








Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ II NĂM HỌC 2020 – 2021
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Số báo danh: 55 Nam Lớp: 2108HCMI0131 Mã số đề thi: 25 Họ và tên: Phan Thùy Linh
Ngày thi: 10/06/2021 Số trang: 07 Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………...... BÀI LÀM
Câu 1 (5 điểm): Anh (Chị) hãy làm rõ cơ sở và nội dung phương châm “kháng chiến
toàn dân” được Đảng đề ra trong đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 –
1954). Ý nghĩa thực tiễn của phương châm đó đối với công cuộc đổi mới hiện nay.
Những đặc điểm của sự khởi đầu và những thuận lợi, khó khăn dưới đây chính là cơ
sở của phương châm “kháng chiến toàn dân” được Đảng đề ra trong đường lối kháng chiến
chống thực dân Pháp (1945-1954).
Từ cuối tháng 10-1946, tình hình chiến sự ở Việt Nam ngày càng cũng thấy do, nguy cơ
một cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Pháp tăng dần. Đảng, Chi phủ, quân đội và nhân dân
Việt Nam tiếp tục kìm chế, kiên trì thực hiện chủ trương hòa hoãn và bày tỏ thiện chí hòa bình,
nhân nhượng nhằm tìm kiếm con đường bà bình bảo vệ, giữ gìn toàn vẹn nền độc lập, tự do của
Việt Nam, đồng thời cố gắng cứu văn mối quan hệ Việt-Pháp đang ngày càng xấu đi và ngăn
chặn một cửa chiến tranh nổ ra quá sớm và không cân sức với Pháp. Nhiều lần, Chủ tịch Hồ Cá
Minh, thay mặt Chính phủ Việt Nam, đã gửi điện văn, thư từ cho Chính phủ Pháp cho Thủ
tướng Pháp song đều không được hồi đáp; con đường ngoại giao với đạ diện Pháp tại Hà Nội
cũng đều không đưa đến kết quả tích cực vì phía Pháp chỉ muốn “dùng biện pháp quân sự để
giải quyết mối quan hệ Việt-Pháp". Bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Việt Nam đã bộc lộ rõ thái độ
bội ước, tiếp tục đẩy mạnh tăng cường bình định ở các tỉnh Nam Bộ, xúc tiến tái lập Nam Kỷ tự
trị; gây hấn, khiêu khích, gây xung đột quân sự, lấn chiếm nhiều vị trí ở nơi đóng quân ở Bắc
Bộ Việt Nam; đặt lại nền thống trị ở Campuchia và Lảo, chia rẽ ba nước Đông Dương.
Cuối tháng 11-1946, thực dân Pháp mở cuộc tấn công vũ trang đánh chiếm Hải Phòng,
Lạng Sơn, tiếp đó chiếm đóng trái phép ở Đà Nẵng, Hải Dương, the công vào các vùng tự do
của ta ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ, hậu thuẫn cho lực lượng phản động xúc tiến thành lập cái
Họ tên SV/HV: Phan Thùy Linh - Mã LHP: 2108HCMI0131 Trang 1/6
gọi là “Chính phủ Cộng hòa Nam Kỳ và triệu tập Hội nghị Liên bang Đông Dương. Trong các
ngày 16 và 17-12-1946, quản đội Pháp ở Hà Nội ngang nhiên tấn công đánh chiếm trụ sở Bộ
Tài chính, Bộ Giao thông công chính của ta; bắn đại bác gây ra vụ thảm sát đồng bảo Hà Nội ở
phố Yên Ninh và Hàng Bún. Ngày 18-12, đại diện Pháp ở Hà Nội đơn phương tuyên bố các đứt
mọi liên hệ với Chính phủ Việt Nam, đưa liên tiếp ba tối hậu thư đòi phía Việt Nam phải giải
giáp; giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, đòi độc quyền thực thi nhiệm vụ kiểm soát, gìn giữ an
ninh, trật tự của thành phố... Đến ngày 19-12-1946 thiện chí hòa bình của Chính phủ và nhân
dân Việt Nam đã bị thực dân Pháp thẳng thùng cự tuyệt. Vì vậy, Đảng và nhân dân Việt Nam
chỉ còn một sự lựa chọn duy nhất là cầm súng đừng lên chống lại thực dân Pháp xâm lược để
bảo vệ nền độc lập và chính quyền cách mạng; bảo vệ những thành quả của cuộc Cách mạng
Tháng Tám vừa giành được.
