



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BÀI THẢO LUẬN
Đề tài: Tìm hiểu con đường chi viện Bắc vào Nam trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước trên 2 con đường chi viện: 1.Đường bộ 2. Đường biển Học phần:
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Lan Hương Nhóm thực hiện: Nhóm 08
Lớp học phần: 2306HCN10131 Hà Nội – 2023
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ ST Họ và tên Chức vụ Nhiệm vụ T 78 Trần Văn Nguyễn Thành viên
Qúa trình hình thành và hoàn
thiện (Đường Biển); Bài học kinh nghiệm (Đường Bộ) 79 Phan Thị Hồng Nhung Thư ký
Tóm tắt; Thuyết trình; Bài học kinh nghiệm (Đường Bộ) 80 Đào Xuân Phúc Thành viên
Hoạt động + Bài học kinh nghiệm (Đường Bộ) 81 Hoàng Đình Phúc Thành viên
Chủ trương của Đảng; Bài học kinh nghiệm (Đường Bộ) 82 Lê Hà Phương Thành viên Powerpoint; Bài học kinh nghiệm (Đường Bộ) 83 Nguyễn Hà Phương Nhóm
Quá trình hình thành và hoàn trưởng
thiện (Đường Bộ); Tổng hợp 84 Nguyễn Thị Thu Thành viên
Nguyên nhân cuộc kháng chiến Phương
chống Mỹ, Bài học kinh nghiệm (Đường Biển) 85 Nguyễn Minh Quang Thành viên
WORD + mở đầu+kết luận; Bài
học kinh nghiệm (Đường Biển) 86 Sằn Văn Qúy Thành viên
Ý nghĩa (Đường Bộ); Bài học
kinh nghiệm (Đường Biển) 87 Nguyễn Thị Thanh Thành viên
Hoạt động (Đường Biển); Bài Tâm
học kinh nghiệm (Đường Biển) 88 Bùi Phương Thảo Thành viên
Ý nghĩa (đường Biển); Bài học
kinh nghiệm (đường Biển) MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................1
I NGUYÊN NHÂN CUỘC KHÁNG CHIẾN VÀ CHỦ TRƯƠNG HÌNH
THÀNH CON ĐƯỜNG CHI VIỆN...................................................................2
1.1 Nguyên nhân cuộc kháng chiến................................................................2
1.2 Chủ trương của Đảng về hình thành con đường chi viện......................4
II CÁC CON ĐƯỜNG CHI VIỆN.....................................................................7
2.1 Đường bộ.....................................................................................................7
2.1.1. Quá trình hình thành và hoàn thiện đường bộ..................................7
2.1.2 Ho t đông............................................................................................10
2.2 Đường biển...............................................................................................13
2.2.1 Quá trình hình thành và hoàn thiện đường biển............................13
2.2.2 Hoạt động...........................................................................................15
III Ý NGHĨA CỦA CÁC ĐƯỜNG CHI VIỆN ĐỐI VỚI CUỘC KHÁNG
CHIẾN................................................................................................................18
3.1 Đường bộ...................................................................................................19
3.2 Đường biển...............................................................................................20
IV BÀI HỌC KINH NGHIỆM.........................................................................23
4.1 Bài học kinh nghiệm đường bộ...............................................................23
4.2 Bài học kinh nghiệm cho đường biển.....................................................25
KẾT LUẬN........................................................................................................29
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................30 LỜI MỞ ĐẦU
Các con đường chi viện môn lịch sử đảng Việt Nam là một chủ đề rất quan
trọng trong nghiên cứu lịch sử của Việt Nam. Những con đường này đã chứng
kiến và ghi nhận những sự kiện, cuộc khởi nghĩa, cách mạng, chiến tranh và cả
những thăng trầm của Đảng Cộng sản Việt Nam - một tổ chức chính trị đã góp
phần quan trọng vào sự phát triển của Việt Nam trong suốt hơn 90 năm qua.
Với sự lãnh đạo của Đảng, các con đường này đã trở thành nơi gắn kết giữa
nhân dân và Đảng trong cuộc đấu tranh chống lại thực dân Pháp và sau đó là
Mỹ. Bằng việc tìm hiểu về các con đường này, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về lịch sử
của Đảng và đất nước Việt Nam. 1
I NGUYÊN NHÂN CUỘC KHÁNG CHIẾN VÀ CHỦ TRƯƠNG
HÌNH THÀNH CON ĐƯỜNG CHI VIỆN.
1.1 Nguyên nhân cuộc kháng chiến
Sau nhiều năm trường kỳ kháng chiến , dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ
tịch Hồ Chí Minh, quân dân ta đã giành thắng lợi lớn lao trong cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược, buộc Pháp ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông
Dương. Song, với hiệp định này, mục tiêu thống nhất, độc lập vẫn chưa được
thực hiện trên phạm vi cả nước. Đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền Bắc, Nam.
