













Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ NĂM HỌC 2020 – 2021
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Số báo danh: 107 Mã số đề thi: Lớp: Ngày thi: Số trang: 06 Họ và tên: Điểm kết luận: 7.8 điểm GV chấm thi 1: GV chấm thi 2: Bài làm: Câu 1:
a. Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
❖Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam – con đường Cách mạng Vô sản.
Nguyễn Ái Quốc sinh ra trong hoàn cảnh nước mất, nhà tan, tuổi thơ lớn lên chứng kiến các cuộc
khởi nghĩa của nhân dân bị thất bại và chìm trong biển máu. Các phong trào yêu nước, đòi độc lập của
nhân dân ta trước khi có Đảng đi theo khuynh hướng dân chủ tư sản đều lần lượt thất bại; đất nước rơi
vào tình trạng bế tắc, khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước. Trước tình hình đó, yêu cầu ta
phải tìm ra con đường cứu nước mới, giải phóng dân tộc; chính vì vậy Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm
đường cứu nước theo phương hướng mới.
Năm 1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Người đã đi qua nhiều nước trên thế
giới, xem người ta làm thế nào để trở về giúp đồng bào mình. Qua quá trình thâm nhập thực tiễn cách
mạng, qua nghiên cứu các cuộc cách mạng của các nước tư bản chủ nghĩa, đồng thời tham gia vào các
phong trào của các giai cấp và nhân dân lao động các nước; Người đã nhận ra các cuộc cách mạng tư
sản của Mỹ và Pháp là các cuộc cách mạng không đến nơi, không triệt để vì chưa đem lại tự do và ấm
no cho nhân dân lao động. Năm 1917, thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga đã ảnh hưởng lớn đến nhận thức của Người.
Đến năm 1919, sau khi chiến tranh Thế giới thứ Nhất kết thúc, các nước tư bản đã tiến hành hội
nghị Véc-xây để phân chia quyền lợi, chia lại thị trường thuộc địa. Thời điểm đó, Nguyễn Ái Quốc đã
gửi bản yêu sách tám điểm của nhân dân An Nam đến hội nghị Véc-xây, nhưng không được chấp nhận.
Từ đó, Người đã rút ra được muốn giành được độc lập phải dựa vào sức mình là chính.
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Quỳnh Trang…………………- Mã LHP: H2106HCMI0131......................Trang 1/7
Tháng 7/1920, lần đầu tiên Người đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân
tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin. Nội dung của bản luận cương đã đáp ứng được các nguyện vọng
mà Nguyễn Ái Quốc đã ấp ủ và tìm kiếm để có thể hoạch định con đường giải phóng cho dân tộc Việt
Nam. Từ đó, Người đã tin vào chủ nghĩa Mác-Lênin và xác định con đường cứu nước cho dân tộc, đó
là còn đường Cách mạng Vô sản. Và đến tháng 12/1920, Người mới có thể chuyển niềm tin đó thành
hành động. Đó là tại Đại hội của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia sáng lập Đảng Cộng
sản Pháp và gia nhập Quốc tế Cộng sản; và đã trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản đầu tiên là người
Việt Nam trên thế giới. Sự kiện này đã đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong quá trình hoạt động cách mạng của Người.
⇨Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước chỉ mang trong mình chủ nghĩa yêu nước chân
chính, nhưng từ khi đọc được luận cương của Lênin, cho đến khi tham gia vào sáng lập Đảng
Cộng sản Pháp và trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản đầu tiên, Người đã có sự chuyển biến rất
rõ ràng về chất trong tư tưởng, nhận thức và trình độ. Người ra đi tìm đường cứu nước từ chủ
nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, từ người yêu nước trở thành người chiến sĩ Cộng
sản. Và Người khẳng định: “ Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào
khác con đường Cách mạng Vô sản”
❖Sau khi xác định được con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc, Nguyễn Ái Quốc tích cực
truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam.
Hoàn cảnh Việt Nam lúc bấy giờ với khoảng 90% dân số là mù chữ thì việc truyền bá chủ nghĩa
Mác-Lênin tới người dân không thể thực hiện ngay được mà đó là một quá trình lâu dài, từ từ và thấm
nhuần. Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn truyền bá tới tầng lớp tiến bộ nhất là tầng lớp tri thức rồi
sau đó vào các tầng lớp khác. Người chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng:
Về tư tưởng: Người truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam bằng cách viết và gửi sách
báo, tài liệu về Việt Nam qua con đường theo chân các thủy thủ nhằm chuyển biến nhận thức của quần
chúng, đặc biệt là giai cấp công nhân, làm cho hệ tư tưởng Mác-Lênin từng bước chiếm ưu thế trong
đời sống xã hội, làm chuyển biến mạnh mẽ phong trào yêu nước theo lập trường của giai cấp công
nhân. Từ giữa năm 1921, tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội liên hiệp thuộc địa, sau đó sáng lập
tờ báo Người cùng khổ. Năm 1922, Nguyễn Ái Quốc được cử làm Trưởng Tiểu ban Nghiên cứu về
Đông Dương, Người đã tích cực tố cáo, lên án bản chất xấu xa của thực dân Pháp đối với nhân dân các
nước thuộc địa, nhân dân Việt Nam; khơi dậy tinh thần yêu nước, thức tỉnh tinh thần dân tộc nhằm
đánh đuổi thực dân pháp xâm lược. Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “ Đảng muốn vững phải
có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”.
Về chính trị: Nguyễn Ái Quốc đưa ra những luận điểm quan trọng về cách mạng giải phóng dân
tộc. Người khẳng định rằng con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức là giải phóng giai cấp, giải
phóng dân tộc. Đường lối chính trị của Đảng cách mạng phải hướng tới giành độc lập cho dân tộc, tự
do, hạnh phúc cho đồng bào, hướng tới xây dựng nhà nước mang lại quyền và lợi ích cho nhân dân.
Người đã xác định cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa là một bộ phận của cách mạng
vô sản thế giới. Nguyễn Ái Quốc còn khẳng định: “Cách mạng trước hết phải có đảng cách mệnh, để
trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi
nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”.