Ngày 12-12-1946, Trung ương ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến. Ngày 18-12-1946, Hội
nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng (mở rộng) họp tại làng Vạn Phúc, Hà Đông (nay thuộc
quận Hà Đông, thành phố Hà Nội) đã đánh giá mức độ nghiêm trọng của tỉnh hình, kịp thời đề
ra chủ trương đối phó và quyết định phát động toàn dân, toàn quốc tiến hành cuộc kháng chiến
chống xâm lược Pháp với tinh thần “thả hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu
làm nô lệ”. Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến,
khẳng định quyết tâm sắt đá của nhân dân ta quyết kháng chiến đến cũng để bảo vệ nền độc lập, tự do.
Quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, thực hiện mệnh lệnh của Chính phủ, bắt đầu từ 20 giờ ngày 19-12-1946, dưới
sự chỉ đạo của các cấp ủy đảng, quân và dân Hà Nội và ở các đô thị từ Bắc vĩ tuyến 16 trở ra đã
đồng loạt nổ súng, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.
Tại Hà Nội, vào lúc 20 giờ 3 phút, pháo đài Láng bắn loạt đại bác đầu tiên vào thành Hà
Nội, báo hiệu cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu. Đèn điện trong thành phố vụt tắt, các lực
lượng vũ trang Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu, Công an xung phong nhất loạt tấn công các vị
trí đóng quân của Pháp trong thành phố. Cuộc chiến đấu diễn ra trên từng góc phố, căn nhà vô
cùng ác liệt, không cân sức giữa ta và địch. Cuộc chiến đấu ở mặt trận Hà Nội là quyết liệt nhất,
diễn ra liên tục trong suốt 60 ngày đêm khói lửa. Nhiều trận đánh ác liệt, giằng co, quyết tử, một
mất một còn giữa ta và Pháp ở nhà Bắc Bộ phủ, nhà Bưu điện Bờ Hồ, chợ Đồng Xuân, ga Hàng
cỏ, sân bay Bạch Mai, Ô Cầu Dền... là tiêu biểu cho tinh thần chiến đấu bất khuất, kiên cường
“Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của quân dân cả nước. Quân ta đã chống trả quyết liệt, đánh
tiêu hao nhiều sinh lực địch, bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não, lãnh đạo của Trung ương và
nhân dân rút ra ngoại thành; hoàn thành nhiệm vụ giam chân địch trong thành phố, bước đầu
làm thất bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp; bảo toàn lực lượng, phát triển
lực lượng chiến đấu thành một Trung đoàn chính quy mang tên “Trung đoàn Thủ đô". Đến ngày
17-2-1947, Trung đoàn Thủ đô và các lực lượng quân sự đã chủ động rút lui ra ngoài thành phố,
Họ tên SV/HV: Phan Thùy Linh - Mã LHP: 2108HCMI0131 Trang 2/6
lên chiến khu an toàn để củng cố, bảo toàn và phát triển lực lượng kháng chiến lâu dài. Ở các
địa phương khác, như Đà Nẵng, Huế, Vinh, Nam Định, Bắc Ninh, Bắc Giung quân và dân ta
cũng đồng loạt nổ súng tấn công vào các vị trí đóng quân của địch trong các đô thị, ngăn chặn
dịch trên các tuyến giao thông, đánh phá các cơ sở hạ tầng chiến tranh của địch; kìm giữ chân
địch không cho chúng mở rộng địa bà chiếm đóng xung quanh thành phố, thị xã, thị trấn; tiếp
tục di chuyển nhân tài, và lực lên các khu căn cứ địa và ATK...