Trong khi miền Bắc bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết
thương chiến tranh thì đế quốc Mỹ đã hất cẳng Pháp, nhảy vào miền Nam, dựng
lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm
Với âm mưu thâm độc hòng “kéo dài biên giới Hoa Kỳ đến vĩ tuyến 17” và
tiến tới vượt sông Bến Hải tiến quân ra miền Bắc, ngăn chặn phong trào giải
phóng dân tộc và chủ nghĩa cộng sản đang lan tràn xuống khu vực Đông Nam
Á. Việc Mỹ chủ trương khẩn trương gạt Pháp là chủ trương đầy toan tính, xảo
quyệt. Để thực hiện âm mưu xâm lược, Mỹ đã thực hiện “kế hoạch CôLin”.
Theo đó Mỹ sẽ bảo trợ cho chính quyền Diệm, xây dựng lại quân đội quốc gia
của Diệm do Mỹ trực tiếp trang bị huấn luyện và chỉ huy. Đồng thời, tổ chức
bầu cử “Quốc hội ” để miền Nam Việt Nam thực hiện “độc lập” hợp pháp hóa chính quyền Diệm.
Đây là kế hoạch đầu tiên của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam được
thực hiện thông qua chính quyền tay sai, một hình thức thực dân giấu
mặt, trá hình nguy hiểm của đế quốc Mỹ.
Tình hình miền Nam càng trở nên căng thẳng hơn bởi hành động phá
hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, cự tuyệt hiệp thương của Mỹ- Diệm
Chúng dùng chính sách trả thù, khủng bố dã man, tàn bạo những người
kháng chiến cũ và những người yêu nước, đặc biệt là những người cộng sản 2
bằng các đợt “tố cộng, diệt cộng” gây nên bao đau thương tang tóc cho đồng bào
miền Nam. Việt Nam trở thành nơi đụng đầu lịch sử giữa phong trào độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa đế quốc. Cách mạng miền Nam đứng
trước thử thách mới phải trực tiếp đương đầu với Mỹ, một đế quốc có tiềm lực
quân sự, kinh tế mạnh, trở thành kẻ thù chính, kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta
và nhân dân Đông Phương.
Mục đích của Mỹ nhằm biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự,
làm bàn đạp tấn công miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn phong trào
cách mạng lan sang các nước Đông Nam Á và các khu vực trên toàn thế
giới, đe doạ tiến công các lực lượng cách mạng xã hội chủ nghĩa đang
phát triển trong khu vực mà Mỹ cho rằng các lực lượng đó đang đe doạ
đến quyền lợi của chúng
Mỹ cho x ây dựng con đê ngăn chặn làn sóng đấu tranh giải phóng dân tộc
dâng cao ở khu vực Đông Nam Á kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhất là
sau chiến tranh Điện Biên Phủ (5/1954) của Việt Nam. Nếu đánh bại được Việt
Nam, đế quốc Mỹ vừa có thể thử nghiệm thành công các chiến lược, chiến thuật
chiến tranh chống cộng, vừa có thể xoá bỏ được ảnh hưởng của cách mạng Việt
Nam ngọn cờ tiêu biểu cho ý chí độc lập, tự do và sự kết hợp giữa các trào lưu
cách mạng của thời đại, cho xu thế phát triển tất yếu khách quan của phong trào
đấu tranh giải phóng dân tộc hướng tới chủ nghĩa xã hội trên thế giới.
Chính vì vậy, một mặt chúng thanh lọc nội bộ, mặt khác chúng tiến hành
chiến dịch tố cộng, diệt cộng. Chúng chĩa mũi nhọn vào những người kháng
chiến cũ và những người yêu nước, những gia đình có con đi tập kết, những
người tán thành hoà bình, thống nhất. Đặc biệt là đội ngũ đảng viên cộng sản,
ngoài ra chúng còn tiến hành hàng trăm nghìn cuộc truy quét vây bắt, tàn sát
đẫm máu những người yêu nước, những người kháng chiến cũ
Chính sách phát xít của Mỹ - Diệm đã đặt cách mạng miền Nam vào
tình thế hiểm nghèo. Không những mục tiêu hoà bình thống nhất chưa 3
thể thực hiện được, mà ngay bản thân các lực lượng cách mạng có
nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn.
Trước âm mưu và thủ đoạn của đế quốc Mỹ, nhân dân ta không còn con
đường nào khác là phải đứng lên kháng chiến chống lại đế quốc Mỹ xâm
lược và bè lũ tay sai, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước
Tại Hội nghị lần thứ VI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II), Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Báo cáo chính trị. Báo cáo đã chỉ ra những khó
khăn trước mắt của nhân dân ta, chủ yếu là khó khăn do âm mưu xâm lược của
đế quốc Mỹ gây ra. Báo cáo khẳng định kẻ thù chính của nhân dân ta là đế quốc
Mỹ, “hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và nó đang trở
thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc
của ta đều nhằm chống Mỹ”, Người chỉ rõ "tranh lấy hoà bình không phải là
một việc dễ, nó là một cuộc đấu tranh trường kỳ, gian khổ, phức tạp” . Nhấn
mạnh, nhiệm vụ trước mắt là đấu tranh cho hoà bình, vì vậy phải tăng cường
lực lượng, củng cố quốc phòng đặc biệt chú ý vấn đề chỉ đạo giải phóng miền
Nam. Phải làm cho cán bộ, chiến sĩ, đồng bào hiểu rõ yêu cầu, nhiệm vụ những
khó khăn sẽ phải nhiều hơn và không được chủ quan khinh địch.