Năm 1928, phong trào “Vô sản hóa” do Kỳ bộ Bắc Kỳ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên phát động
đã góp phần truyền bá tư tưởng vô sản, rèn luyện cán bộ và xây dựng phát triển tổ chức của công nhân.
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Quỳnh Trang…………………- Mã LHP: H2106HCMI0131......................Trang 2/7
Về tổ chức: Cùng với việc truyền bá lý luận chính trị để chuẩn bị cho sự ra đời của một chính
đảng, Người đã dày công chuẩn bị về mặt tổ chức. Tháng 11/1924, Người đến Quảng Châu (Trung
Quốc) để đào tạo cán bộ, xúc tiến các công việc tổ chức thành lập Đảng Cộng sản. Tháng 2/1925,
Người lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã, lập ra nhóm Cộng sản đoàn. Đến tháng
6/1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, để vừa chuẩn bị cán bộ, vừa
truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ năm 1921 đến năm 1927, các tác phẩm của Người được tập hợp và
xuất bản thành cuốn Đường Cách mệnh. Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên chưa phải là chính đảng
cộng sản, nhưng quá trình hoạt động, chương trình hành động đã thể hiện quan điểm, lập trường của
giai cấp công nhân, là tổ chức tiền thân dẫn tới ra đời các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam. Hội là tổ chức
trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và cũng là sự chuẩn bị quan trọng về tổ chức để
tiến tới thành lập chính đảng của giai cấp công nhân ở Việt Nam. Phong trào công nhân cũng phát triển
từ tự phát sang tự giác.
Chỉ trong vòng nửa cuối năm 1929, ba tổ chức cộng sản trên cả nước lần lượt ra đời. Tháng 3/1929,
Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập tại Bắc Kỳ. Trước ảnh hưởng của Đông Dương Cộng sản
Đảng, tháng 11/1929, tại Nam Kỳ, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập. Tháng 9/1929, tại Trung
Kỳ, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập. Đây là sự phân hóa tích cực, khẳng định bước
phát triển về chất của phong trào yêu nước Việt Nam. Tuy nhiên ba tổ chức cộng sản này ra đời đều
muốn nâng tầm ảnh hưởng, vì vậy đã tranh giành lẫn nhau, gây ra những hiệu ứng tiêu cực đối với
cách mạng Việt Nam; gây nên sự phân tán về lực lượng và thiếu thống nhất về tổ chức trên cả nước.
Điều này, đã đề ra nhu cầu cấp bách thành lập một chính đảng có đủ khả năng tập hợp lực lượng toàn
dân tộc và đảm nhiệm vai trò lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc.
❖Trước tình hình đó, Nguyễn Ái Quốc đã hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản Đảng, Người đứng ra chủ
trì hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ ngày 6/1/1930 đến ngày 7/2/1930, hội nghị thành lập Đảng được tiến hành tại Hương Cảng,
Trung Quốc. Sau hơn một tháng làm việc khẩn trương trong hoàn cảnh bí mật, Hội nghị đã quyết định
thống nhất các tổ chức cộng sản, thành lập một đảng cộng sản chân chính duy nhất ở Việt Nam lấy tên
là Đảng Cộng sản Việt Nam; cử ra ban chấp hành trung ưng lâm thời; thông qua Chánh cương vắn tắt,
Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng. Đến ngày 24-2-1930, việc thống
nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất được hoàn thành. Từ đây, cả ba tổ chức cộng
sản Việt Nam đã thống nhất trọn vẹn vào một Đảng cộng sản duy nhất. Đặc biệt Chánh cương vắn tắt,
Sách lược vắn tắt còn được coi là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, nó như một sợi chỉ đỏ xuyên
suốt sau này trong việc định hướng cho cách mạng Việt Nam khi tiến hành giải phóng dân tộc.
Có thể thấy, vai trò lớn lao, cao cả của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam được thể hiện ở việc Người đã sáng suốt, nhạy bén, tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng
dân tộc và ngay sau đó đã khẩn trương, tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào cách mạng Việt
Nam; tích cực chuẩn bị mọi mặt từ tư tưởng, chính trị, đến các tổ chức để dẫn tới sự ra đời của các tổ
chức cộng sản ở Việt Nam. Người còn nắm bắt nhanh chóng được tình hình cách mạng trong nước để
triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất của Việt Nam, lấy tên
là Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của Đảng ta chính là nhờ vào công lao to lớn của Người – Chủ tịch Hồ Chí Minh.
b. Sự lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc khác với các nhà chí sĩ yêu nước:
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Quỳnh Trang…………………- Mã LHP: H2106HCMI0131......................Trang 3/7
Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra những hạn chế của các nhà yêu nước trước đó trong việc xác định
mục tiêu, đối tượng, nhiệm vụ cách mạng; và cả những hạn chế về phương thức, phương pháp đấu
tranh; về nhận thức “bạn - thù” của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ ở Việt Nam. Đây chính là những
bài học, những cơ sở lịch sử đầu tiên để Người có sự lựa chọn đúng đắn trong quá trình tìm đường cứu
nước. Người nhận thấy được rằng các phong trào yêu nước trước đó chưa giải quyết được vấn đề mà
lịch sử đặt ra, còn bị hạn chế về tư tưởng tổ chức và thiếu lí luận soi đường đi đúng đắn. Mục tiêu nhất
quán, xuyên suốt trong cuộc ra đi của Nguyễn Ái Quốc là phải tìm con đường để vừa giành được độc
lập cho Tổ quốc, vừa mang lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa
Nguyễn Tất Thành với các nhà yêu nước đương thời, đã dẫn đến những khác nhau trong tư duy, trong
hoạt động thực tiễn và cả trong việc lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam.
Nguyễn Ái Quốc rất khâm phục tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân, chí sĩ xả thân vì
nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Người cho rằng, chủ
trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ
lòng thương”; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa
hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc lúc đó là tự ra đi tìm đường cứu nước,
không dựa dẫm vào nước nào và không kêu gọi nước khác giúp mình. Chính vì vậy, Người muốn sang
phương Tây tìm hiểu họ làm như thế nào để về giúp đồng bào mình và đích đến của Người là nước
Pháp – kẻ thù của dân tộc và là nơi có khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng - Bác ái”.
