



















Preview text:
TRƯỜN
G ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ------
BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỀ TÀI:
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CHẤT
LƯỢNG CAO, VẬN DỤNG TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG 4.0
Giảng viên hướng dẫn:
TS. Hoàng Thị Thúy
Lớp học phần: 242_HCMI0131_20
Nhóm thực hiện: Nhóm 3
Hà Nội, tháng 3 năm 2025
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1. Tổng quan về nguồn lực chất lượng cao . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.1. Khái niệm nguồn lực chất lượng cao . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.2. Vai trò của nguồn lực chất lượng cao . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.3. Tiêu chí đánh giá nguồn lực chất lượng cao . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.2. Quan điểm của Đảng về phát triển nguồn lực chất lượng cao qua các thời
kỳ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
1.2.1. Giai đoạn trước đổi mới (trước 1986) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
1.2.2. Giai đoạn sau đổi mới (1986 - nay) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
1.3. Chủ trương, chính sách liên quan của Đảng và Nhà nước . . . . . . . . . . . . 10
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO HIỆN NAY . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
2.1. Bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
2.1.1. Xu hướng chuyển đổi số và nhu cầu nhân lực. . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
2.1.2. Tác động của công nghệ đến việc làm và yêu cầu kỹ năng mới . . . . 16
2.1.3. Vai trò của đổi mới sáng tạo trong phát triển nhân lực . . . . . . . . . . . 17
2.2. Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao tại Việt Nam . . . . . . . . . . . . . 18
2.2.1. Số lượng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18
2.2.2. Chất lượng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 21
2.2.3. Mức độ đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động . . . . . . . . . . . . . . . 25
2.2.4. So sánh với các quốc gia trong khu vực và thế giới . . . . . . . . . . . . . . 26
2.3. Những vấn đề đặt ra đối với nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay . . . 27
2.3.1. Vấn đề cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay. . . . . . . . 28 2
2.3.2. Vấn đề sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay . . . . . . . . . 33
CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG ĐƯA RA GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG BỐI CẢNH CÁCH
MẠNG 4.0 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 37
3.1. Các nguyên tắc và định hướng trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 37
3.1.1. Phát triển toàn diện cả về trình độ chuyên môn và kỹ năng mềm . . . 37
3.1.2. Kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn . . 38
3.1.3. Đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ trong đào tạo . . . . 39
3.2. Vận dụng quan điểm của Đảng đưa ra giải pháp phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao trong bối cảnh cách mạng 4.0 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 41
3.2.1. Cải cách giáo dục, đổi mới chương trình đào tạo theo hướng hiện đại
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 41
3.2.2. Thúc đẩy hợp tác giữa nhà trường, doanh nghiệp và nhà nước . . . . . 42
3.2.3. Chính sách thu hút và giữ chân nhân tài . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 43
3.2.4. Xây dựng môi trường làm việc sáng tạo và chuyên nghiệp . . . . . . . . 45
3.3. Kiến nghị và đề xuất . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 46
3.3.1. Đối với Đảng và Nhà nước . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 46
3.3.2. Đối với doanh nghiệp . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 47
3.3.3. Đối với cá nhân . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 48
KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 53 3
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần
thứ tư (Cách mạng 4.0), nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò then chốt, quyết
định sự phát triển và thịnh vượng của mỗi quốc gia. Qua nhiều kỳ Đại hội Đảng, Đảng
Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm coi con người là trung tâm của sự phát
triển, đồng thời xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những
đột phá chiến lược để đưa đất nước tiến lên. Đề tài "Quan điểm của Đảng về phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao, vận dụng trong bối cảnh Cách mạng 4.0" của nhóm 3
nhằm mục đích phân tích, làm rõ những quan điểm, chủ trương của Đảng về vấn đề này,
đồng thời đề xuất những giải pháp vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong tình hình mới.
Tầm quan trọng của đề tài:
Về mặt lý luận, đề tài góp phần hệ thống hóa, làm sâu sắc thêm những vấn đề lý
luận về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời đại Cách mạng 4.0.
Về thực tiễn, đề tài đề xuất những giải pháp thiết thực, khả thi để nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới.
Kết cấu của đề tài:
Chương 1: Quan điểm của đảng về phát triển nguồn lực chất lượng cao
Chương 2: Những vấn đề đặt ra đối với nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay
Chương 3: Vận dụng quan điểm của đảng đưa ra giải pháp phát triển nguồn lực
chất lượng cao trong bối cảnh cách mạng 4.0 4
CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
1.1. Tổng quan về nguồn lực chất lượng cao
1.1.1. Khái niệm nguồn lực chất lượng cao
Theo Tạp chí Cộng sản (2023), nguồn nhân lực là toàn bộ những người trong độ
tuổi lao động có khả năng tham gia lao động của một quốc gia, bao gồm thể lực, trí lực
và tài lực. Đối với Việt Nam, để thực hiện chiến lược phát triển nhanh và bền vững trong
bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng thì phải
chú trọng phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Cũng theo
Tạp chí Cộng sản, nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm chỉ người lao động có
sức khỏe thể chất, tinh thần tốt; có trình độ tay nghề cao, khả năng lao động giỏi và kỹ
năng chuyên môn tốt trong nghề; có những phẩm chất xã hội tốt đẹp, như tinh thần nhân
văn, tập thể, hòa nhập, thích nghi làm việc trong môi trường đa văn hóa…
Theo Tạp chí Quản lý nhà nước (2022), nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn
nhân lực có trí tuệ, tay nghề, năng lực tốt, được đào tạo cơ bản, chuyên sâu để đáp ứng
yêu cầu, nhiệm vụ của thực tiễn đất nước, của thị trường lao động hiện nay.