Chính sách khủng bố và chiến tranh của Mỹ đã làm cho mâu thuẫn giữa đế quốc
Mỹ và tay sai với nhân dân miền Nam Việt Nam thêm gay gắt , dẫn đến bùng nổ
các cuộc khởi nghĩa quần chúng
. Trước tình hình đó, Đảng ta đã kịp thời ra nghị quyết chuyển hướng
cho cách mạng miền Nam - nghị quyết 15 , Hội nghị trung ương thứ 15
1/1959 xác định con đường phát triển của cách mạng miền Nam với
tinh thần cơ bản là tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ,
sử dụng bạo lực cách mạng với hai lực lượng chính trị và vũ trang , kết
hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, tiến tới khởi nghĩa vũ
trang giành chính quyền về tay nhân dân … Nghị quyết 15 vạch rõ
phương hướng tiến lên cho cách mạng miền Nam , tạo đà cho cuộc
khởi nghĩa từng phần nổ ra ngày càng rộng lớn . 4
1.2 Chủ trương của Đảng về hình thành con đường chi viện
Hoàn cảnh của nước ta sau hiệp định Giơ ne vơ năm 1954
Với việc ký và thực hiện Hiệp định, nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai
miền với hai chế độ chính trị khác nhau.
– Miền Nam, 05/1954. Pháp rút quân khỏi miền Nam khi chưa thực hiện cuộc
hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam – Bắc. Mỹ vào thay chân
Pháp đưa Ngô Đình Diệm lên nắm quyền, âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam,
biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.
– Miền bắc hoàn toàn được giải phóng, ngày 10/10/1954 bộ đội Việt Nam tiến
vào tiếp quản Thủ đô. Ngày 15/05/1955, toán lính Pháp cuối cùng rút khỏi đảo
Cát Bà. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã hoàn thành, tạo điều kiện
cho miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Chủ trương của Đảng về hình thành con đường chi viện
Tháng 1-1959, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng họp Hội nghị (mở rộng) lần
thứ 15, hội nghị Trung ương 15 đã đưa cách mạng miền Nam sang một giai đoạn phát triển mới.
Nghị quyết 15 được thông qua và phổ biến sau cuộc họp đợt 2 (7-1959)
khẳng định: nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Miền Nam là giải phóng Miền
Nam; nhiệm vụ trước mắt là đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Ðình Diệm, tay sai
của đế quốc Mỹ; phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo
lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị và đấu
tranh vũ trang; dự kiến xu hướng phát triển từ khởi nghĩa của nhân dân tiến lên
cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ. Phong trào cách mạng miền Nam có bước
phát triển quan trọng. Lúc này, yêu cầu về vũ khí, đạn dược của cách mạng miền
Nam đang trở nên hết sức cấp thiết; đồng thời, để vai trò, tác dụng và sức mạnh
của hậu phương miền Bắc và hậu phương tại chỗ ở miền Nam, rất cần 1 hệ
thống giao thông thông suốt. Nhiệm vụ chi viện cho miền Nam đề ra trước mắt
một yêu cầu bức thiết về con đường vận chuyển chi viện cho miền Nam.Trước
tình hình đó, giữa năm 1959, Bộ Chính trị chỉ thị: “Tổ chức một đường giao 5
thông quân sự đặc biệt mở đường đưa cán bộ, tiếp tế vũ khí và những hàng cần
thiết vào miền Nam, thống nhất nước nhà”. Từ đây, hình thành con đường chi
viện sức người, sức của của miền Bắc cho miền Nam trong cuộc kháng chiến
chống đế quốc Mỹ đầy gian khổ.
– Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 9 (11/1963) ngoài việc xác định đúng đắn
quan điểm quốc tế, hướng hoạt động đối ngoại vào việc kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại để đánh Mỹ và thắng Mỹ. Đi đến quyết định nhiều vấn
đề quan trọng về cách mạng miền Nam. Hội nghị khẳng định đấu tranh chính trị,
đấu tranh vũ trang và cả hai đều có vai trò quyết định cơ bạn. Đồng thời, nhấn
mạnh yêu cầu mới của đấu tranh vũ trang. Miền Bắc, Hội nghị tiếp tục xác định
trách nhiệm căn cứ địa, hậu phương đối với cách mạng miền Nam, đồng thời
nâng cao cảnh giác, triển khai mọi mặt, sẵn sàng đối phó với âm mưu đánh phá của địch.