Trên hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã tìm hiểu sâu sắc các cuộc cách mạng
điển hình trên thế giới. Người đề cao những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và quyền con người của
các cuộc cách mạng tư sản nhưng Người cũng nhận thức rõ và phê phán bản chất không triệt để của
các cuộc cách mạng tư sản. Đây cũng là cơ sở để Nguyễn Ái Quốc khẳng định một cách dứt khoát
rằng: Con đường cách mạng tư sản không thể đưa lại độc lập và hạnh phúc thực sự cho nhân dân các
nước nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng.
Mục đích của cuộc ra đi của Nguyễn Ái Quốc khác với các bậc tiền bối. Nếu như phần lớn những
người Việt Nam đi ra nước ngoài lúc bấy giờ là để tìm sự giúp đỡ của bên ngoài, cầu ngoại viện để
đánh Pháp, thì Nguyễn Ái Quốc ra đi là để tìm con đường, cách thức đánh đuổi thực dân Pháp, giải
phóng dân tộc, giải phóng đồng bào.
Một điểm khác biệt nữa trong hướng đi Người đó là đã chọn Pháp là điểm đến. Người đã bị hấp
dẫn bởi những truyền thống tự do, bình đẳng, bác ái và nền văn minh của Pháp. Đi sang Pháp tìm hiểu
tận gốc kẻ thù đang áp bức nô dịch đất nước mình, để từ đó có phương pháp và vũ khí phù hợp đánh đuổi chúng.
Cách ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc cũng rất khác với các nhà yêu nước trước
đó. Người đã ra đi với hai bàn tay trắng, làm tất cả mọi việc như phụ bếp, cào tuyết, làm vườn... Người
đã hòa mình, gần gũi với cuộc sống của nhân dân lao động, để hiểu được nỗi thống khổ, nguyện vọng
và ý chí của họ từ đó đồng cảm với họ. Cuộc hành trình của mình với sự lăn lộn trong cuộc sống lao
động và đấu tranh của nhân dân các nước, với tầm hiểu biết rộng lớn và vốn thực tiễn sâu sắc, Nguyễn
Ái Quốc đã nhận thức về thế giới và thời đại theo một lập trường và quan điểm mới so với các nhà yêu
nước đương thời. Đó là nhận điện đúng đắn kẻ thù chung của cách mạng thế giới - chủ nghĩa thực dân
đế quốc; nhận thức đúng đắn về lực lượng cơ bản của cách mạng thế giới - nhân dân lao động.
Một điểm khác nữa là Nguyễn Ái Quốc đã nhìn ra được điểm sáng của cách mạng Nga. Người
đặc biệt quan tâm, tìm hiểu, cuộc Cách mạng Tháng Mười; liên hệ giữa cách mạng Nga năm 1917 với
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Quỳnh Trang…………………- Mã LHP: H2106HCMI0131......................Trang 4/7
yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam và rút ra kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách
mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự
do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang
bên An Nam...Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng
(công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại
là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”.
Sau khi Bản yêu sách tám điểm của Người với bút danh Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị hòa
bình ở Véc xây - Pháp (1919) không được xem xét, Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ bộ mặt thật của chủ nghĩa
đế quốc; muốn được giải phóng các dân tộc thuộc địa không có con đường nào khác ngoài con đường
đấu tranh; và các dân tộc chỉ có thể dựa vào lực lượng của bản thân mình, vào chính thực lực của bản nhân dân mình.
Có thể nói, hành trình ra đi tìm đường cứu nước và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam của
Nguyễn Ái Quốc đầy vất vả, gian lao; đã giúp tôi học hỏi được ở Người tinh thần nghị lực, lòng yêu
nước sâu sắc. Chặng đường 30 năm hoạt động cách mạng của Bác gặp rất nhiều khó khăn, vất vả; Bác
đã phải nhiều lần đổi tên, hai lần vào tù, hai lần giả chết; vậy mà Bác vẫn kiên trì lập trường với lòng
yêu nước, thương dân sâu sắc để giúp đất nước ta được độc lập, được giải phóng; nhân dân ta được tự
do, hạnh phúc. Từ đó, mỗi bản thân chúng ta cần phải cố gắng học tập và xây dựng đất nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa ngày càng phát triển, để không phụ công lao của Bác cũng như của các anh hùng
dân tộc đã hi sinh để bảo vệ Tổ quốc. Câu 2:
a. Đặc điểm của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới được nêu ra trong đại hội IV (1976) của Đảng
Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí
Minh lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất
đất nước. Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất,
cùng thực hiện một nhiệm vụ chiến lược là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ
nghĩa xã hội trong cả nước. Trước hoàn cảnh lịch sử trong nước và thế giới có nhiều thuận lợi đồng
thời cũng có nhiều khó khăn thách thức cùng với đó là những yêu cầu mới của cách mạng, Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã được tiến hành tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 14 đến ngày
20/12/1976. Đại hội đã tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khẳng định thắng lợi của nhân
dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mãi đi vào lịch sử dân tộc như một trong những
trang chói lọi nhất và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có ý
nghĩa quốc tế quan trọng, có tính thời đại sâu sắc. Đặc biệt, Đại hội đã phân tích tình hình thế giới,
trong nước và nêu lên ba đặc điểm lớn của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới:
“Một là, nước ta đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất
nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Sau 20 năm xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu như xóa bỏ giai cấp bóc lột,
xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, đời sống của nhân dân được cải thiện; tuy nhiên sản xuất
nhỏ vẫ là đặc điểm chủ yếu của nền kinh tế miền Bắc. Miền Nam vừa thoát ra từ một xã hội thuộc địa
kiểu mới, kinh tế về cơ bản vẫn còn là sản xuất nhỏ.
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Quỳnh Trang…………………- Mã LHP: H2106HCMI0131......................Trang 5/7
“Hai là, Tổ quốc ta đã hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội với nhiều
thuận lợi rất lớn, song cũng còn nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh và tàn dư của chủ nghĩa
thực dân mới gây ra”. Đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội với tinh thần cách mạng đang đi lên sau khi
giành thắng lợi, nhân dân ta cần cù, sáng tạo, chú trọng với độc lập và chủ nghĩa xã hội, có Đảng Cộng
sản lãnh đạo, và còn có những điều kiện về tài nguyên phong phú. Bên cạnh đó, cũng gặp nhiều khó
khăn do hậu quả của chiến tranh như di chứng do chất phóng xạ gây ra trên cơ thể nhân dân ta.
