






Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ II - NĂM HỌC 2022 2023 –
(Phần dành cho sinh viên/ học viên) Bài thi h c p ọ
hần: Lịch sử Đảng C n ộ g sản Việt Số báo danh: 22 Nam Mã s ố SV/HV: 22D100052
Mã số đề thi: 1 Lớp: K58A3 Ngày thi: 16/12/2024 T ng s ổ t ố rang: 7
Họ và tên: Ngô Thế Cường
Điểm kết lu n: ậ GV ch m thi 1: ấ
…….………………………...... GV ch m thi 2: ấ
…….………………………...... Bài làm SV/HV không Câu 1: được viết vào cột này)
Sau Cách mạng Tháng Tám cùng với diễn biến của tình hình thế giới đã Điểm từng câu, diểm thưởng
mang đến cho Việt Nam không ít thuận lợi trong việc xây dựng tình
(nếu có) và điểm hình đất nước, song vẫn có những khó khăn khi “thù trong, giặc ngoài”, toàn bài
kinh tế tài chính kiệt quệ. Có thể nói, ViệtNam đang trong tình thế “ngàn GV chấm 1: cân treo sợi tóc”. Câu 1: ……… điểm Câu 2: ……… điểm 1. Thuận lợi …………………. a) Trên thế giới ………………….
Về quốc tế, sau cuộc chiến tranh thế giới thứ II, cục diện khu vực và thế Cộng …… điểm
giới có những sự thay đổi tích cực cho Cách mạng Việt Nam. Nhiều GV chấm 2:
nước ở Đông, Trung Âu đã lựa chọn con đường phát triển theo chủ nghĩa Câu 1: ……… điểm
xã hội. Liên Xô trở thành thành trì của chủ nghĩa xã hội. Phong trao giải Câu 2: ……… điểm
phóng dân tộc ở các nước thuộc địa châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ …………………. Latinh dâng cao. …………………. Cộng …… điểm b) Trong nước
Họ tên SV/HV: Ngô Thế Cường - Mã LHP: 241-HCMI0131-02 Trang 1/7
Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập, tự do, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ bị
áp bức trở thành chủ nhân của chế độ mới. Chính quyền dân chủ được thiết lập, có hệ thống
từ Trung ương đến cơ sở. Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền, Chính phủ Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa được thành lập, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người trở thành
biểu tượng của nền độc lập, tự do, là Người có công lớn gây dựng lên khối đại đoàn kết
toàn dân. Có thể thấy, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng Cộng
sản Việt Nam hứa hẹn những thành tựu to lớn sau này. Quân đội quốc gia và lực lượng
công an, hệ thống luật pháp của chính quyền cách mạng được khẩn trương xây dựng và
phát huy vai trò đối với cuộc đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài. 2. Khó khăn a) Trên thế giới
Phe đế quốc chủ nghĩa nuôi dưỡng âm mưu mới “chia lại hệ thống thuộc địa thế
giới”, ra sức tấn công, đàn áp phong trào cách mạng thế giới, trong đó có Cách mạng Việt
Nam. Do lợi ích cục bộ của mình, các nước lớn không nước nào ủng hộ lập trường độc lập
và công nhận địa vị pháp lí của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việt Nam nằm
trong vòng vây của chủ nghĩa đế quố, bị bao vây cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài.
Cách mạng ba nước Đông Dương nói chung và Cách mạng Việt Nam nói riêng phải đương
đầu với nhiều bất lợi, khó khăn, thử thách hết sức to lớn và rất nghiêm trọng. b) Trong nước
Chính trị - xã hội: Chính quyền cách mạng mới thành lập còn non yếu, thiếu kinh
nghiệm, phải gánh chịu hậu quả nặng nề từ chế độ thực dân. Nạn đói khủng khiếp năm
1945 do chính sách vơ vét lúa gạo của Nhật, kết hợp với thiên tai, vỡ đê trên diện rộng ở
Bắc Bộ, đã cướp đi sinh mạng của 2 triệu người dân.