–Trước yêu cầu mới của cách mạng, trong năm 1965, Ban chấp hành trung ương
Đảng đã họp hội nghị lần thứ 11(tháng 3-1965) ra Nghị quyết về tình hình và
nhiệm vụ cấp bách trước mắt và Hội nghị lần thứ 12 (tháng 12-1965) với Nghị
quyết về tình hình nhiệm vụ mới.
+ Hội nghị lần thứ 11 đã chủ trương tiếp tục xây dựng miền Bắc thành một hậu
phương lớn với định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện có chiến tranh. Đó
là một chủ trương thích hợp, bảo đảm miền Bắc tiếp tục làm tròn nghĩa vụ của
hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn. Dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị
Trung ương lần thứ 11, cách mạng miền Bắc đã có bước chuyển hướng kịp thời
về kinh tế, quốc phòng, tư tưởng và tổ chức để tiến lên giành thắng lợi mới trong
những giai đoạn tiếp theo của cách mạng.
+ Hội nghị lần thứ 12 đã phân tích một cách khoa học so sánh lực lượng giữa ta
và địch, khẳng định thất bại tất yếu của đế quốc Mỹ, vạch rõ nhiệm vụ cụ thể
cho cách mạng hai miền, động viên quân đội và nhân dân cả nước giữ vững
chiến lược tiến công, nêu cao ý chí tự lực tự cường và ra sức tranh thủ sự ủng hộ 6
và giúp đỡ của bè bạn quốc tế, tiến lên đánh thắng hoàn toàn đế quốc Mỹ xâm lược.
Hai hội nghị Trung Ương đã khẳng định quyết tâm đánh Mỹ, bảo vệ miền Bắc
và giải phòng miền Nam. Đảng đã xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam
– Cách mạng hai miền có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, phối hợp với nhau,
tạo điều kiện cho nhau phát triển. Đó là quan hệ giữa hậu phương với tuyền tuyến.
– Vai trò và mối quan hệ của cách mạng hai miền: Miền Bắc có vai trò quyết
định nhất đối với cách mạng cả nước, còn miền Nam có vai trò quyết định trực
tiếp trong đấu tranh lật đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng
miền Nam, bảo vệ miền bắc, tiến tới thống nhất đất nước.
– Tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền: Cách mạng xã hội
chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa
bình thống nhất Tổ quốc. Đây là đặc điểm lớn nhất, độc đáo nhất của cách mạng
Việt Nam thời kỳ 1954 – 1975. 7
II CÁC CON ĐƯỜNG CHI VIỆN 2.1 Đường bộ
2.1.1. Quá trình hình thành và hoàn thiện đường bộ
Một số mốc thời gian trong quá trình hình thành và phát triển đường bộ con
đường Chiến lược Bắc - Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ tại Việt Nam:
1959: Bắt đầu xây dựng đường bộ Chiến lược Bắc - Nam từ Bắc Kạn, Việt Bắc và Thanh Hóa.
1961: Xây dựng đường bộ đã hoàn thành phần lớn tại Việt Bắc, bắt đầu đi
qua địa bàn Lào và chạy dọc theo dãy Trường Sơn để đổ ra miền Nam.
1965: Bắt đầu được sử dụng rộng rãi với nhiệm vụ cung cấp vũ khí, vật tư
và nhân lực cho chiến trận ở miền Nam.
1968: Các trận đánh tại Tết Mậu Thân làm đường bộ Chiến lược Bắc -
Nam bị tấn công mạnh, nhưng sau đó các lực lượng Việt Nam đã phục hồi và
tiếp tục sử dụng đường bộ này.
1970: Các cuộc không kích và đòn tiếp viện đã làm hỏng một số phần của
đường bộ Chiến lược Bắc - Nam.
1972: Quân đội Bắc Việt đã mở cuộc tấn công lớn vào miền Nam thông
qua đường bộ Chiến lược Bắc - Nam, dẫn đến sự trở lại của cuộc chiến này.
1975: Chiến dịch Hồ Chí Minh cuối cùng diễn ra trên đường bộ Chiến
lược Bắc - Nam, giúp quân và dân ta giành chiến thắng, thống nhất đất nước.