“Ba là, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta tiến hành trong hoàn cảnh quốc tế thuận lợi, song
cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa thế lực cách mạng và thế lực phản cách mạng trên thế giới còn gay
go, quyết liệt”. Các thể lực phản cách mạng quốc tế có nhiều âm mưu, hành động tinh vi thâm độc
chống phá phong trào cộng sản quốc tế.
Ba đặc điểm đó đã chỉ ra, Việt Nam có đủ điều kiện đi lên và xây dựng thành công chủ nghĩa xã
hội, nhưng đó là sự nghiệp khó khăn, phức tạp, lâu dài, đòi hỏi Đảng và nhân dân ta phải phát huy cao
độ tính chủ động, tự giác, sáng tạo trong quá trình cách mạng. Từ 3 đặc điểm đó, Đảng ta đã xác định
và phân tích những điều kiện thuận lợi lẫn khó khăn để xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội. Và từ
đó có thể khẳng định đó chính là chiến lược cách mạng Việt Nam bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản
chủ nghĩa là đặc điểm lớn nhất của Việt Nam để đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội.
Đại hội lần thứ IV là đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc, là đại hội đặt dấu mốc
cho sự nghiệp thống nhất đất nước. Đại hội đã khẳng định và xác định đường lối đưa cả nước tiến lên
chủ nghĩa xã hội. Đại hội đã cổ vũ, động viên tinh thần cho toàn Đảng, toàn dân ra sức lao động thông
minh, sáng tạo, chăm chỉ để xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Mặc dù còn nhiều hạn chế,
nhưng các đặc điểm lớn mà Đại hội chỉ ra của Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là tiền đề, là
bước tiến để Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội sau này, và phát triển hơn ở các kỳ đại hội sau.
b. Đặc điểm lớn nhất của cách mạng Việt Nam giai đoạn này:
Trong ba đặc điểm trên, đặc điểm lớn nhất là đặc điểm đầu tiên: “Nước ta đang ở trong quá trình
từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai
đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Điều này đã được khẳng định trong cương lĩnh đầu tiên của chủ tịch
Hồ Chí Minh, đến sau này các văn kiện của Đảng đều khẳng định nước ta tiến lên Chủ nghĩa xã hội, bỏ
qua giai đoạn phát triển Tư bản chủ nghĩa.
Đất nước ta xuất phát từ một xã hội vốn thuộc địa nửa phong kiến, lực lượng sản xuất thấp lại
còn phải trải qua chiến tranh ác liệt, kéo dài nhiều thập kỷ, gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề; trong khi
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới diễn ra rất mạnh mẽ. Nền sản xuất vật chất và đời
sống xã hội của nước ta đang trong quá trình quốc tế hóa, ảnh hưởng lớn đến nhịp độ phát triển của
lịch sử. Trước tình hình đó, để nước ta có thể phát triển, theo kịp với tốc độ phát triển trên thế giới thì
quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa là lựa chọn duy nhất, khoa học
nhất và phản ánh đúng quy luật phát triển khách quan của cách mạng Việt Nam. Việc bỏ qua chế độ Tư
bản chủ nghĩa, về cơ bản, chính là: “bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến
trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được
dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản
xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”
Quá trình tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa là một đặc điểm lớn
của Đại hội IV, bởi nó cho thấy Đảng ta đã vận dụng đúng đắn tư tưởng Mác-Lênin trong việc xác định
phương hướng phát triển của đất nước, giúp chúng ta rút ngắn quá trình và có thể đuổi kịp các nước
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Quỳnh Trang…………………- Mã LHP: H2106HCMI0131......................Trang 6/7
khác. Đó chính là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta.
Hơn nữa, việc bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, tiến thắng lên chủ nghĩa xã hội còn phù hợp với
ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Đất nước được thống nhất, nhưng đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân ta vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh, mỗi người dân ai cũng đều mong muốn có
thể cải thiện điều đó. Chính vì vậy, việc tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội giúp nền kinh tế nước ta nhanh
chóng được khôi phục và cải thiện, mở rộng quan hệ hợp tác với các nước khác giúp chúng ta có nhiều
cơ hội hơn để khắc phục kinh tế. Từ đó, cuộc sống của nhân dân bớt đi lầm than, đầy đủ và ấm no.
Việc Việt Nam “đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn
của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử…
Đây là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra
sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá
độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen”. Cũng như lịch
sử xã hội loài người nói chung, việc bỏ qua giai đoạn phát triển Tư bản chủ nghĩa quá độ lên Chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan của nền kinh tế
Trong điều kiện kinh tế thế giới có bước nhảy vọt về cơ sở vật chất - kỹ thuật, xã hội loài người
đòi hỏi phát triển lên một xã hội mới của nền văn minh cao hơn - đó là nền văn minh của kinh tế tri
thức. Do đó, quá độ lên Chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển hợp quy luật khách quan. Bối cảnh,
điều kiện quốc tế mới nêu trên đã tạo khả năng để Việt Nam chúng ta thực hiện quá độ lên Chủ nghĩa
xã hội bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghĩa. Nước ta đã giành được độc lập dân tộc, có chính quyền của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Có thể thấy, với những thành tựu, và tất cả những gì mà đất nước ta có được ngày hôm nay, đã
chứng minh được rằng con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển Tư bản chủ
nghĩa là một đặc điểm lớn nhất của Đại hội IV nói riêng, cách mạng Việt Nam nói chung. Bởi đó là
một bước quan trọng đánh dấu sự phát triển trong nhận thức, tư duy, lý luận của Đảng trên con đường
phát triển đất nước. Và con đường tiến thẳng lên Chủ nghĩa xã hội cho đến tận bây giờ vẫn hoàn toàn
đúng đắn, giúp đất nước ta ngày càng phát triển giàu mạnh. ---Hết---
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Quỳnh Trang…………………- Mã LHP: H2106HCMI0131......................Trang 7/7
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ NĂM HỌC 2020 – 2021
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Số báo danh: 107 Mã số đề thi: Lớp: Ngày thi: Số trang: 06 Họ và tên: Điểm kết luận: 7.8 điểm GV chấm thi 1: GV chấm thi 2: Bài làm: Câu 1:
a. Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
❖Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam – con đường Cách mạng Vô sản.