Theo Nguyễn Văn Quang, Phạm Thị Thùy Linh (2021) trong Tạp chí Khoa học
HUFLIT, nhân lực chất lượng cao là một bộ phận của nguồn nhân lực, có trình độ học
vấn và chuyên môn kỹ thuật cao (trừ một số trường hợp không qua đào tạo); có kỹ năng
lao động giỏi và có tính thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ
sản xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức,
những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất,
chất lượng và hiệu quả cao.
1.1.2. Vai trò của nguồn lực chất lượng cao
Nguồn nhân lực chất lượng cao có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong bối cảnh
hiện nay khi đất nước mở cửa, hội nhập sâu vào nền kinh tế thế nghiệp. Cụ thể:
Thứ nhất, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện tiên quyết bảo đảm thành
công cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo quan điểm của Đảng, nguồn
nhân lực chất lượng cao đóng vai trò then chốt trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Đội ngũ này có tri thức, kỹ năng và năng lực sáng tạo, giúp nâng cao 5
năng suất lao động, tạo ra sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Đồng thời, họ có
khả năng tiếp thu và làm chủ công nghệ hiện đại, giúp nền kinh tế phát triển theo hướng
bền vững và hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao còn là nhân tố
chủ chốt trong việc nâng cao năng lực quản lý, điều hành và xây dựng một nền hành
chính hiện đại, hiệu quả. Đảng đã nhấn mạnh rằng phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao là một trong ba đột phá chiến lược để đưa đất nước trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Thứ hai, nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần vào việc rút ngắn khoảng cách
tụt hậu đồng thời duy trì tăng trưởng nhanh, bền vững. Nhờ vào năng lực sáng tạo và
khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của nền kinh tế, nguồn nhân lực chất lượng
cao đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định, tránh sự lệ
thuộc vào các yếu tố đầu vào truyền thống như tài nguyên thiên nhiên hay lao động giá
rẻ. Đây cũng chính là nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt
Nam trên thị trường quốc tế.
Thứ ba, nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định đẩy mạnh nghiên cứu,
triển khai ứng dụng khoa học - công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình
tăng trưởng. Theo định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam, đổi mới mô hình tăng
trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế là yêu cầu cấp thiết để phát triển bền vững. Trong đó,
khoa học - công nghệ được xác định là động lực then chốt, và để thực hiện điều này,
nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố không thể thiếu. Lực lượng này có vai trò nghiên
cứu, sáng tạo và ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất, từ đó giúp nâng cao hiệu suất
lao động và giá trị gia tăng của sản phẩm. Đồng thời, họ đóng góp vào việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, từ mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên
sang mô hình dựa vào tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thứ tư, nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực chủ yếu tiếp cận và phát triển
nền kinh tế tri thức. Nền kinh tế tri thức là xu hướng phát triển tất yếu trong thời đại
toàn cầu hóa, trong đó tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố quyết
định sự phát triển. Để tiếp cận và khai thác hiệu quả nền kinh tế tri thức, nguồn nhân lực
chất lượng cao đóng vai trò trung tâm. Họ không chỉ tạo ra tri thức mới mà còn là cầu
nối để tiếp thu, chuyển giao và ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến
từ thế giới. Chính vì vậy, đầu tư vào giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
là chiến lược quan trọng để Việt Nam bắt kịp xu thế phát triển của các quốc gia tiên tiến. 6
Thứ năm, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quan trọng trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng tất yếu, mở ra cơ hội
lớn nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với Việt Nam. Trong quá trình này, nguồn
nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định giúp Việt Nam tận dụng tốt nhất các cơ hội,
đồng thời hạn chế rủi ro từ cạnh tranh quốc tế. Họ giúp nâng cao năng lực đàm phán, ký
kết và thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đồng thời thúc đẩy doanh
nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Bên cạnh đó, họ cũng là nhân
tố quan trọng trong việc xây dựng và thực thi các chính sách kinh tế phù hợp, giúp nền
kinh tế Việt Nam vận hành hiệu quả trong môi trường hội nhập.
1.1.3. Tiêu chí đánh giá nguồn lực chất lượng cao
Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, nguồn nhân lực chất lượng cao
được đánh giá dựa trên nhiều tiêu chí toàn diện, phản ánh cả phẩm chất chính trị, đạo
đức, năng lực chuyên môn và khả năng thích ứng với thời đại. Theo Võ Thị Thu Thảo
(TSGV. Khoa Nhà nước và Pháp luật), những yếu tố đánh giá nguồn nhân lực chất lượng
cao là dựa vào năng lực tư duy sáng tạo của người đó trong thực tiễn và mang lại được
hiệu quả như thế nào cho công việc và cho xã hội; năng lực sáng nghiệp và có khả năng
tự khởi nghiệp để tự tạo việc làm cho bản thân trong thị trường lao động đầy cạnh tranh
về việc làm và nghề nghiệp. Theo đó:
- Năng lực tư duy sáng tạo là khả năng suy nghĩ độc lập, đưa ra ý tưởng mới,
giải pháp đột phá cho các vấn đề. Người có năng lực tư duy sáng tạo không chỉ
giỏi lý thuyết mà còn biết cách áp dụng linh hoạt vào thực tế. Trong bối cảnh
Cách mạng 4.0, năng lực này càng trở nên quan trọng khi công nghệ thay đổi
nhanh chóng, đòi hỏi sự thích ứng và đổi mới liên tục. Người có năng lực sáng
tạo cao sẽ mang lại hiệu quả cao cho tổ chức và xã hội.