Trong suốt quá trình phát triển, đường bộ Chiến lược Bắc - Nam đã trải qua
nhiều thăng trầm, nhưng đó là một phần quan trọng trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ và đã đóng góp rất lớn cho chiến thắng cuối cùng của quân đội và dân tộc Việt Nam. Cụ thể: 8
Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Trung-Nam-Bắc là bờ
cõi của ta. Nước ta nhất định thống nhất. Đồng bào cả nước nhất định giải
phóng”, tháng 01/1959 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tổ
chức Hội Nghị lần thứ 15. Hội nghị khẳng định: “Lấy sức m nh của quần
chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với
lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến,
dựng nên chính quyền cách m ng của nhân dân”. Với yêu cầu cấp bách cần
chi viện cho miền Nam trực tiếp chống Mỹ và chính quyền Thì sau một thời
gian nghiên cứu và chuẩn bị, ngày 19/5/1959, thường trực tổng quân ủy Bộ quốc
phòng triệu tập ban cán sự, chính thức giao cho Đoàn 559 chính thức mở đường
giao thông quân sự vào Nam, dọc theo dãy Trường Sơn, vận chuyển hàng quân
sự cho miền Nam, đưa đón cán bộ từ Bắc vào Nam và ngược lại mà trước mắt là
liên khu V. Binh đoàn Trường Sơn (Đoàn 559) thành lập, đánh dấu sự khởi đầu
của tuyến đường Trường Sơn. Mạng lưới giao thông quân sự này chạy dọc dãy
Trường Sơn, từ miền Bắc qua miền Trung, hạ Lào và Campuchia để chi viện cho
Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam.. Cũng chính từ
đây – đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh huyền thoại được hình thành, là
mạch máu giao thông quan trọng, góp phần quyết định và sự thắng lợi vĩ đại của
cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Lúc đầu đường Hồ Chí Minh trên bộ là con đường mòn đi dọc phía đông
dãy Trường Sơn, luồn lách qua hàng rào, đồn bốt và sự đánh phá ác liệt của Mỹ
- Ngụy. Khắc phục được những những khó khăn, cán bộ, chiến sĩ, thanh niên
xung phong và nhân viên kỷ thuật của Đoàn 559 đã bền bỉ, anh dũng và mưu trí
đánh địch, mở đường, đảm bảo giao thông, thực hiện nhiệm vụ trung tâm là tiếp
nhận nguồn hàng từ hậu phương miền Bắc (bao gồm Tổng cục Hậu cần, của Ban
Thống nhất Trung ương, của các cơ quan nhà nước gửi vào chiến trường, gửi
cho bạn Lào) và nguồn thu mua ở hướng Cam-pu-chia, tổ chức vận chuyển chi
viện tới các chiến trường miền Nam và Lào, đảm bảo hành quân cho bộ đội và
các đoàn cán bộ dân-chính- đảng qua lại trên đường Trường Sơn. Và vào những 9
năm đầu, việc vận chuyển hàng chi viện được thực hiện bằng hình thức đi bộ,
gùi thồ. Tuy giữ được bí mật những việc vận chuyển bằng phương pháp thô sơ
không đem lại hiệu quả do quãng đường vận tải dài tới 2.000 km. Sau 2 năm
như vậy, việc vận tải bắt đầu chuyển sang cơ giới.
Sau một thời gian “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” trong điều kiện địch
đánh phá ác liệt, khí hậu, thời tiết phức tạp, việc xây dựng và bảo vệ tuyến vận
tải kéo dài hàng nghìn ki-lô-mét, vượt xa với quy mô, phạm vi cả Đông và Tây
dãy Trường Sơn, xuyên qua 20 tỉnh thuộc 3 nước Đông Dương. Đường Hồ Chía
Minh là khúc ruột nối các truyến vận tải của hậu phương lớn Miền Bắc, các
tuyến vận tải của các chiến trường thuộc 3 nước Việt-Lào-Campuchia, đã tạo
nên một hệ thống liên hoàn và vững chắc. Những chiến công ấy không những
đòi hỏi lòng dũng cảm mà còn phải có trí thông minh, có biện pháp tổ chức lực
lượng, bố trí thế trận…đúng đắn, sáng tạo, hiệu quả.