Lúc này, nhân dân Việt Nam bước vào cuộc đấu tranh chống Pháp với vai trò bảo vệ Tổ
quốc, tính chất của cuộc chiến tranh là cuộc chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh nhân dân bảo
vệ hòa bình, chống lại kẻ thù xâm lược, nhân dân ta có thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Mặt khác,
trải qua một quá trình lâu dài thực hiện hòa hoãn với Pháp, giờ đây ta đã loại bỏ được các kẻ
thù, chỉ còn lại kẻ thù duy nhất là Pháp, các công tác đối nội cũng đã được giải quyết về cơ bản,
các điều kiện cần thiết chuẩn bị cho đã sẵn sàng, Đảng và nhân dân có đủ niềm tin để chiến đấu
và chiến thắng. Trong khi đó, lúc này Pháp vấp phải không ít khó khăn về kinh tế, chính trị,
quân sự ở trong nước và tại Đông Dương, những khó khăn này không dễ gì chúng khắc phục
được trong ngày một, ngày hai.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản đó, chúng ta cũng vấp phải một số khó khăn
nhất định. Lực lượng của ta so với Pháp còn yếu, vũ khí trang bị lạc hậu, Ta bị cô lập, bao vây
bốn phía, chưa được công nhận địa vị trên trường quốc tế Pháp lại có vũ khí tối tân và đã chiếm
đóng được Lào, Cămpuchia và một số nơi ở Nam Bộ Việt Nam, có quân đội đứng chân trong
các thành thị lớn ở Miền Bắc.
Phương châm “kháng chiến toàn dân” trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
đã được Đảng ta xây dựng trên cơ sở kế thừa, phát huy truyền thống đánh giặc của cha ông ta từ
ngàn xưa. Đồng thời, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin để
hoàn thiện đường lối kháng chiến phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta. Việc xác định
đường lối đúng đắn của Đảng đã làm nên chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”
của dân tộc ta trong kháng chiến chống chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.
Nội dung phương châm “kháng chiến toàn dân” được Đảng đề ra trong đường lối
kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954).
Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng được hình thành bổ sung phát triển
qua thực tiễn cách mạng Việt Nam từ năm 1945 đến 1947. Nội dung cơ bản của đường lối là:
dựa trên sức mạnh toàn dân tiến hành kháng chiến toàn dân toàn diện lâu dài và dựa vào sức
mình là chính. Và ngay trong những ngày đầu, đường lối kháng chiến đã được vạch ra cụ thể và
kịp thời qua 3 văn bản: “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, “Chỉ thị toàn dân kháng chiến” và
tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi”. Từ ba văn kiện đó đã toát lên đường lối kháng
chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế.
Họ tên SV/HV: Phan Thùy Linh - Mã LHP: 2108HCMI0131 Trang 3/6
Kháng chiến toàn dân: là đem toàn bộ sức dân, tài dân, lực dân; động viên toàn dân tích
cực tham gia kháng chiến. Xây dựng sự đồng thuận, nhất trí của cả nước, đánh địch ở mọi nơi,
mọi lúc, “mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xã là một pháo đài, mỗi đường phố là một
mặt trận”. Trong đó quân đội nhân dân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Là nội dung chính
của chiến tranh nhân dân Việt Nam, chi phối mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước, chi phối kế hoạch tác chiến nghệ thuật quân sự và phương hướng xây dựng lực lượng.
Cách đánh giặc trong chiến tranh nhân dân là thế “thiên la địa võng” đối với quân thù;
đánh địch ở phía trước, ở phía sau, ngay trong lòng địch, chiến trường không phân chiến tuyến,
tạo ra thế cài răng lược, chiến tranh lộn ẩu, chiến tranh bao vây, chiến tranh không mặt trận,
chiến tranh tiêu thổ. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ trong Lời kêu gọi toàn
quốc kháng chiến (tháng 12-1946): “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không
chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp
để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc,
thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”, đây chính là một định
hướng chiến lược, một cẩm nang hoạt động đối với toàn dân ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Nhằm mục đích khơi dậy lòng tự hào dân tộc, truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất
của dân tộc ta qua 4000 năm dựng nước và giữ nước. Từ đó tạo nên thế trận “cả nước đánh
giặc”, huy động được sức mạnh tối đa của cả dân tộc. Đó là điểm cốt yếu trong nghệ thuật chiến
tranh nhân dân. Để đánh thắng những đạo quân xâm lược mạnh của chủ nghĩa đế quốc, ta áp
dụng chiến thuật du kích kết hợp với rèn luyện quân chính quy và công tác binh vận. Kẻ địch đi
đến đâu cũng bị công kích, khi chúng trở nên hoang mang thì ta thực hiện binh vận. Khi có đủ
thời cơ thì ta thực hiện tổng tiến công. “Tích cực tiến công, giải quyết mau từng trận; sử dụng
du kích chiến và vận động chiến; kết hợp tác chiến và địch vận; phát động phong trào dân quân,
động viên toàn dân đánh. Đó là đường lối quân sự sáng tạo và hoàn toàn phù hợp với điều kiện
nước ta. Để tạo được cục diện kháng chiến toàn dân như vậy, Đảng ta đã sáng suốt chỉ ra đúng
đối tượng và mục đích của cuộc kháng chiến. Lúc này, độc lập dân tộc phải đặt lên hàng đầu.