- Năng lực sáng nghiệp là khả năng nhận diện cơ hội kinh doanh, xây dựng kế
hoạch và triển khai dự án khởi nghiệp. Người có năng lực sáng nghiệp thường
có tinh thần dám nghĩ, dám làm, chấp nhận rủi ro và kiên trì theo đuổi mục tiêu.
Người có năng lực này còn có khả năng tự tạo ra cơ hội việc làm cho bản thân.
Họ chủ động học hỏi, nâng cao kỹ năng, tìm kiếm các lĩnh vực mới để phát
triển sự nghiệp, bản thân. Tiêu chí này đánh giá khả năng chủ động thích ứng
với thị trường lao động cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới, tạo ra giá trị kinh tế - xã
hội và phát triển bản thân. 7
1.2. Quan điểm của Đảng về phát triển nguồn lực chất lượng cao qua các thời kỳ
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì ở thời đại hay xã hội nào thì nhân
tố con người cũng luôn đóng vai trò quyết định, tác động trực tiếp đến quá trình phát
triển của nhân loại. Trong tiến trình lãnh đạo đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng
định nhân tố con người giữ vị trí trung tâm của quá trình phát triển, do đó phát triển
nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn lực chất lượng cao để đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là yêu cầu
bức thiết hiện nay. Thu hút và trọng dụng nhân tài, phát huy nguồn lực con người luôn
là một nhiệm vụ quan trọng được Đảng quan tâm ngay từ ngày đầu thành lập đến nay.
1.2.1. Giai đoạn trước đổi mới (trước 1986)
Từ những năm đầu 1960, mặc dù cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang diễn
ra rất ác liệt, nhưng với tầm nhìn chiến lược chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng cao,
trước mắt phục vụ cuộc kháng chiến cứu nước, nhưng về lâu dài là phục vụ công cuộc
kiến thiết nước nhà, Bộ Chính trị (khóa III) đã ra Nghị quyết về đào tạo bồi dưỡng cán
bộ, trong đó khẳng định “Muốn học sinh giỏi vào các trường đại học, phải có kế hoạch
phát triển và bồi dưỡng học sinh giỏi ngay từ lớp 7, lớp 8”.
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất (năm 1975), nền giáo dục của nước ta bước
sang một giai đoạn cách mạng mới, cả nước tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh
và xây dựng xã hội chủ nghĩa trên cả nước. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị (khóa IV)
ra Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 11/01/1979 về cải cách giáo dục, trong đó yêu cầu
“Trong hệ thống giáo dục phổ thông cần mở những trường - lớp phổ thông cho những
học sinh có năng khiếu đặc biệt...” nhằm chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài cho đất nước.
Tiếp theo Nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách giáo dục, Bộ Chính trị (khóa IV)
đã ban hành Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 20/4/1981 về “Chính sách khoa học và kỹ
thuật”, trong đó chỉ rõ “Trên cơ sở đảm bảo sự bình đẳng thực sự về quyền lợi học tập
cho mọi người và phổ cập giáo dục cho toàn dân, cần quan tâm đào tạo cán bộ khoa học
kỹ thuật giỏi, những nhân tài của đất nước”.
Đến Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), trong Báo cáo chính
trị của Ban Chấp hành Trung ương có nêu “Nhân tài không phải là sản phẩm tự phát mà 8
phải được phát hiện và bồi dưỡng công phu. Nhiều tài năng có thể mai một nếu không
phát hiện và sử dụng đúng lúc, đúng chỗ”.
1.2.2. Giai đoạn sau đổi mới (1986 - nay)
Tại Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII (năm 1991), Đảng ta đã thông
qua Cương lĩnh xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội đến năm 2000, trong đó ghi rõ “Giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, bồi dưỡng nhiều người giỏi về khoa học, công
nghệ, kinh doanh, quản lý kinh tế, xã hội... Nhà nước có chính sách toàn diện thực hiện
giáo dục phổ cập phù hợp với yêu cầu và khả năng của nền kinh tế, phát triển năng khiếu, bồi dưỡng nhân tài”.
Từ sau Đại hội VIII, thực hiện chiến lược CNH, HĐH đất nước, Đảng đã ban hành
nhiều nghị quyết trên nhiều lĩnh vực liên quan trực tiếp đến phát triển nguồn nhân lực.
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996) về định hướng chiến lược phát triển giáo
dục, đào tạo trong thời kỳ CNH, HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000 đã xác định: “Lấy
việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”.
Nghị quyết đã xác định điểm đột phá là lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Coi giáo dục, đào
tạo là quốc sách hàng đầu, là bước đột phá mang tính then chốt; là sự nghiệp của toàn
Đảng, của Nhà nước và của toàn dân; phát triển giáo dục, đào tạo gắn với nhu cầu phát
triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an
ninh. Bên cạnh đó, phát triển nguồn lực phải đảm bảo một cách toàn diện về cả trí tuệ,
sức khỏe, đạo đức, thái độ… Phát triển nguồn nhân lực phải theo theo chiến lược, kế
hoạch; mọi chính sách kinh tế - xã hội phải gắn với xây dựng nguồn nhân lực; đảm bảo
đáp ứng nguồn nhân lực cả về số lượng, mạnh về chất lượng.