Bất chấp sự hủy diệt của kẻ thù và những khó khăn, trở ngại của thời tiết,
địa hình trong 16 năm (1959 – 1975). Đặc biệt từ sau năm 1964 đường Trường
Sơn như một trận đồ bát quái vươn ra các chiến trường bằng mọi ngã. Các đơn
vị bộ đội và thanh niên xung phong trên tuyến đường Hồ Chí Minh đã vượt qua
muôn vàn gian lao, thử thách, dũng cảm, kiên cường chống trả cuộc chiến tranh
xâm lược tàn khốc của Mỹ - Ngụy. Thời gian này, chúng đã ném xuống đây hơn
3,5 triệu tấn bon đạn, nhiều hơn số lượng bom đạn Mỹ đã sử dụng trong đại
chiến thế giới lần thứ hai. Bằng vũ khí thô sơ và lòng quả cảm, ta đã bắn rơi
2.455 chiếc máy bay các loại. Địch cũng đã mở 5 chiến dịch tấn công binh
chủng hợp thành gồm Mỹ -Ngụy, cùng hàng ngàn biệt kích, thám báo để đánh
phá ta…Song với quyết tâm của toàn đảng, toàn dân và toàn dân ta luôn hướng
về Miền Nam ruột thịt, ta đã lần lượt đánh tan các chiến dịch lớn, nhỏ của địch,
tiêu diệt và bắt sống 18.470 tên. Đồng thời, ta cùng với quân dân nước bạn Lào
giải phóng đất đai, xây dựng cơ sở cách mạng ở 6 tỉnh Trung-Hạ Lào. Với trí,
lực của hàng triệu khối óc, con tim, ta đã xây dựng được hơn 16.700km đường
bộ, hơn 500 km đường sông và 1.400 km đường ống dẫn xăng dầu, 1.350 km 10
đường hữu tuyến dây liên lạc và thiết bị tiếp sức, tổ chức hành quân đi bộ và cơ
động bằng cơ giới được 2 triệu quân vào chiến trường, vận chuyển chi viện cho
chiến trường miền nam được hơn 1 triệu tấn vũ khí, đạn dược, và lương thực…
Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, đường Trường Sơn đã hình thành
một hệ thống liên hoàn, vững chắc, là cơ sở hạ tầng bảo đảm chi viện liên tục
vật chất, cơ động lực lượng, binh khí kỹ thuật, bảo đảm cho điểm tấn công chiến
lược khi thời cơ đến. Đồng thời tuyến hành lang Đông - Tây Trường Sơn đã hình
thành một căn cứ hậu cần chiến lược, chiến dịch rộng 130.000km2, nối liền hậu
phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam, là chỗ dựa vững chắc cho
các chiến trường. Đây là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi nhiệm vụ
chi viện của hậu phương chiến lược miền Bắc cho các chiến trường tại miền
Nam, Lào và Campuchia nói chung và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử tháng
4/1975 nói riêng tồn thẳng. Tính đến ngày Việt Nam thống nhất, Đường Trường
Sơn đã tồn tại gần 6.000 ngày đêm, tuyến vận tải chiến lược lên tới gần 20.000
km, bao gồm 4 hệ thống trục dọc dài 6.810 km, 13 hệ trục ngang dài 4.980 km,
5 hệ thống đường vượt khẩu dài 700 km, 1 hệ thống đường vòng tránh các trọng
điểm dài 4.700 km. Các lực lượng công binh, thanh niên xung phong, dân công
hỏa tuyến Trường Sơn với quân số khoảng 120.000 người đã làm nên mạng lưới
đường liên hồn, nối liền với Tây Trường Sơn. Quân đội nhân dân Việt Nam đã
nhờ hệ thống đường này mà hành quân vượt đèo, lội suối, vững bước hành quân
tiến vào giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, với tốc độ “một ngày bằng
20 năm”; “thần tốc, thần tốc hơn nữa/ táo bạo, táo bạo hơn nữa tranh thủ từng
phút, từng giờ/ xốc tới mặt trận/ giải phóng miền Nam/ quyết chiến và toàn
thắng” để thực hiện lời dặn của Bác trước lúc đi xa “đánh cho Mỹ cút, đánh cho
ngụy nhào/tiến lên chiến sĩ đồng bào/Bắc - Nam sum họp xuân nào vui hơn”,
với mục tiêu cao cả là “không có gì quý hơn độc lập tự do”.
Mạng lưới đường cơ giới dần được hình thành lần khuất giữa núi rừng
Trường Sơn tạo điều kiện cho những đoàn xe quân sự vận chuyển lượng lớn
binh lực, lương thực và vũ khí từ miền Bắc vào miền Nam. Cũng từ đây, lực 11
lượng quân sự Mỹ ra sức đánh phá hệ thống giao thông này bằng bộ binh và
không quân, đường Trường Sơn trở thành tuyến lửa - nơi diễn ra cuộc đấu gan,
đấu trí ác liệt giữa hai bên. Bất chấp bom đạn và chất độc hóa học, những đoàn
xe vẫn tiến về miền Nam. 2.1.2 Ho t đông
Đường Trường Sơn đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống
Mỹ cứu nước từ năm 1959 đến năm 1975. Nói đến Trường Sơn là nói đến sự hy
sinh, gian khổ, đồng thời cũng nói đến khát vọng “Không có gì quý hơn độc lập
- tự do” của con người Việt Nam, bất chấp sự hủy diệt của kẻ thù và những khó
khăn, trở ngại của thời tiết, địa hình trong 16 năm. Đây còn là một trong những
tuyến đường quan trọng nhất của quân và dân ta, mang lại nhiều đóng góp quan
trọng cho chiến thắng cuối cùng của cuộc chiến tranh. Các hoạt động chính của
Đường Trường Sơn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước gồm: Vâ Š
n chuyển vũ khí và thiết bị quân sự: Đường Trường Sơn được sử dụng
để vận chuyển vũ khí và trang thiết bị quân sự từ các nước Đông Âu, Liên Xô và
Trung Quốc đến miền Nam Việt Nam. Các vật tư này bao gồm súng, đạn, máy
bay, tên lửa, pháo, xe tăng và các loại vũ khí khác. Tổng số lượng vũ khí và
trang thiết bị được vận chuyển trong suốt cuô Š
c chiến khoảng 1,5 triệu tấn. Các
phương tiện vận chuyển được sử dụng bao gồm xe tải, xe jeep, xe máy, thuyền
và máy bay. Trong đó, xe tải là phương tiện vận chuyển chính và chịu trách
nhiệm chính trong việc vận chuyển hàng hóa lớn.