Kinh tế - tài chính: Kho bạc Nhà nước hoàn toàn trống rỗng. Ngân hàng Đông Dương
do Nhật kiểm soát và chờ trao lại cho Đồng minh. Tình trạng lạm phát phi mã trong 5 năm
trước khiến đồng tiền Đông Dương mất giá nghiêm trọng, giá gạo tăng vọt từ 4-5 đồng/tạ
lên 700-800 đồng/tạ, đẩy người dân vào cảnh khốn cùng.
Họ tên SV/HV: Ngô Thế Cường - Mã LHP: 241-HCMI0131-02 Trang 2/7
Văn hóa - Y tế: Hơn 90% dân số mù chữ sau 80 năm dưới ách đô hộ của Pháp. Các
hủ tục, tệ nạn xã hội còn phổ biến. Dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả, lan tràn, sức khỏe người dân suy kiệt. Quan hệ đối ngoại:
Mỹ thay đổi thái độ, ngả về phía các nước thực dân, không còn ủng hộ Việt Nam.
Pháp quyết tâm tái chiếm Đông Dương, cử đặc phái viên sang để khôi phục quyền thống trị.
Ở miền Bắc, 20 vạn quân Trung Hoa Dân Quốc tiến vào dưới danh nghĩa giải giáp
quân Nhật nhưng thực chất là để cướp bóc, áp đặt chế độ tiền tệ, giá cả phi lý, dùng
tiền mất giá để vơ vét tài sản của Việt Nam. Chúng còn hỗ trợ các nhóm phản động
người Việt lưu vong nhằm lập chính phủ bù nhìn.
Ở miền Nam, quân Anh do tướng Gracey chỉ huy đã giúp 1.500 quân Pháp trở lại
Sài Gòn, trang bị vũ khí cho họ, tạo điều kiện cho Pháp gây hấn và bùng nổ chiến tranh vào ngày 23/9/1945.
Hy vọng vào sự giúp đỡ từ các nước láng giềng cũng mong manh. Chỉ có Chính phủ
Thái Lan của Thủ tướng Pridi có thiện chí giúp đỡ, cho phép lập phái đoàn mua vũ
khí, huấn luyện quân sự. Tuy nhiên, sự giúp đỡ này chấm dứt khi Chính phủ Pridi bị lật đổ năm 1948.
Thuận lợi cơ bản nhất của nước ta lúc đó là nhân dân ta đã giành được độc lập, tự
do, trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Sở dĩ đây là thuận lợi
cơ bản nhất vì những lý do sau đây:
Đầu tiên, đây là thành quả cốt lõi, có ý nghĩa quyết định nhất của Cách mạng tháng Tám:
Trước Cách mạng tháng Tám, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, chịu ách
thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Nhân dân ta sống trong cảnh nô lệ,
lầm than, không có quyền tự do, dân chủ.
Cách mạng tháng Tám thành công đã lật đổ ách thống trị đó, giành lại độc lập, tự do cho
dân tộc, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Đây là sự
Họ tên SV/HV: Ngô Thế Cường - Mã LHP: 241-HCMI0131-02 Trang 3/7
thay đổi căn bản nhất, có ý nghĩa lịch sử trọng đại nhất, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam.
Thứ hai, là tiền đề, là cơ sở cho mọi thắng lợi tiếp theo:
Về chính trị, việc giành được độc lập, tự do, thành lập chính quyền cách mạng là
tiền đề để xây dựng và củng cố một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Chính quyền cách
mạng do nhân dân làm chủ sẽ tạo ra sức mạnh to lớn để vượt qua mọi khó khăn, thử thách.
Về tinh thần, Độc lập, tự do đã khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí quật cường, lòng
tự hào dân tộc và tinh thần đoàn kết của toàn dân. Đây là nguồn sức mạnh nội sinh vô cùng
to lớn, là động lực để nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ đất nước.
Về vật chất, dù nền kinh tế lúc đó còn rất khó khăn, nhưng với tinh thần làm chủ,
nhân dân ta đã ra sức thi đua sản xuất, thực hành tiết kiệm, từng bước khôi phục kinh tế, cải thiện đời sống.