Tại Đại hội IX (năm 2001) vấn đề này được tiếp tục khẳng định: Đáp ứng yêu cầu
về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để phát triển nguồn nhân lực Đảng ta khẳng định: “Tiếp
tục đổi mới, tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa
học và công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với cơ cấu hợp lý; triển khai
thực hiện chương trình phổ cập trung học cơ sở; ứng dụng nhanh các công nghệ tiên
tiến, hiện đại; từng bước phát triển kinh tế tri thức”. 9
Tại Đại hội XI (năm 2011), Đảng ta nhấn mạnh: “Phát triển và nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu
tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh
tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm
cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”. Quan điểm này đánh dấu bước phát triển
quan trọng trong nhân thức của Đảng về vai trò của nhân tố con người trong chiến lược
phát triển nhanh và bền vững đất nước. Đảng ta coi phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao là một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
Đại hội XII (năm 2016) của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của nguồn
nhân lực chất lượng cao, thông qua quan điểm: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực
chất lượng cao làm động lực chủ yếu”.
Kế thừa tinh thần các đại hội trước, Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng tiếp tục xác
định “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát
triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở
nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục và
đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu,
chuyển giao ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo” là
một trong ba đột phá chiến lược. Đại hội cũng đặt ra yêu cầu phải “Đào tạo con người
theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ
năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng
tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)”. Đây là chủ trương hết sức đúng đắn, thể
hiện tư duy, tầm nhìn mới của Đảng ta về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân
lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong thời kỳ mới.
1.3. Chủ trương, chính sách liên quan của Đảng và Nhà nước
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC) luôn là mục tiêu chiến lược
của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cuộc Cách 10
mạng công nghiệp 4.0. Các chủ trương, chính sách được xây dựng bài bản, thể hiện tầm
nhìn dài hạn, đồng thời gắn liền với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội.
Chiến lược đổi mới giáo dục theo Nghị quyết 29-NQ/TW (2013)
Nghị quyết 29 (năm 2013), cập nhật đến năm 2025 về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo đặt nền móng cho phát triển NNLCLC.
Nghị quyết 29-NQ/TW năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
tạo đã đặt nền móng cho sự chuyển mình của hệ thống giáo dục Việt Nam. Trọng tâm
của nghị quyết là chuyển từ mô hình giáo dục truyền thụ kiến thức sang phát triển năng
lực toàn diện, trong đó chú trọng kỹ năng thực hành, tư duy phản biện, và khả năng sáng
tạo. Điều này thể hiện qua việc đưa chương trình giáo dục STEM vào giảng dạy từ cấp
phổ thông, tích hợp công nghệ số vào lớp học, và khuyến khích học sinh tham gia các
cuộc thi khoa học quốc tế như Olympic Toán học, Vật lý.
Một thành tựu nổi bật là tự chủ đại học, giúp các trường thoát khỏi cơ chế xin-cho,
chủ động liên kết quốc tế. Ví dụ, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Bách khoa Hà
Nội đã ký kết hợp tác với các đại học hàng đầu thế giới như MIT (Mỹ), Đại học Tokyo
(Nhật) để trao đổi giảng viên, công nhận tín chỉ song phương. Đến năm 2025, Việt Nam
đặt mục tiêu có ít nhất 3–5 trường đại học lọt top 500 thế giới, đồng thời phát triển mạng
lưới trường nghề chất lượng cao theo tiêu chuẩn Đức, Nhật, đáp ứng nhu cầu lao động
kỹ thuật cho các khu công nghiệp.
Đề án đào tạo nghề chất lượng cao (Quyết định 899/QĐ-TTg, 2013)
Quyết định 899 (năm 2013) đặt mục tiêu đến năm 2025, 30–35% lao động qua đào
tạo nghề có tay nghề cao.
Quyết định 899 của Thủ tướng Chính phủ năm 2013 đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao
động qua đào tạo nghề lên 30–35% vào năm 2025, tập trung vào các ngành công nghiệp
mũi nhọn như ô tô, điện tử, du lịch. Đề án chú trọng xây dựng 70 trường nghề chất lượng
cao theo mô hình của Đức (đào tạo kép) và Nhật Bản (kết hợp kỷ luật và kỹ năng mềm).
Ví dụ, Trường Cao đẳng Công nghệ Quốc tế Lilama 2 đã hợp tác với Tập đoàn Bosch
(Đức) để đào tạo kỹ thuật viên tự động hóa, đảm bảo 100% sinh viên có việc làm ngay sau tốt nghiệp. 11
Đề án cũng thúc đẩy đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp. Chẳng hạn, Tập
đoàn Samsung đầu tư 2 triệu USD xây dựng Trung tâm Đào tạo Công nghệ cao (SEVT)
tại Bắc Ninh, cung cấp 5.000 kỹ sư/năm cho các nhà máy của hãng. Bên cạnh đó, Chính
phủ hợp tác với các tổ chức quốc tế như GIZ (Đức) và JICA (Nhật) để chuyển giao giáo
trình, đào tạo giảng viên nguồn, và công nhận bằng cấp quốc tế cho lao động Việt Nam.
Chiến lược Chuyển đổi số Quốc gia (2020)
Chiến lược này nhấn mạnh việc số hóa nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu kỷ
nguyên số. Chiến lược Chuyển đổi số Quốc gia đến năm 2030 nhấn mạnh việc số hóa
nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số. Trọng tâm là đào tạo kỹ năng số
cho 50% dân số vào năm 2025, đặc biệt chú trọng nhóm yếu thế như lao động nông thôn,
người khuyết tật. Chương trình "Kỹ năng số cho mọi người" phối hợp với Google,
Microsoft để cung cấp khóa học miễn phí về công nghệ thông tin, marketing số.