Nguyễn Ái Quốc sinh ra trong hoàn cảnh nước mất, nhà tan, tuổi thơ lớn lên chứng kiến các cuộc
khởi nghĩa của nhân dân bị thất bại và chìm trong biển máu. Các phong trào yêu nước, đòi độc lập của
nhân dân ta trước khi có Đảng đi theo khuynh hướng dân chủ tư sản đều lần lượt thất bại; đất nước rơi
vào tình trạng bế tắc, khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước. Trước tình hình đó, yêu cầu ta
phải tìm ra con đường cứu nước mới, giải phóng dân tộc; chính vì vậy Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm
đường cứu nước theo phương hướng mới.
Năm 1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Người đã đi qua nhiều nước trên thế
giới, xem người ta làm thế nào để trở về giúp đồng bào mình. Qua quá trình thâm nhập thực tiễn cách
mạng, qua nghiên cứu các cuộc cách mạng của các nước tư bản chủ nghĩa, đồng thời tham gia vào các
phong trào của các giai cấp và nhân dân lao động các nước; Người đã nhận ra các cuộc cách mạng tư
sản của Mỹ và Pháp là các cuộc cách mạng không đến nơi, không triệt để vì chưa đem lại tự do và ấm
no cho nhân dân lao động. Năm 1917, thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga đã ảnh hưởng lớn đến nhận thức của Người.
Đến năm 1919, sau khi chiến tranh Thế giới thứ Nhất kết thúc, các nước tư bản đã tiến hành hội
nghị Véc-xây để phân chia quyền lợi, chia lại thị trường thuộc địa. Thời điểm đó, Nguyễn Ái Quốc đã
gửi bản yêu sách tám điểm của nhân dân An Nam đến hội nghị Véc-xây, nhưng không được chấp nhận.
Từ đó, Người đã rút ra được muốn giành được độc lập phải dựa vào sức mình là chính.
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Quỳnh Trang…………………- Mã LHP: H2106HCMI0131......................Trang 1/7
Tháng 7/1920, lần đầu tiên Người đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân
tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin. Nội dung của bản luận cương đã đáp ứng được các nguyện vọng
mà Nguyễn Ái Quốc đã ấp ủ và tìm kiếm để có thể hoạch định con đường giải phóng cho dân tộc Việt
Nam. Từ đó, Người đã tin vào chủ nghĩa Mác-Lênin và xác định con đường cứu nước cho dân tộc, đó
là còn đường Cách mạng Vô sản. Và đến tháng 12/1920, Người mới có thể chuyển niềm tin đó thành
hành động. Đó là tại Đại hội của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia sáng lập Đảng Cộng
sản Pháp và gia nhập Quốc tế Cộng sản; và đã trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản đầu tiên là người
Việt Nam trên thế giới. Sự kiện này đã đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong quá trình hoạt động cách mạng của Người.
⇨Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước chỉ mang trong mình chủ nghĩa yêu nước chân
chính, nhưng từ khi đọc được luận cương của Lênin, cho đến khi tham gia vào sáng lập Đảng
Cộng sản Pháp và trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản đầu tiên, Người đã có sự chuyển biến rất
rõ ràng về chất trong tư tưởng, nhận thức và trình độ. Người ra đi tìm đường cứu nước từ chủ
nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, từ người yêu nước trở thành người chiến sĩ Cộng
sản. Và Người khẳng định: “ Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào
khác con đường Cách mạng Vô sản”
❖Sau khi xác định được con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc, Nguyễn Ái Quốc tích cực
truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam.
Hoàn cảnh Việt Nam lúc bấy giờ với khoảng 90% dân số là mù chữ thì việc truyền bá chủ nghĩa
Mác-Lênin tới người dân không thể thực hiện ngay được mà đó là một quá trình lâu dài, từ từ và thấm
nhuần. Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn truyền bá tới tầng lớp tiến bộ nhất là tầng lớp tri thức rồi
sau đó vào các tầng lớp khác. Người chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng:
Về tư tưởng: Người truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam bằng cách viết và gửi sách
báo, tài liệu về Việt Nam qua con đường theo chân các thủy thủ nhằm chuyển biến nhận thức của quần
chúng, đặc biệt là giai cấp công nhân, làm cho hệ tư tưởng Mác-Lênin từng bước chiếm ưu thế trong
đời sống xã hội, làm chuyển biến mạnh mẽ phong trào yêu nước theo lập trường của giai cấp công
nhân. Từ giữa năm 1921, tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội liên hiệp thuộc địa, sau đó sáng lập
tờ báo Người cùng khổ. Năm 1922, Nguyễn Ái Quốc được cử làm Trưởng Tiểu ban Nghiên cứu về
Đông Dương, Người đã tích cực tố cáo, lên án bản chất xấu xa của thực dân Pháp đối với nhân dân các
nước thuộc địa, nhân dân Việt Nam; khơi dậy tinh thần yêu nước, thức tỉnh tinh thần dân tộc nhằm
đánh đuổi thực dân pháp xâm lược. Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “ Đảng muốn vững phải
có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”.
Về chính trị: Nguyễn Ái Quốc đưa ra những luận điểm quan trọng về cách mạng giải phóng dân
tộc. Người khẳng định rằng con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức là giải phóng giai cấp, giải
phóng dân tộc. Đường lối chính trị của Đảng cách mạng phải hướng tới giành độc lập cho dân tộc, tự
do, hạnh phúc cho đồng bào, hướng tới xây dựng nhà nước mang lại quyền và lợi ích cho nhân dân.
Người đã xác định cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa là một bộ phận của cách mạng
vô sản thế giới. Nguyễn Ái Quốc còn khẳng định: “Cách mạng trước hết phải có đảng cách mệnh, để
trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi
nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”.