Về đối ngoại, việc giành được độc lập đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường
quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế.
Thứ ba, là nguồn sức mạnh nội sinh to lớn:
Khác với các thuận lợi khác như sự giúp đỡ của quốc tế (có thể có hoặc không, có
thể thay đổi), tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ và tinh thần làm chủ của nhân dân
là nguồn sức mạnh nội sinh, bền vững, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Chính nhờ có
nguồn sức mạnh này, nhân dân ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách trong giai
đoạn 1945-1946, bảo vệ được thành quả cách mạng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống
Pháp lâu dài, gian khổ nhưng tất yếu sẽ thắng lợi.
Thứ tư, là cơ sở để phát huy các thuận lợi khác:
Việc Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền, có đường lối đúng đắn,
sáng tạo cũng là một thuận lợi, nhưng điều này chỉ phát huy được tác dụng khi Đảng giành
được sự tin tưởng, ủng hộ của nhân dân. Sự ủng hộ của nhân dân chính là dựa trên cơ sở
Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành được độc lập, tự do, mang lại quyền làm chủ cho nhân dân.
Trong bối cảnh "ngàn cân treo sợi tóc" sau Cách mạng tháng Tám, việc giành được
độc lập, tự do, trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình là thuận lợi
Họ tên SV/HV: Ngô Thế Cường - Mã LHP: 241-HCMI0131-02 Trang 4/7
cơ bản nhất, quan trọng nhất. Nó là thành quả cốt lõi của cách mạng, là tiền đề, là nguồn
sức mạnh nội sinh và là cơ sở để phát huy các thuận lợi khác, giúp nhân dân ta vượt qua
mọi khó khăn, thử thách, bảo vệ và xây dựng đất nước. Câu 2:
Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) đánh dấu bước ngoặt quan trọng
với việc đề ra đường lối đổi mới toàn diện, trong đó đổi mới kinh tế là trọng tâm. Đường
lối đổi mới kinh tế tại Đại hội VI thể hiện sự nhận thức lại đúng đắn và khoa học hơn về
chủ nghĩa xã hội, khắc phục những hạn chế, yếu kém trong tư duy và hành động trước đây,
đồng thời mở ra hướng đi mới cho sự phát triển kinh tế đất nước.
Trọng tâm của đường lối đổi mới kinh tế tại Đại hội VI bao gồm:
Đầu tiên là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần: Đại hội VI khẳng định sự cần
thiết phải duy trì cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam. Điều này trái ngược với quan điểm trước đây vốn chỉ thừa nhận hai
thành phần kinh tế là quốc doanh và tập thể. Việc thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần,
bao gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, và tư bản tư nhân là bước
tiến quan trọng trong tư duy kinh tế của Đảng. Nó đã tạo ra động lực mới cho sản xuất phát
triển, giải phóng sức sản xuất, huy động được mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế.
Hai là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế: Đại hội VI chủ trương xóa bỏ cơ chế quản lý
kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
Cơ chế thị trường được thừa nhận và từng bước vận dụng, đồng thời với việc tăng cường
vai trò quản lý của Nhà nước. Cụ thể là:
Xóa bỏ chế độ tem phiếu: Chuyển sang mua bán theo giá thị trường, thừa nhận quy
luật cung cầu, giá trị.
Thực hiện cơ chế một giá: Xóa bỏ tình trạng hai giá (giá nhà nước quy định và giá
thị trường), tiến tới thực hiện cơ chế một giá theo nguyên tắc thuận mua vừa bán.
Trao quyền tự chủ cho các đơn vị kinh tế: Các doanh nghiệp được tự chủ trong sản
xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình.
Họ tên SV/HV: Ngô Thế Cường - Mã LHP: 241-HCMI0131-02 Trang 5/7
Đổi mới công tác kế hoạch hóa: Chuyển từ kế hoạch hóa mệnh lệnh, áp đặt sang kế
hoạch hóa mang tính định hướng, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho các đơn vị kinh tế phát triển.
Sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa - tiền tệ: Thừa nhận sự tồn tại khách quan của
sản xuất hàng hóa và các quy luật của kinh tế thị trường.
Ba là thực hiện ba chương trình kinh tế lớn: Đại hội VI xác định ba chương trình mục tiêu
lớn về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu là nội dung cụ thể hóa
của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên. Việc tập trung vào ba
chương trình này nhằm giải quyết những nhu cầu cấp bách của đời sống nhân dân, tạo tiền
đề cho phát triển kinh tế trong các giai đoạn tiếp theo.
Bốn là mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại: Đại hội VI chủ trương mở
rộng quan hệ kinh tế với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị xã hội, trên
nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi.
Có thể nói, đường lối đổi mới kinh tế tại Đại hội VI là bước ngoặt quan trọng, thể
hiện sự đổi mới tư duy kinh tế của Đảng, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát
triển của thời đại. Những nội dung đổi mới này đã tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh
tế phát triển, từng bước đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Theo em, sở dĩ Đảng ta xác định nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng
của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bởi lẽ nó xuất phát từ chính thực
tiễn và yêu cầu khách quan của đất nước trong giai đoạn này.
Thứ nhất, xuất phát từ trình độ phát triển không đồng đều của lực lượng sản xuất.
Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua giai đoạn
phát triển tư bản chủ nghĩa. Lực lượng sản xuất ở các vùng, miền, các ngành, các lĩnh vực
có sự chênh lệch lớn. Do đó, không thể áp dụng ngay một hình thức sở hữu duy nhất, mà
cần thừa nhận sự tồn tại khách quan của nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế,
bao gồm cả kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư
nhân) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Việc duy trì nền kinh tế nhiều thành phần là tất
yếu khách quan để giải phóng sức sản xuất, huy động tối đa mọi nguồn lực, khơi dậy tiềm
Họ tên SV/HV: Ngô Thế Cường - Mã LHP: 241-HCMI0131-02 Trang 6/7
năng của các thành phần kinh tế, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội, phù
hợp với quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Thứ hai, bài học từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp trước
đây với hai thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể đã bộc lộ nhiều hạn chế,
kìm hãm sự phát triển. Thực tiễn đổi mới ở Việt Nam cũng đã chứng minh, việc thừa nhận
và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, cạnh tranh bình đẳng, hợp tác cùng phát triển
đã tạo ra động lực mạnh mẽ, thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao đời sống nhân dân. Đồng
thời, kinh nghiệm từ nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển, cho thấy sự tồn tại
của nền kinh tế nhiều thành phần là phổ biến và mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Thứ ba, xét từ mục tiêu và yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế nhiều
thành phần sẽ tạo tiền đề vật chất - kỹ thuật, huy động tối đa các nguồn lực, thúc đẩy phát
triển lực lượng sản xuất. Thông qua cạnh tranh và hợp tác, các thành phần kinh tế sẽ từng
bước được xã hội hóa, tạo điều kiện cho việc xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Hơn nữa, việc duy trì nhiều thành phần kinh tế còn đáp ứng nguyện vọng chính đáng của
nhân dân về phát triển kinh tế, nâng cao đời sống, tạo điều kiện cho mọi người được tự do
kinh doanh, làm giàu hợp pháp.
Cuối cùng, Đảng ta nhận thức rõ thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là
một quá trình lâu dài, phức tạp, trải qua nhiều chặng đường, nhiều bước phát triển. Trong
thời kỳ này, không thể nóng vội, duy ý chí xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội
chủ nghĩa, mà phải sử dụng chúng, cải tạo chúng từng bước để phục vụ cho mục tiêu xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Việc duy trì nền kinh tế nhiều thành phần là phù hợp
với quy luật khách quan, là bước đi tất yếu trong thời kỳ quá độ.
Như vậy, việc Đảng ta xác định nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một quyết định đúng đắn, sáng tạo, thể
hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ
thể của Việt Nam, góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới đất nước. ---Hết---
Họ tên SV/HV: Ngô Thế Cường - Mã LHP: 241-HCMI0131-02 Trang 7/7