Bên cạnh đó, Chiến lược đặt mục tiêu đào tạo 1,5 triệu kỹ sư công nghệ thông tin
và 300.000 chuyên gia an ninh mạng vào năm 2030. Để thực hiện, Chính phủ hợp tác
với các tập đoàn như FPT, Viettel xây dựng Học viện Công nghệ thông tin, đồng thời
triển khai nền tảng đào tạo trực tuyến quốc gia "Vietnam Digital Academy", tích hợp
với Coursera, edX. Điều này giúp người học tiếp cận kiến thức từ các đại học hàng đầu
thế giới, đồng thời thúc đẩy phong trào học tập suốt đời.
Chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài
Thông qua Nghị định 140/2017/NĐ-CP (sửa đổi 2021), Nhà nước ban hành nhiều
cơ chế đặc thù nổi bật. Nghị định 140/2017 (sửa đổi 2021) thể hiện quyết tâm của Nhà
nước trong việc giữ chân nhân tài và thu hút trí thức toàn cầu. Chính sách này đưa ra
các ưu đãi vượt trội như lương cao gấp 3–5 lần mức phổ thông, cấp nhà ở công vụ, miễn
thuế thu nhập cho chuyên gia nước ngoài, và hỗ trợ tối đa kinh phí nghiên cứu. Điển
hình là trường hợp GS. Trần Thanh Vân (nhà vật lý hạt nhân người Việt tại Pháp) được
mời về nước làm cố vấn cho Viện Nghiên cứu Advanced Institute of Science and Technology (AIST).
Chính sách còn khuyến khích tinh thần khởi nghiệp thông qua Quỹ Đổi mới sáng
tạo Quốc gia (NIC), với tổng vốn 2 tỷ USD, hỗ trợ các dự án công nghệ cao. Ngoài ra,
Nhà nước xây dựng mạng lưới kết nối trí thức người Việt toàn cầu thông qua các diễn 12
đàn như VietChallenge (Mỹ), Techfest Vietnam, tạo cầu nối để chuyên gia đóng góp tri thức cho đất nước.
Định hướng từ Đại hội XIII của Đảng (2021)
Tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng xác định phát triển NNLCLC là "khâu đột phá
chiến lược" để hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập
cao vào năm 2045. Định hướng này tập trung vào:
Trọng tâm của chủ trương này là gắn kết đào tạo với xu thế cách mạng công nghiệp
4.0 và chuyển đổi số. Đảng chỉ rõ cần ưu tiên đào tạo nhân lực trong các lĩnh vực công
nghệ cao như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), robot, và IoT, đồng thời xây
dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Một điểm nhấn quan trọng là cơ chế hợp tác "ba nhà" (Nhà nước - Nhà trường -
Doanh nghiệp), nhằm thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn. Cụ thể, các trường
đại học được khuyến khích hợp tác với tập đoàn công nghệ như FPT, Viettel để thiết kế
chương trình đào tạo, cung cấp thực tập sinh, và nghiên cứu ứng dụng. Bên cạnh đó,
Đảng đề cao việc xây dựng cơ chế đặc thù thu hút nhân tài, như tạo hành lang pháp lý
để các chuyên gia nước ngoài làm việc lâu dài tại Việt Nam, ưu tiên đầu tư vào các trung
tâm nghiên cứu đỉnh cao như Viện Công nghệ VinAI, VinBigdata.
Chương trình Quốc gia nâng cao chất lượng NNL (2021–2030)
Triển khai từ năm 2021, chương trình này tập trung vào đào tạo nhân tài và thu hút
trí thức. Chương trình Quốc gia giai đoạn 2021–2030 tập trung vào đào tạo nhân tài và
thu hút trí thức toàn cầu, coi đây là động lực để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trọng tâm là đầu tư mạnh vào giáo dục STEM thông qua các học bổng toàn phần như
"Chương trình 600 tiến sĩ" của Bộ Giáo dục, hay học bổng VEF của Chính phủ Mỹ dành
cho sinh viên Việt Nam. Đặc biệt, chương trình khuyến khích liên kết đào tạo quốc tế,
như dự án hợp tác giữa Đại học Phenikaa với Đại học Arizona (Mỹ) để đào tạo kỹ sư AI.
Bên cạnh đó, Nhà nước triển khai Quỹ Phát triển tài năng trẻ (2021) với ngân sách
1.000 tỷ đồng/năm, hỗ trợ nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp sáng tạo cho thanh niên.
Điển hình là cuộc thi "Nhà sáng chế trẻ" do Bộ Khoa học tổ chức, tạo cơ hội cho các
startup công nghệ như Momo, VNPay phát triển. Để thu hút chuyên gia nước ngoài, 13
Chính phủ áp dụng chính sách "visa ưu tiên" và miễn thuế thu nhập cho nhà khoa học
có đóng góp đặc biệt, đồng thời xây dựng các trung tâm nghiên cứu đẳng cấp như Khu Công nghệ cao Hòa Lạc. 14
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO HIỆN NAY
2.1. Bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0
2.1.1. Xu hướng chuyển đổi số và nhu cầu nhân lực
❖ Xu hướng chuyển đổi số
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) đang mở ra một giai đoạn phát
triển mới, trong đó chuyển đổi số trở thành yếu tố cốt lõi, tác động mạnh mẽ đến mọi
lĩnh vực từ sản xuất, kinh doanh đến giáo dục và y tế. Các công nghệ tiên tiến như trí
tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây và Internet vạn vật (IoT)
không chỉ làm thay đổi phương thức vận hành của doanh nghiệp mà còn tạo ra sự biến
đổi lớn trong cơ cấu việc làm và nhu cầu nhân lực.