Năm 1928, phong trào “Vô sản hóa” do Kỳ bộ Bắc Kỳ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên phát động
đã góp phần truyền bá tư tưởng vô sản, rèn luyện cán bộ và xây dựng phát triển tổ chức của công nhân.
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Quỳnh Trang…………………- Mã LHP: H2106HCMI0131......................Trang 2/7
Về tổ chức: Cùng với việc truyền bá lý luận chính trị để chuẩn bị cho sự ra đời của một chính
đảng, Người đã dày công chuẩn bị về mặt tổ chức. Tháng 11/1924, Người đến Quảng Châu (Trung
Quốc) để đào tạo cán bộ, xúc tiến các công việc tổ chức thành lập Đảng Cộng sản. Tháng 2/1925,
Người lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã, lập ra nhóm Cộng sản đoàn. Đến tháng
6/1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, để vừa chuẩn bị cán bộ, vừa
truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ năm 1921 đến năm 1927, các tác phẩm của Người được tập hợp và
xuất bản thành cuốn Đường Cách mệnh. Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên chưa phải là chính đảng
cộng sản, nhưng quá trình hoạt động, chương trình hành động đã thể hiện quan điểm, lập trường của
giai cấp công nhân, là tổ chức tiền thân dẫn tới ra đời các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam. Hội là tổ chức
trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và cũng là sự chuẩn bị quan trọng về tổ chức để
tiến tới thành lập chính đảng của giai cấp công nhân ở Việt Nam. Phong trào công nhân cũng phát triển
từ tự phát sang tự giác.
Chỉ trong vòng nửa cuối năm 1929, ba tổ chức cộng sản trên cả nước lần lượt ra đời. Tháng 3/1929,
Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập tại Bắc Kỳ. Trước ảnh hưởng của Đông Dương Cộng sản
Đảng, tháng 11/1929, tại Nam Kỳ, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập. Tháng 9/1929, tại Trung
Kỳ, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập. Đây là sự phân hóa tích cực, khẳng định bước
phát triển về chất của phong trào yêu nước Việt Nam. Tuy nhiên ba tổ chức cộng sản này ra đời đều
muốn nâng tầm ảnh hưởng, vì vậy đã tranh giành lẫn nhau, gây ra những hiệu ứng tiêu cực đối với
cách mạng Việt Nam; gây nên sự phân tán về lực lượng và thiếu thống nhất về tổ chức trên cả nước.
Điều này, đã đề ra nhu cầu cấp bách thành lập một chính đảng có đủ khả năng tập hợp lực lượng toàn
dân tộc và đảm nhiệm vai trò lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc.
❖Trước tình hình đó, Nguyễn Ái Quốc đã hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản Đảng, Người đứng ra chủ
trì hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ ngày 6/1/1930 đến ngày 7/2/1930, hội nghị thành lập Đảng được tiến hành tại Hương Cảng,
Trung Quốc. Sau hơn một tháng làm việc khẩn trương trong hoàn cảnh bí mật, Hội nghị đã quyết định
thống nhất các tổ chức cộng sản, thành lập một đảng cộng sản chân chính duy nhất ở Việt Nam lấy tên
là Đảng Cộng sản Việt Nam; cử ra ban chấp hành trung ưng lâm thời; thông qua Chánh cương vắn tắt,
Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng. Đến ngày 24-2-1930, việc thống
nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất được hoàn thành. Từ đây, cả ba tổ chức cộng
sản Việt Nam đã thống nhất trọn vẹn vào một Đảng cộng sản duy nhất. Đặc biệt Chánh cương vắn tắt,
Sách lược vắn tắt còn được coi là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, nó như một sợi chỉ đỏ xuyên
suốt sau này trong việc định hướng cho cách mạng Việt Nam khi tiến hành giải phóng dân tộc.
Có thể thấy, vai trò lớn lao, cao cả của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam được thể hiện ở việc Người đã sáng suốt, nhạy bén, tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng
dân tộc và ngay sau đó đã khẩn trương, tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào cách mạng Việt
Nam; tích cực chuẩn bị mọi mặt từ tư tưởng, chính trị, đến các tổ chức để dẫn tới sự ra đời của các tổ
chức cộng sản ở Việt Nam. Người còn nắm bắt nhanh chóng được tình hình cách mạng trong nước để
triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất của Việt Nam, lấy tên
là Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của Đảng ta chính là nhờ vào công lao to lớn của Người – Chủ tịch Hồ Chí Minh.
b. Sự lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc khác với các nhà chí sĩ yêu nước:
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Quỳnh Trang…………………- Mã LHP: H2106HCMI0131......................Trang 3/7
Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra những hạn chế của các nhà yêu nước trước đó trong việc xác định
mục tiêu, đối tượng, nhiệm vụ cách mạng; và cả những hạn chế về phương thức, phương pháp đấu
tranh; về nhận thức “bạn - thù” của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ ở Việt Nam. Đây chính là những
bài học, những cơ sở lịch sử đầu tiên để Người có sự lựa chọn đúng đắn trong quá trình tìm đường cứu
nước. Người nhận thấy được rằng các phong trào yêu nước trước đó chưa giải quyết được vấn đề mà
lịch sử đặt ra, còn bị hạn chế về tư tưởng tổ chức và thiếu lí luận soi đường đi đúng đắn. Mục tiêu nhất
quán, xuyên suốt trong cuộc ra đi của Nguyễn Ái Quốc là phải tìm con đường để vừa giành được độc
lập cho Tổ quốc, vừa mang lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa
Nguyễn Tất Thành với các nhà yêu nước đương thời, đã dẫn đến những khác nhau trong tư duy, trong
hoạt động thực tiễn và cả trong việc lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam.
Nguyễn Ái Quốc rất khâm phục tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân, chí sĩ xả thân vì
nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Người cho rằng, chủ
trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ
lòng thương”; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa
hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc lúc đó là tự ra đi tìm đường cứu nước,
không dựa dẫm vào nước nào và không kêu gọi nước khác giúp mình. Chính vì vậy, Người muốn sang
phương Tây tìm hiểu họ làm như thế nào để về giúp đồng bào mình và đích đến của Người là nước
Pháp – kẻ thù của dân tộc và là nơi có khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng - Bác ái”.