Mâu thuẫn giai cấp có thể tạm thời gác lại. Mọi người dân Việt Nam không phân chia đảng
phái, giai cấp phải sát cánh bên nhau vì sự tồn vong của cả dân tộc.
Người cho rằng, quần chúng nhân dân lao động, nếu được giác ngộ và có nhận thức đúng
đắn, sẽ ủng hộ và hăng hái tham gia cuộc chiến tranh chính nghĩa. Vì thế, chỉ có chiến tranh
chính nghĩa mới có thể huy động, tập hợp được đông đảo quần chúng, được toàn dân tham gia
chiến đấu. Có thể thấy, chiến tranh nhân dân do toàn dân ta tiến hành nhằm giành lại và giữ
vững nền độc lập, tự do cho Tổ quốc mình là chiến tranh chính nghĩa. Khẳng định tính chính
nghĩa là một trong những nhân tố hàng đầu để đưa cuộc chiến tranh của nhân dân ta đi đến
thắng lợi, cho dù phải trải qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, thậm chí kéo dài, “chúng ta thà hy
Họ tên SV/HV: Phan Thùy Linh - Mã LHP: 2108HCMI0131 Trang 4/6
sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ… Dù phải gian
lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta”.
Từ quan điểm về vai trò của con người trong lĩnh vực quân sự và lòng tin vào sức mạnh
của nhân dân - có dân là có tất cả, Người nhấn mạnh, phải dựa vào dân, khơi nguồn sức mạnh,
sức sáng tạo của nhân dân. Nhân dân trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là toàn dân
Việt Nam. Người giải thích, toàn dân kháng chiến là ai cũng phải đánh giặc, bất cứ đàn ông, đàn
bà, người già, người trẻ, ai cũng tham gia kháng chiến. Tổ quốc là Tổ quốc chung, Tổ quốc độc
lập thì ai cũng được tự do, nếu mất nước thì ai cũng phải làm nô lệ.
Ý nghĩa thực tiễn của phương châm đó đối với c
ông cuộc đổi mới hiện nay.
Hiện nay, nước ta đã chuyển sang thời kỳ mới – thời kỳ xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ
quốc trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; các mối quan hệ quốc tế ngày càng đa
dạng và phức tạp. Do vậy, việc kế thừa và vận dụng yếu tố toàn dân trong đường lối kháng
chiến trước đây vào thực hiện nhiệm vụ cách mạng hiện nay ở nước ta có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết.
Quán triệt bài học lấy dân làm gốc trong việc xây dựng các chủ trương, chính sách về kinh
tế - xã hội và các lĩnh vực khác.
Phương châm kháng chiến toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp nhằm mục tiêu cuối
cùng là phương châm đánh thắng kẻ thù xâm lược, giải phóng đất nước thì ngày nay, phương
châm đó sẽ giúp phát huy sức mạnh toàn dân xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phát triển và thực
hiện cho được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Phát huy bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong quá trình thực hiện
chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại;
chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta chủ trương khơi dậy và phát huy sức mạnh
dân tộc, đặt lợi ích chung của dân tộc, của đất nước và của con người lên hàng đầu; đồng thời
mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ mọi khả năng để xây dựng và phát triển đất nước;
không bỏ lỡ thời cơ, vận hội; phát huy tự lực, tự cường, đẩy lùi mọi nguy cơ, vượt qua mọi trở
ngại, thách thức do chính xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đem lại để thúc đẩy sự nghiệp
đổi mới đất nước phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.