Di chuyển lực lượng: Đường Trường Sơn cho phép di chuyển nhanh chóng
và an toàn các lực lượng quân đội từ miền Bắc sang miền Nam. Tổng cô Š ng trong
16 năm, tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn đã bảo đảm cho hơn 1.100.000
lượt cán bộ, chiến sĩ hành quân vào miền Nam chiến đấu, đưa hơn 650.000 lượt
cán bộ, chiến sĩ từ chiến trường trở về hậu phương, trong đó có gần 310.000
thương binh, bệnh binh, lập nên kỳ tích, góp phần quan trọng vào những thắng
lợi trên chiến trường, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ. 12 Vâ Š
n chuyển tài chính: Đường Trường Sơn không chỉ là một tuyến đường
vận chuyển quân sự mà còn là một kênh để vận chuyển tiền tài chính. Công tác vâ Š
n chuyển tiền do Đội C.100 thuộc Đ.559 vận chuyển bằng cách cho vào hòm
đạn và thùng sắt vận chuyển vào chiến trường miền Nam theo Đường Trường
Sơn. Nhờ đó, có thể duy trì các hoạt động quân sự và phát triển kinh tế trong
suốt thời gian đấu tranh chống Mỹ cứu nước. Trong giai đoạn 1965 – 1973, các
tổ chức chính trị và quân đội miền Nam Việt Nam đã nhận được khoảng 1,7 tỷ
USD thông qua Đường Trường Sơn. Chỉ tính riêng trong năm 1969, tổng giá trị
của các vật tư, tiền mặt, vàng và kim cương được chuyển qua Đường Trường
Sơn để hỗ trợ cho miền Nam Việt Nam được ước tính khoảng 500 triệu USD. Vâ Š
n chuyển thực phẩm, dược phẩm và hàng hoá thiết yếu: Theo các số liệu
thống kê, trong suốt những năm hoạt động của Đường Trường Sơn, đã vận
chuyển khoảng 2,5 triệu tấn thực phẩm, gồm có: gạo, lương thực, thịt, cá, rau củ
quả, đường, muối, dầu ăn và nhiều loại thực phẩm khác. Bên cạnh đó, còn có
khoảng 50 triệu chiếc bánh mì được vận chuyển qua đường Trường Sơn để cung
cấp cho các chiến sĩ đang chiến đấu ở miền Nam. Cùng với đó, là các loại dược
phẩm, thuốc men, băng gạc, vải y tế và các vật dụng y tế khác để cứu chữa cho
các chiến sĩ và dân thường bị thương trong cuộc chiến chống Mỹ cứu nước. 13
Bản đồ đường ống Trường Sơn Vâ Š n chuyển nhiên liê Š
u: Tuyến đường ống Trường Sơn là hệ thống đường
ống chuyên dùng để vận chuyển xăng dầu và các loại nhiên liệu khác với mạng
lưới đường ống dẫn dầu dài hơn 5.000 km, đây là đường ống dài nhất thế giới
tính đến tháng 7/2010 (Trung Quốc khánh thành đường ống dẫn khí tự nhiên dài
8.700km). Mạng lưới đường ống dẫn dầu dài hơn 5.000 km nêu trên là tính từ
biên giới phía Bắc nước ta, bắt đầu từ hai điểm đầu mối tiếp nhận thuộc tỉnh
Quảng Ninh và tỉnh Lạng Sơn; còn điểm khởi đầu là từ cảng Phòng Thành,
Trung Quốc. Trên toàn bộ hệ thống này, đã có tới 316 trạm bơm đẩy, 101 kho
với sức chứa trên 300 nghìn m3. Trong suốt 7 năm hoạt đô Š ng (1968 – 1975),
tuyến ống này đã vận chuyển khoảng 5,5 triệu tấn xăng dầu cho các chiến trường.