Tại Việt Nam, tiến trình chuyển đổi số diễn ra với tốc độ nhanh chóng, đặc biệt
trong các lĩnh vực tài chính, thương mại điện tử, y tế và giáo dục. Theo Báo cáo Kinh tế
số Đông Nam Á 2023 do Google, Temasek và Bain & Company công bố, nền kinh tế
số Việt Nam đạt 30 tỷ USD, đứng thứ ba trong khu vực ASEAN, và dự báo sẽ tăng lên
45-50 tỷ USD vào năm 2025. Sự tăng trưởng này đồng nghĩa với việc nhu cầu về nhân
lực công nghệ thông tin (CNTT), an ninh mạng, phân tích dữ liệu và vận hành hệ thống số ngày càng cao.
❖ Nhu cầu nhân lực
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT), sự phát triển nhanh chóng
của khoa học công nghệ đã dẫn đến sự phân chia mới trong các ngành kinh tế, trong đó
công nghệ kỹ thuật cao trở thành trụ cột của nền kinh tế tri thức. Điều này đặt ra nhu
cầu lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao. Bên cạnh đó, các ngành truyền thống cũng
được cải tiến nhờ công nghệ hiện đại, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Hội nhập kinh tế quốc tế thu hút đầu tư nước ngoài, tạo ra nhiều cơ hội việc làm
nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao về trình độ lao động, nhất là đối với những ngành thâm
dụng chất xám hay những lao động kỹ thuật cao. Sự toàn cầu hóa trong thương mại, vốn
và sản xuất đòi hỏi lao động có tính thích ứng cao, nếu không sẽ bị đào thải. Đồng thời,
cạnh tranh gay gắt giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ tiên tiến. 15
Sáng tạo trở thành yếu tố cốt lõi để phát triển trong nền kinh tế tri thức, khi công
nghệ đổi mới liên tục và vòng đời sản phẩm ngắn. Việt Nam cần đội ngũ chuyên gia
không chỉ giỏi ứng dụng mà còn có khả năng sáng tạo. Bên cạnh đó, HNKTQT cũng
mở ra cơ hội xuất khẩu lao động, nhưng để tận dụng tốt, cần nâng cao chất lượng lao
động theo tiêu chuẩn quốc tế.
Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng, khả năng học tập suốt đời và
kỹ năng mềm đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của người
lao động. Học tập suốt đời không chỉ giúp cá nhân cập nhật kiến thức mới mà còn tạo
điều kiện để thích ứng với những thay đổi trong môi trường làm việc. Khi công nghệ và
các mô hình kinh doanh liên tục đổi mới, người lao động cần chủ động học hỏi từ các
khóa đào tạo trực tuyến, nghiên cứu thực tế và ứng dụng công nghệ vào công việc để
duy trì sự phát triển bền vững.
2.1.2. Tác động của công nghệ đến việc làm và yêu cầu kỹ năng mới
Sự phát triển của công nghệ đang đặt ra những thách thức lớn đối với thị trường
lao động. Nhiều công việc truyền thống có nguy cơ bị thay thế bởi máy móc và phần
mềm tự động hóa, trong khi các ngành nghề mới liên quan đến công nghệ cao lại có nhu
cầu tuyển dụng ngày càng lớn. Điều này đòi hỏi người lao động không ngừng nâng cao
năng lực để thích nghi với môi trường làm việc hiện đại.
Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) năm 2023, 44% kỹ năng của người lao
động hiện nay sẽ cần được nâng cấp trong vòng 5 năm tới để đáp ứng yêu cầu của thị
trường lao động. Những công việc mang tính lặp đi lặp lại như kế toán, nhập liệu, dịch
thuật đơn giản đang dần bị AI và phần mềm thay thế. Ngược lại, các ngành nghề liên
quan đến khoa học dữ liệu, kỹ thuật phần mềm, an ninh mạng và quản trị hệ thống đang
trở thành tâm điểm tuyển dụng với mức lương cạnh tranh.
Tại Việt Nam, sự dịch chuyển này đang diễn ra rõ rệt. Theo báo cáo của Navigos
Group (2023), các lĩnh vực có nhu cầu nhân sự chất lượng cao tăng mạnh gồm công
nghệ thông tin (+25%), thương mại điện tử (+20%) và tài chính - ngân hàng (+18%).
Trong khi đó, những ngành sử dụng lao động phổ thông như dệt may, lắp ráp linh kiện
điện tử đang chịu tác động mạnh từ tự động hóa, dẫn đến nhu cầu tuyển dụng giảm dần.
Sự thay đổi trong cơ cấu việc làm buộc người lao động phải trang bị những kỹ
năng phù hợp với kỷ nguyên số. Bên cạnh chuyên môn công nghệ, khả năng tư duy sáng 16
tạo, làm việc nhóm, giao tiếp hiệu quả và quản lý thời gian cũng trở thành những yếu tố
quan trọng. Nếu không có sự chuẩn bị tốt, nguy cơ thất nghiệp và tụt hậu sẽ ngày càng
lớn trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt.
Việc nâng cao kỹ năng số không chỉ giúp người lao động thích nghi với sự thay
đổi mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh trên thị trường việc làm. Các chương trình đào tạo
kỹ năng mới cần được triển khai đồng bộ, kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, nhằm giúp
lực lượng lao động tiếp cận nhanh chóng với công nghệ tiên tiến và xu hướng toàn cầu.