Phương châm kháng chiến toàn dân trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã
được Đảng ta xây dựng trên cơ sở kế thừa, phát huy truyền thống đánh giặc của cha ông ta từ
ngàn xưa. Đồng thời, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin để
hoàn thiện đường lối kháng chiến phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta. Việc xác định
đường lối đúng đắn của Đảng đã làm nên chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”
của dân tộc ta trong kháng chiến chống chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.
Họ tên SV/HV: Phan Thùy Linh - Mã LHP: 2108HCMI0131 Trang 5/6
Ngày nay, Đảng ta tiếp tục vận dụng sáng tạo phương châm kháng chiến phù hợp với
những biến đổi của tình hình mới để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nhằm
ổi mới đất nước, tiếp tục đ đ
ẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa (CNH), hiện
đại hóa (HĐH) đất nước và hội nhập quốc tế.
Câu 2 (5 điềm): Anh (Chị) hãy làm rõ thành tựu 35 năm đổi mới đất nước trên lĩnh
vực văn hóa và rút ra nhận xét.
Văn hóa vừa là động lực vừa là mục tiêu phát triển của đất nước. Trong quá trình đổi mới,
với một tầm nhìn và tư duy rộng lớn về quan hệ quốc tế, từ chủ trương “muốn là bạn” đến “sẵn
sàng là bạn”, “là bạn, là đối tác tin cậy”, là “thành viên có trách nhiệm” của cộng đồng quốc tế;
từ chỗ tập trung phá thế bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã từng bước hội nhập và chủ động, tích
cực hội nhập quốc tế một cách toàn diện. Những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được sau 35
năm đổi mới trên lĩnh vực văn hóa là:
Đảng ta đã ban hành 29 nghị quyết, kết luận, chỉ thị về văn hóa nói chung; về giáo dục,
đào tạo; khoa học, công nghệ; báo chí, xuất bản, văn học, nghệ thuật, ... nói riêng. Những văn
kiện đó đã thể hiện bước tiến về nhận thức lý luận của Đảng về văn hóa; dân trí được nâng cao;
tính tích cực cá nhân và xã hội được phát huy. Những nhân tố mới, giá trị mới của văn hóa, con
người Việt Nam từng bước được định hình trong đời sống. Quyền tự do sáng tạo, quảng bá văn
hóa, văn học, nghệ thuật được tôn trọng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt tâm linh
của nhân dân được quan tâm thực hiện. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hóa ", “Xây dựng nông thôn mới” và các phong trào xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, ...
đạt được những kết quả tích cực.
Nguồn lực của Nhà nước, của xã hội đầu tư cho văn hóa được nâng lên; hệ thống thiết chế
văn hóa từ Trung ương đến cơ sở được xây dựng, từng bước hoàn thiện và phát huy tác dụng.
Giao lưu, hợp tác và hội nhập quốc tế về văn hóa được mở rộng. Sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý
văn hóa có tiến bộ; các văn bản pháp lý, cơ chế, chính sách về văn hóa, con người từng bước
được đổi mới, hoàn thiện; đội ngũ làm công tác văn hóa có bước trưởng thành.
Thứ nhất, nhận thức của Đảng và Nhà nước cũng như của người dân về vai trò của văn
hóa trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong xã hội đã được nâng cao. Nhân tố văn hóa trong
phát triển kinh tế - xã hội đã được coi trọng với một số chính sách li
ên quan đến công nghiệp
văn hóa, gắn văn hóa với phát triển du lịch. Việt Nam đã bước đầu khai thác văn hóa như nguồn
lực nội sinh để phát triển kinh tế xã hội, giảm bớt những tiêu cực và tệ nạn xã hội do mặt trái
của cơ chế thị trường tạo nên. Vấn đề xây dựng và phát triển con người đã đạt được một số
thành tựu quan trọng. Chỉ số phát triển con người đã tăng đáng kể.
