luật về môi
trường. đồng thờu giáo dục cộng đồng có ý thức bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó,
nghiên cứu rõ nguyên nhân của nguồn bệnh dịch, đầu tư vào công cụ y tế,phát triển
vaccine và thuốc điều trị cũng như nỗ lực tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng chống dịch bệnh.
Họ tên SV/HV: LÊ THỊ LINH - Mã LHP: … 241-MLNP0221-21…………………Trang 8/7