Trên hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã tìm hiểu sâu sắc các cuộc cách mạng
điển hình trên thế giới. Người đề cao những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và quyền con người của
các cuộc cách mạng tư sản nhưng Người cũng nhận thức rõ và phê phán bản chất không triệt để của
các cuộc cách mạng tư sản. Đây cũng là cơ sở để Nguyễn Ái Quốc khẳng định một cách dứt khoát
rằng: Con đường cách mạng tư sản không thể đưa lại độc lập và hạnh phúc thực sự cho nhân dân các
nước nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng.
Mục đích của cuộc ra đi của Nguyễn Ái Quốc khác với các bậc tiền bối. Nếu như phần lớn những
người Việt Nam đi ra nước ngoài lúc bấy giờ là để tìm sự giúp đỡ của bên ngoài, cầu ngoại viện để
đánh Pháp, thì Nguyễn Ái Quốc ra đi là để tìm con đường, cách thức đánh đuổi thực dân Pháp, giải
phóng dân tộc, giải phóng đồng bào.
Một điểm khác biệt nữa trong hướng đi Người đó là đã chọn Pháp là điểm đến. Người đã bị hấp
dẫn bởi những truyền thống tự do, bình đẳng, bác ái và nền văn minh của Pháp. Đi sang Pháp tìm hiểu
tận gốc kẻ thù đang áp bức nô dịch đất nước mình, để từ đó có phương pháp và vũ khí phù hợp đánh đuổi chúng.
Cách ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc cũng rất khác với các nhà yêu nước trước
đó. Người đã ra đi với hai bàn tay trắng, làm tất cả mọi việc như phụ bếp, cào tuyết, làm vườn... Người
đã hòa mình, gần gũi với cuộc sống của nhân dân lao động, để hiểu được nỗi thống khổ, nguyện vọng
và ý chí của họ từ đó đồng cảm với họ. Cuộc hành trình của mình với sự lăn lộn trong cuộc sống lao
động và đấu tranh của nhân dân các nước, với tầm hiểu biết rộng lớn và vốn thực tiễn sâu sắc, Nguyễn
Ái Quốc đã nhận thức về thế giới và thời đại theo một lập trường và quan điểm mới so với các nhà yêu
nước đương thời. Đó là nhận điện đúng đắn kẻ thù chung của cách mạng thế giới - chủ nghĩa thực dân
đế quốc; nhận thức đúng đắn về lực lượng cơ bản của cách mạng thế giới - nhân dân lao động.
Một điểm khác nữa là Nguyễn Ái Quốc đã nhìn ra được điểm sáng của cách mạng Nga. Người
đặc biệt quan tâm, tìm hiểu, cuộc Cách mạng Tháng Mười; liên hệ giữa cách mạng Nga năm 1917 với
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Quỳnh Trang…………………- Mã LHP: H2106HCMI0131......................Trang 4/7
yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam và rút ra kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách
mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự
do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang
bên An Nam...Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng
(công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại
là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”.
Sau khi Bản yêu sách tám điểm của Người với bút danh Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị hòa
bình ở Véc xây - Pháp (1919) không được xem xét, Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ bộ mặt thật của chủ nghĩa
đế quốc; muốn được giải phóng các dân tộc thuộc địa không có con đường nào khác ngoài con đường
đấu tranh; và các dân tộc chỉ có thể dựa vào lực lượng của bản thân mình, vào chính thực lực của bản nhân dân mình.
Có thể nói, hành trình ra đi tìm đường cứu nước và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam của
Nguyễn Ái Quốc đầy vất vả, gian lao; đã giúp tôi học hỏi được ở Người tinh thần nghị lực, lòng yêu
nước sâu sắc. Chặng đường 30 năm hoạt động cách mạng của Bác gặp rất nhiều khó khăn, vất vả; Bác
đã phải nhiều lần đổi tên, hai lần vào tù, hai lần giả chết; vậy mà Bác vẫn kiên trì lập trường với lòng
yêu nước, thương dân sâu sắc để giúp đất nước ta được độc lập, được giải phóng; nhân dân ta được tự
do, hạnh phúc. Từ đó, mỗi bản thân chúng ta cần phải cố gắng học tập và xây dựng đất nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa ngày càng phát triển, để không phụ công lao của Bác cũng như của các anh hùng
dân tộc đã hi sinh để bảo vệ Tổ quốc. Câu 2:
a. Đặc điểm của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới được nêu ra trong đại hội IV (1976) của Đảng
Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí
Minh lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất
đất nước. Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất,
cùng thực hiện một nhiệm vụ chiến lược là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ
nghĩa xã hội trong cả nước. Trước hoàn cảnh lịch sử trong nước và thế giới có nhiều thuận lợi đồng
thời cũng có nhiều khó khăn thách thức cùng với đó là những yêu cầu mới của cách mạng, Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã được tiến hành tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 14 đến ngày
20/12/1976. Đại hội đã tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khẳng định thắng lợi của nhân
dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mãi đi vào lịch sử dân tộc như một trong những
trang chói lọi nhất và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có ý
nghĩa quốc tế quan trọng, có tính thời đại sâu sắc. Đặc biệt, Đại hội đã phân tích tình hình thế giới,
trong nước và nêu lên ba đặc điểm lớn của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới:
“Một là, nước ta đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất
nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Sau 20 năm xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu như xóa bỏ giai cấp bóc lột,
xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, đời sống của nhân dân được cải thiện; tuy nhiên sản xuất
nhỏ vẫ là đặc điểm chủ yếu của nền kinh tế miền Bắc. Miền Nam vừa thoát ra từ một xã hội thuộc địa
kiểu mới, kinh tế về cơ bản vẫn còn là sản xuất nhỏ.
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Quỳnh Trang…………………- Mã LHP: H2106HCMI0131......................Trang 5/7
“Hai là, Tổ quốc ta đã hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội với nhiều
thuận lợi rất lớn, song cũng còn nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh và tàn dư của chủ nghĩa
thực dân mới gây ra”. Đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội với tinh thần cách mạng đang đi lên sau khi
giành thắng lợi, nhân dân ta cần cù, sáng tạo, chú trọng với độc lập và chủ nghĩa xã hội, có Đảng Cộng
sản lãnh đạo, và còn có những điều kiện về tài nguyên phong phú. Bên cạnh đó, cũng gặp nhiều khó
khăn do hậu quả của chiến tranh như di chứng do chất phóng xạ gây ra trên cơ thể nhân dân ta.