Thứ hai, giá trị di sản văn hóa dân tộc được coi trọng. Nhiều di sản văn hóa Việt Nam đã
được UNESCO tôn vinh là di sản văn hóa đại diện của nhân loại.. Công tác sưu tầm, bảo quản,
tôn tạo, tu bổ và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc đã đạt nhiều thành tựu, đáp ứng nhu
Họ tên SV/HV: Phan Thùy Linh - Mã LHP: 2108HCMI0131 Trang 6/6
cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa đa dạng của nhân dân. Việc bảo tồn, khôi phục các lễ hội
dân gian ngày càng hiệu quả. Nhiều dự án, đề tài khoa học về di sản văn hóa phi vật thể đã được
triển khai thực hiện, các tư liệu quý trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể như những điệu
múa, bài hát, lễ hội, bí quyết nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền… đã
và đang được tiến hành điều tra, nghiên cứu, sưu tầm, phục dựng.
Thứ ba, tính tích cực, chủ động trong sáng tạo, bảo quản, truyền bá và thưởng thức các giá
trị văn hóa, nghệ thuật của nhân dân đã được nâng cao. Vai trò, sức sáng tạo văn hóa tiềm tàng
của nhân dân được phát lộ và tỏa sáng trong các hoạt động sáng tác, biểu diễn, truyền bá văn
hóa, văn học, nghệ thuật. Lĩnh vực văn học - nghệ thuật; thông tin đại chúng đã có bước tiến
đáng kể trong việc đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân. Loại hình sinh hoạt văn hóa cộng
đồng có sức thu hút mãnh liệt hiện nay là lễ hội. Những giá trị văn hóa, thông qua phong trào
sâu rộng của quần chúng nhân dân, từng bước thẩm thấu vào muôn mặt của đời sống, biểu hiện
thành lối sống, nếp sống, quan hệ ứng xử hàng ngày của mỗi con người, của từng cộng đồng,
góp phần vào sự ổn định và tiến bộ xã hội. Tiềm năng văn hóa dân tộc được khẳng định, các
lĩnh vực nghệ thuật phát triển, những giá trị văn hóa Việt Nam tỏa sáng, được thế giới công
nhận là một phần không thể thiếu trong kho tàng quý giá của văn hóa nhân loại.
Chính sách xã hội hóa các hoạt động văn hóa có tác động tích cực trong việc huy động các
nguồn lực đầu tư cho phát triển văn hóa, đã và đang từng bước mang lại một luồng sinh khí mới
trong toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của ngành văn hóa, thể thao và du lịch, phù hợp với xu thế
phát triển, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Thứ tư, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ của Việt Nam đã có bước phát triển đáng
kể trên cơ sở tiếp thu những thành tựu văn minh của nhân loại. Trình độ học vấn, kỹ thuật công
nghệ của nhân dân, nhất là giới trẻ đã được nâng lên góp phần nâng cao dân trí, phát triển nguồn
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển đất nước, xây dựng
nền văn hóa và con người Việt Nam trong công cuộc đổi mới. Những thành tựu của khoa học
công nghệ đã thổi một luồng gió mới vào đời sống xã hội. Sự tham gia liên doanh, liên kết trong
hoạt động khoa học và công nghệ với các đối tác nước ngoài giúp cho các nhà khoa học và công
nghệ Việt Nam có cơ hội tiếp cận với khoa học và công nghệ cao mà qua đó từng bước thu hẹp
khoảng cách về kiến thức, kỹ năng nghiên cứu phát triển cũng như nâng cao năng lực sáng tạo
khoa học-công nghệ của cá nhân và nền khoa học và công nghệ trong nước.
Thứ năm, công tác nghiên cứu lý luận về văn hóa và phát triển đã được coi trọng. Nhiều
chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp nhà nước và cấp bộ về văn hóa, con người và
nguồn nhân lực được Nhà nước quan tâm đầu tư. Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo
quản lý văn hóa, văn học - nghệ thuật được chú trọng. Những thành tựu nghiên cứu lý luận về
văn hóa, văn học - nghệ thuật đã góp phần tích cực vào việc cung cấp cơ sở khoa học cho việc
xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước.