Bảo vệ và duy trì đường đi: Việc xây dựng và duy trì tuyến đường gặp
nhiều khó khăn do sự tấn công liên tục của quân địch, đặc biệt là các cuộc không
kích bằng các vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất lúc đó từ máy bay
không người lái, OV.10, L.19, AC.130,… đến máy bay tiêm kích, cường kích,
cùng “siêu pháo đài bay” B.52 đánh phá, với cường độ hủy diệt ác liệt, không kể 14
ngày hay đêm. Tuy nhiên, với sự quyết tâm và nỗ lực của quân và dân Việt Nam,
đường Trường Sơn vẫn được duy trì và sử dụng hiệu quả cho đến khi kết thúc
chiến tranh năm 1975. Trong suốt 16 năm, lực lượng quân đội Việt Nam đã nỗ
lực chiến đấu để bảo vệ và duy trì Đường Trường Sơn, các chiến dịch tấn công,
phòng thủ tại các điểm chiến lược được triển khai liên tục, các lực lượng trên
toàn tuyến đã đánh khoảng 2.500 trận, tiêu diệt và làm bị thương gần 17.000
sinh lực địch, bắt 1.200 tù binh, gọi hàng trên 10.000 tên; bắn rơi 2.455 máy bay
các loại, phá hủy hàng vạn tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh. Cùng với đó,
các đơn vị công binh, hâ Š u cần cũng làm viê Š
c không ngừng nghỉ để sửa chữa
tuyến đường bị bắn phá, và xây dựng các căn cứ quân sự, hệ thống tường đá,
hang động và mạng lưới đường hầm để bảo vệ tuyến đường. Chiến trường
đường Trường Sơn ghi dấu vô số tấm gương anh hùng song cũng để lại những
mất mát khó có thể bù đắp, 22.000 chiến sĩ đã ngã xuống tại đây, 30.000 người
nhiễm chất độc da cam... Ngoài các hoạt đô Š
ng trên, đường Trường Sơn còn được sử dụng trong các hoạt đô Š ng khác như: Hoạt đô Š
ng hỗ trợ dân sự, tuyên truyền giáo dục, điều phối hoạt đô Š ng quân sự, vâ Š n chuyển tài liê Š u, hoạt đô Š
ng tình báo,…. Đường Trường
Sơn không chỉ là tuyến vận tải quân sự, tuyến hậu cần chiến lược mà còn là một
chiến trường tổng hợp, mặt trận chiến đấu quyết liệt giữa ta và địch, trở thành
một biểu tượng độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam, biểu tượng về quyết
tâm và ý chí sắt đá “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Tất cả để đánh thắng
giặc Mỹ xâm lược” của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. 2.2 Đường biển
2.2.1 Quá trình hình thành và hoàn thiện đường biển
Đường biển hay còn gọi là đường “Đường Hồ Chí Minh trên biển” là tên
gọi của tuyến đường vận tải quân sự do Hải quân nhân dân Việt Nam và Quân
giải phóng miền Nam Việt Nam thực hiện bí mật trên Biển Đông trong chiến
tranh, để vận chuyển vũ khí, cán bộ từ miền Bắc vào chi viện cho Quân Giải
phóng miền Nam, trong kháng chiến chống Mỹ. Đây là một nhân tố quan trọng, 15
chiến lược, góp phần đưa cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta đến thắng lợi hoàn toàn. Qúa trình hình thành
Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, ngày
19/5/1959, “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” (đơn vị tiền thân của Đoàn 559)
được thành lập với nhiệm vụ xây dựng tuyến chi viện chiến lược trên bộ và trên
biển cho miền Nam. Đến tháng 7/1959, Tiểu đoàn 603 trực thuộc Đoàn 559
được thành lập, có nhiệm vụ nghiên cứu tìm phương thức vận chuyển bằng
đường biển chi viện vũ khí cho chiến trường miền Nam. Để giữ bí mật, Tiểu
đoàn lấy tên là “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh”. Cuối năm 1959, Tiểu đoàn 603
tổ chức chuyến thuyền vượt biển đầu tiên vào chiến trường Khu V nhưng không
thành công, do vậy Tổng Quân ủy quyết định cho Tiểu đoàn 603 ngừng hoạt
động để tìm phương án mới.
Đầu năm 1960, cùng với phong trào Đồng khởi Bến Tre, phong trào cách
mạng của các tỉnh đồng bằng Nam Bộ chuyển mạnh lên thế tiến công và trở
thành cao trào đồng khởi rộng khắp. Để đáp ứng yêu cầu vận chuyển vũ khí,
hàng hóa chi viện cho chiến trường Nam Bộ và Nam Trung Bộ, trong khi vận
chuyển đường bộ của Đoàn 559 trên dãy Trường Sơn chưa vươn tới; Tổng Quân
ủy tiếp tục chỉ đạo Bộ Tổng Tham mưu khẩn trương nghiên cứu đề án mới về
xây dựng và tổ chức lực lượng vận tải biển chi viện cho chiến trường Nam Bộ
và Khu 5; Bộ Chính trị chỉ thị cho Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo các tỉnh
ven biển ở miền Trung và Nam Bộ chủ động chuẩn bị bến, bãi và tổ chức đưa
thuyền vượt biển ra miền Bắc, vừa thăm dò, nắm tình hình địch, nghiên cứu
tuyến vận chuyển trên biển, vừa nhận vũ khí để kịp thời cung cấp cho cách mạng miền Nam.
Từ giữa năm 1961 đến giữa năm 1962, lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam ở các tỉnh Bến Tre, Cà Mau, Trà Vinh và Bà Rịa đã
cử 5 thuyền gỗ từ miền Nam ra miền Bắc để báo cáo tình hình, xin tiếp tế vũ khí
và sau đó trực tiếp vận chuyển vũ khí, dẫn đường cho các tàu tiếp tế giả dạng tàu 16