2.1.3. Vai trò của đổi mới sáng tạo trong phát triển nhân lực
Đổi mới sáng tạo không chỉ là động lực phát triển kinh tế mà còn đóng vai trò then
chốt trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Những quốc gia có nền giáo dục linh
hoạt, khuyến khích nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ vào thực tiễn sẽ có lợi
thế trong việc tận dụng cơ hội từ CMCN 4.0.
Việt Nam đang có những bước tiến đáng kể trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, đặc
biệt là sự phát triển mạnh mẽ của hệ sinh thái khởi nghiệp. Theo Báo cáo Chỉ số Đổi
mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2023, Việt Nam xếp 46/132 quốc gia, đứng thứ ba
trong ASEAN, chỉ sau Singapore và Malaysia. Sự phát triển này không chỉ tạo ra nhiều
doanh nghiệp công nghệ tiềm năng mà còn góp phần nâng cao năng lực của lực lượng lao động trong nước.
Bên cạnh đó, Việt Nam hiện có gần 4.000 startup hoạt động trong các lĩnh vực
fintech, thương mại điện tử, AI và blockchain, với nhiều công ty đạt giá trị hàng triệu
USD như MoMo, VNPay, Tiki, Sendo. Hệ sinh thái khởi nghiệp năng động này đang
tạo ra hàng nghìn việc làm chất lượng cao, giúp thúc đẩy sự sáng tạo và tinh thần doanh nghiệp trong giới trẻ.
Tuy nhiên, để đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực phát triển nhân lực, cần
có sự hỗ trợ mạnh mẽ hơn từ chính phủ và doanh nghiệp. Hệ thống giáo dục cần điều
chỉnh theo hướng thực tiễn hơn, tập trung vào phát triển tư duy sáng tạo, khả năng giải
quyết vấn đề và ứng dụng công nghệ trong giảng dạy. Đồng thời, doanh nghiệp cũng
cần chủ động hơn trong việc đào tạo, bồi dưỡng nhân sự, giúp họ tiếp cận với công nghệ
mới ngay từ khi còn trong quá trình học tập. 17
Sự kết hợp giữa đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực sẽ giúp Việt Nam
không chỉ đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động mà còn vươn lên trên bản đồ công
nghệ toàn cầu. Việc đầu tư vào giáo dục, nghiên cứu khoa học và hỗ trợ khởi nghiệp sẽ
là chìa khóa để nâng cao chất lượng nhân lực, tạo động lực phát triển bền vững trong thời đại số.
Cách mạng công nghiệp 4.0 đang đặt ra những cơ hội và thách thức lớn đối với
nguồn nhân lực. Chuyển đổi số tạo ra nhu cầu cao về lao động có kỹ năng công nghệ,
trong khi tự động hóa buộc người lao động phải liên tục thích nghi với môi trường làm
việc mới. Đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố quyết định giúp nâng cao chất lượng nhân
lực và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Để tận dụng tối đa những lợi thế này, Việt Nam cần
có chiến lược đào tạo bài bản, gắn kết giữa giáo dục, doanh nghiệp và chính sách hỗ trợ
từ chính phủ nhằm tạo ra một hệ sinh thái nhân lực bền vững và phát triển.
2.2. Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao tại Việt Nam
2.2.1. Số lượng
2.2.1.1. Số lượng nhân lực chất lượng cao được đào tạo trong nước
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2022, Việt Nam đã có khoảng 240.000 sinh
viên tốt nghiệp đại học và hơn 10.000 thạc sĩ, tiến sĩ được đào tạo trong nước, phản ánh
sự mở rộng quy mô đào tạo của các trường đại học và viện nghiên cứu. Tuy nhiên, mặc
dù số lượng sinh viên tốt nghiệp tăng lên, chất lượng đào tạo vẫn còn nhiều hạn chế, đặc
biệt là sự thiếu hụt kỹ năng thực tiễn và kinh nghiệm làm việc. Theo khảo sát của Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội, chỉ khoảng 15-20% sinh viên tốt nghiệp đáp ứng
được yêu cầu của doanh nghiệp ngay sau khi ra trường, cho thấy phần lớn sinh viên
thiếu kỹ năng cần thiết để làm việc hiệu quả trong môi trường thực tế.
Điều này không chỉ gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm
nguồn lao động chất lượng mà còn ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc gia. Việc thiếu
hụt kỹ năng thực tiễn và kinh nghiệm làm việc kéo theo nhiều vấn đề: Thứ nhất, các
doanh nghiệp phải bỏ ra thêm thời gian và chi phí đào tạo lại nhân viên mới, làm giảm
năng suất lao động và hiệu quả công việc. Điều này đặc biệt nguy hiểm trong một nền
kinh tế đang ngày càng đòi hỏi sự nhanh chóng và linh hoạt. Thứ hai, tỷ lệ thất nghiệp
của sinh viên có bằng đại học sẽ gia tăng, khi họ không thể đáp ứng yêu cầu công việc
ngay từ đầu. Mặc dù có trình độ học vấn cao, nhưng thiếu kinh nghiệm thực tiễn khiến 18
họ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm ổn định, dẫn đến sự lãng phí nguồn lực
quốc gia đã đầu tư vào giáo dục.