“Ba là, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta tiến hành trong hoàn cảnh quốc tế thuận lợi, song
cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa thế lực cách mạng và thế lực phản cách mạng trên thế giới còn gay
go, quyết liệt”. Các thể lực phản cách mạng quốc tế có nhiều âm mưu, hành động tinh vi thâm độc
chống phá phong trào cộng sản quốc tế.
Ba đặc điểm đó đã chỉ ra, Việt Nam có đủ điều kiện đi lên và xây dựng thành công chủ nghĩa xã
hội, nhưng đó là sự nghiệp khó khăn, phức tạp, lâu dài, đòi hỏi Đảng và nhân dân ta phải phát huy cao
độ tính chủ động, tự giác, sáng tạo trong quá trình cách mạng. Từ 3 đặc điểm đó, Đảng ta đã xác định
và phân tích những điều kiện thuận lợi lẫn khó khăn để xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội. Và từ
đó có thể khẳng định đó chính là chiến lược cách mạng Việt Nam bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản
chủ nghĩa là đặc điểm lớn nhất của Việt Nam để đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội.
Đại hội lần thứ IV là đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc, là đại hội đặt dấu mốc
cho sự nghiệp thống nhất đất nước. Đại hội đã khẳng định và xác định đường lối đưa cả nước tiến lên
chủ nghĩa xã hội. Đại hội đã cổ vũ, động viên tinh thần cho toàn Đảng, toàn dân ra sức lao động thông
minh, sáng tạo, chăm chỉ để xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Mặc dù còn nhiều hạn chế,
nhưng các đặc điểm lớn mà Đại hội chỉ ra của Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là tiền đề, là
bước tiến để Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội sau này, và phát triển hơn ở các kỳ đại hội sau.
b. Đặc điểm lớn nhất của cách mạng Việt Nam giai đoạn này:
Trong ba đặc điểm trên, đặc điểm lớn nhất là đặc điểm đầu tiên: “Nước ta đang ở trong quá trình
từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai
đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Điều này đã được khẳng định trong cương lĩnh đầu tiên của chủ tịch
Hồ Chí Minh, đến sau này các văn kiện của Đảng đều khẳng định nước ta tiến lên Chủ nghĩa xã hội, bỏ
qua giai đoạn phát triển Tư bản chủ nghĩa.
Đất nước ta xuất phát từ một xã hội vốn thuộc địa nửa phong kiến, lực lượng sản xuất thấp lại
còn phải trải qua chiến tranh ác liệt, kéo dài nhiều thập kỷ, gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề; trong khi
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới diễn ra rất mạnh mẽ. Nền sản xuất vật chất và đời
sống xã hội của nước ta đang trong quá trình quốc tế hóa, ảnh hưởng lớn đến nhịp độ phát triển của
lịch sử. Trước tình hình đó, để nước ta có thể phát triển, theo kịp với tốc độ phát triển trên thế giới thì
quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa là lựa chọn duy nhất, khoa học
nhất và phản ánh đúng quy luật phát triển khách quan của cách mạng Việt Nam. Việc bỏ qua chế độ Tư
bản chủ nghĩa, về cơ bản, chính là: “bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến
trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được
dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản
xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”
Quá trình tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa là một đặc điểm lớn
của Đại hội IV, bởi nó cho thấy Đảng ta đã vận dụng đúng đắn tư tưởng Mác-Lênin trong việc xác định
phương hướng phát triển của đất nước, giúp chúng ta rút ngắn quá trình và có thể đuổi kịp các nước
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Quỳnh Trang…………………- Mã LHP: H2106HCMI0131......................Trang 6/7
khác. Đó chính là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta.
Hơn nữa, việc bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, tiến thắng lên chủ nghĩa xã hội còn phù hợp với
ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Đất nước được thống nhất, nhưng đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân ta vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh, mỗi người dân ai cũng đều mong muốn có
thể cải thiện điều đó. Chính vì vậy, việc tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội giúp nền kinh tế nước ta nhanh
chóng được khôi phục và cải thiện, mở rộng quan hệ hợp tác với các nước khác giúp chúng ta có nhiều
cơ hội hơn để khắc phục kinh tế. Từ đó, cuộc sống của nhân dân bớt đi lầm than, đầy đủ và ấm no.
Việc Việt Nam “đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn
của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử…
Đây là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra
sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá
độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen”. Cũng như lịch
sử xã hội loài người nói chung, việc bỏ qua giai đoạn phát triển Tư bản chủ nghĩa quá độ lên Chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan của nền kinh tế
Trong điều kiện kinh tế thế giới có bước nhảy vọt về cơ sở vật chất - kỹ thuật, xã hội loài người
đòi hỏi phát triển lên một xã hội mới của nền văn minh cao hơn - đó là nền văn minh của kinh tế tri
thức. Do đó, quá độ lên Chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển hợp quy luật khách quan. Bối cảnh,
điều kiện quốc tế mới nêu trên đã tạo khả năng để Việt Nam chúng ta thực hiện quá độ lên Chủ nghĩa
xã hội bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghĩa. Nước ta đã giành được độc lập dân tộc, có chính quyền của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Có thể thấy, với những thành tựu, và tất cả những gì mà đất nước ta có được ngày hôm nay, đã
chứng minh được rằng con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển Tư bản chủ
nghĩa là một đặc điểm lớn nhất của Đại hội IV nói riêng, cách mạng Việt Nam nói chung. Bởi đó là
một bước quan trọng đánh dấu sự phát triển trong nhận thức, tư duy, lý luận của Đảng trên con đường
phát triển đất nước. Và con đường tiến thẳng lên Chủ nghĩa xã hội cho đến tận bây giờ vẫn hoàn toàn
đúng đắn, giúp đất nước ta ngày càng phát triển giàu mạnh. ---Hết---
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Quỳnh Trang…………………- Mã LHP: H2106HCMI0131......................Trang 7/7