Họ tên SV/HV: Phan Thùy Linh - Mã LHP: 2108HCMI0131 Trang 7/6
Thứ sáu, hoạt động giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hóa với khu vực và quốc tế được
mở rộng, từng bước phát triển theo chiều sâu, mang tính ổn định, bền vững, góp phần giới thiệu,
quảng bá, tôn vinh văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Các hoạt động văn
hóa đối ngoại và thông tin đối ngoại có bước phát triển mới, nhất là các chương trình phát thanh
và truyền hình Việt Nam ở nước ngoài, tổ chức các tuần lễ văn hóa Việt Nam ở nước ngoài,
tuần lễ văn hóa nước ngoài tại Việt Nam; giao lưu hợp tác trong biểu diễn nghệ thuật, trong lĩnh
vực điện ảnh, sân khấu, thể thao được tăng cường.
Thứ bảy, quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế và thiết chế văn hóa đã góp phần
tạo hành lang pháp lý cũng như tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các hoạt động văn hóa của cộng
đồng. Nhà nước đã sửa đổi và ban hành mới các luật và pháp lệnh để điều chỉnh các hoạt động
văn hóa như Luật Báo chí, Luật Di sản văn hóa dân tộc, Luật Quảng cáo, Luật Xuất bản…
Ngoài hệ thống luật và các chính sách văn hóa, Chính phủ đã ban hành các chiến lược liên quan
đến phát triển văn hóa như: Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 (ban hành năm 2009);
Chiến lược ngoại giao văn hóa đến năm 2020 (ban hành năm 2011); Chiến lược phát triển gia
đình Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 (ban hành năm 2012) ...
Thứ tám, công tác lãnh đạo và quản lý văn hóa đã có những đổi mới theo hướng tích cực.
Đảng và Nhà nước đã bám sát vào thực tiễn đổi mới của đất nước để kịp thời đề ra những chủ
trương, những giải pháp đúng đắn để giải phóng sức sáng tạo của nhân dân, tạo điều kiện và cơ
hội thuận lợi cho nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc.
Những quan điểm mới, nhận thức mới của Đảng đã được Nhà nước thể chế hóa kịp thời, trở
thành động lực thúc đẩy văn hóa phát triển.
Nhận xét về những thành tựu nêu trên:
Về nhận thức, sau 30 năm đổi mới, Việt Nam ngày càng đạt đến những nhận thức đúng
đắn, sâu sắc và toàn diện hơn về văn hóa, có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con
người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong
cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh
đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.
Nhờ có định hướng đúng, văn hóa không chỉ là mục tiêu, động lực của sự phát triển mà còn
là “nền tảng tinh thần” để xác lập tiêu chí, định hướng phát triển của xã hội. Gắn kết chặt chẽ
với mục tiêu, môi trường văn hóa, con người trở thành trung tâm của mọi sự phát triển.
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững của đất
nước, văn hóa đã được xác định là động lực của sự phát triển kinh tế và được đặt lên ngang
hàng các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội.
Họ tên SV/HV: Phan Thùy Linh - Mã LHP: 2108HCMI0131 Trang 8/6
Văn hóa trở thành một trong 4 nhân tố hợp thành và là trụ cột chính yếu trong tổng thể
chiến lược phát triển quốc gia và là quốc lực của Việt Nam. Nói cách khác, văn hóa vừa là mục
tiêu, động lực, giá trị tảng nền vừa là định hướng ưu tiên trong chiến lược xây dựng, bảo vệ Tổ
quốc thời kỳ công nghiệp hóa
Nhìn lại chặng đường 35 năm, phương châm chỉ đạo mang tính chiến lược về văn hóa đã
có nhiều tác động tích cực, ảnh hưởng sâu rộng đến sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa,
xây dựng chuẩn mực và nhân cách con người Việt Nam. Một số mô hình, thiết chế, phong trào
văn hóa (như toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa), đã được thiết lập, triển khai sâu
rộng và đem lại nhiều kết quả tích cực.
Họ tên SV/HV: Phan Thùy Linh - Mã LHP: 2108HCMI0131 Trang 9/6