Ngoài ra, việc thiếu hụt kỹ năng thực tiễn cũng làm giảm khả năng đổi mới sáng
tạo và chuyển giao công nghệ trong các doanh nghiệp. Để phát triển và cạnh tranh trong
bối cảnh toàn cầu hóa, các doanh nghiệp Việt Nam cần một lực lượng lao động có khả
năng tiếp cận và ứng dụng công nghệ mới, sáng tạo trong công việc. Tuy nhiên, nếu
thiếu kinh nghiệm và kỹ năng thực tiễn, sinh viên sẽ khó có thể đáp ứng được các yêu
cầu này, làm giảm khả năng đổi mới sáng tạo và chậm trễ trong việc áp dụng các giải
pháp công nghệ hiện đại.
2.2.1.2. Số lượng du học sinh và nhân lực trở về từ nước ngoài
Sự phát triển mạnh mẽ của các dòng di cư, đặc biệt là di cư lao động và du học,
trong giai đoạn 2017 - 2023 đã tạo ra những tác động rõ rệt đến chất lượng nguồn nhân
lực tại Việt Nam, nhất là khi hiện tượng "chảy máu chất xám" ngày càng trở thành vấn
đề đáng lo ngại. Theo thông tin từ Hồ sơ Di cư Việt Nam 2023, khoảng 860.000 lao
động Việt Nam đã ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng, và khoảng 250.000 du học
sinh Việt Nam hiện đang học tập tại các quốc gia phát triển. Trong khi đó, ước tính 70-
80% du học sinh tự túc không quay trở về nước, thay vào đó, họ lựa chọn ở lại các quốc
gia sở tại để làm việc với điều kiện thu nhập và đãi ngộ hấp dẫn hơn. Điều này đã tạo ra
một làn sóng "chảy máu chất xám", khiến nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam bị giảm sút.
Việc một bộ phận lớn lao động và sinh viên không quay về sau khi học tập hoặc
làm việc tại nước ngoài đã dẫn đến tình trạng thiếu hụt nhân lực có trình độ chuyên môn
cao ở trong nước. Những người này thường mang theo không chỉ kiến thức học thuật
mà còn những kỹ năng, kinh nghiệm làm việc quốc tế mà Việt Nam cần để nâng cao
năng lực cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, khi họ không trở lại, đất nước
đã mất đi cơ hội tận dụng nguồn nhân lực này, gây khó khăn trong việc thực hiện các
chiến lược phát triển kinh tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ, khoa học, và các
ngành công nghiệp cần nhân lực chất lượng cao.
Khi một số lượng lớn các nhân tài không trở về, Việt Nam phải đối mặt với tình
trạng thiếu hụt nhân lực chất lượng cao trong nhiều ngành nghề quan trọng. Điều này
không chỉ làm giảm hiệu quả của các dự án phát triển trong nước mà còn gây khó khăn 19
trong việc nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng của đội ngũ lao động trong nước.
Các chuyên gia, kỹ sư, bác sĩ, và nhà nghiên cứu khi không trở về có thể đóng góp cho
sự phát triển của đất nước, dẫn đến một khoảng trống lớn trong lực lượng lao động có trình độ cao.
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), cũng đặt ra
một thách thức lớn cho thị trường lao động. Nhiều công việc trong tương lai sẽ bị thay
thế bởi công nghệ, đặc biệt là các công việc có tay nghề thấp. Điều này càng làm trầm
trọng thêm tình trạng chảy máu chất xám khi những nhân tài không chỉ rời khỏi Việt
Nam mà còn có thể chuyển sang các quốc gia phát triển, nơi họ có thể tận dụng tốt hơn
các cơ hội nghề nghiệp trong bối cảnh công nghệ tiên tiến. Tình trạng này đang đặt ra
một loạt thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam, đặc biệt là trong việc duy trì và
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, nếu có chiến lược đúng đắn và cơ
chế linh hoạt, các nguồn nhân lực này vẫn có thể đóng góp vào sự phát triển đất nước
thông qua các kênh hợp tác quốc tế và chuyển giao công nghệ.
2.2.1.3. Số lượng nhân lực chất lượng cao trong các ngành trọng điểm
Việt Nam đang đối mặt với một số vấn đề lớn trong lĩnh vực y tế, mặc dù có sự
gia tăng đáng kể về số lượng bác sĩ, dược sĩ, và nhân viên y tế trong những năm qua. Số
lượng bác sĩ, điều dưỡng được đào tạo mỗi năm khoảng 12.000 bác sĩ và 20.000 điều
dưỡng, giúp gia tăng chất lượng dịch vụ y tế. Tuy nhiên, tỷ lệ bác sĩ trên dân số vẫn còn
thấp so với tiêu chuẩn quốc tế. Theo thống kê, Việt Nam chỉ có khoảng 8 bác sĩ trên
10.000 dân, trong khi mức chuẩn của các quốc gia phát triển là 25 bác sĩ trên 10.000
dân. Sự thiếu hụt này chủ yếu tập trung ở các khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa,
nơi dịch vụ y tế chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người dân. Tình trạng này gây khó khăn
trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là ở các cơ sở y tế tuyến cơ sở.
Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, Việt Nam vẫn đang đối mặt với một số
thách thức lớn, đặc biệt là trong việc phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao. Theo
thống kê, hiện tại Việt Nam chỉ có khoảng 9,5 nhà nghiên cứu trên 10.000 dân, thấp hơn
rất nhiều so với các quốc gia phát triển như Hàn Quốc (tỷ lệ 40 nhà nghiên cứu/10.000
dân) hay Nhật Bản (tỷ lệ 55 nhà nghiên cứu/10.000 dân). Điều này phản ánh sự thiếu
hụt nghiêm trọng trong đội ngũ nhân lực sáng tạo, nghiên cứu tại Việt Nam, gây cản trở 20