TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ II NĂM HỌC 2021 – 2022
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Nhập môn tài chính – tiền tệ Số báo danh: Mã số đề thi: 03 Lớp:
Ngày thi: 03/06/2022 Tổng số trang: 05 Họ và tên: Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………......
Câu 1: Tài chính là gì? Hãy phân tích nội dung chức năng phân phối của tài chính. Nêu
biểu hiện của việc thực hiện chức năng này trong khâu tín dụng.
Câu 2: Phân tích nội dung các nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã hội? Hãy nêu
những nhận định, đánh giá của bạn về các biện pháp được tổ chức bảo hiểm xã hội Việt Nam
thực hiện để đảm bảo các nguyên tắc này. 5 Câu 1: ❖ Tài chính
Tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình
phân phối của cải xã hội thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế
quốc dân nhằm đáp ứng cho các lợi ích khác nhau của các chủ thể trong xã hội.
❖ Chức năng phân phối của tài chính
Chức năng phân phối là thuộc tính khách quan vốn có, thể hiện bản chất của phạm trù tài
chính. Con người dựa vào đó để tổ chức việc phân phối của cải vật chất dưới hình thái giá trị.
Chức năng phân phối của tài chính là chức năng mà nhờ vào đó các nguồn lực đại diện
cho những bộ phận của cải xã hội được đưa vào các quỹ tiền tệ khác nhau để sử dụng cho các
mục đích khác nhau, đảm bảo những nhu cầu khác nhau và những lợi ích khác nhau của xã hội.
Về đối tượng phân phối, nó là nguồn của cải xã hội dưới hình thái giá trị, là nguồn tài
chính đang vận động một cách độc lập với tư cách là phương tiện thanh toán, phương tiện tích
luỹ giá trị trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ. Về mặt nội dung, nguồn tài chính bao gồm các bộ phận:
- Bộ phận của cải xã hội mới được sáng tạo ra trong năm (GDP).
- Bộ phận của cải xã hội tích luỹ trong quá khứ.
- Bộ phận của cải được chuyển từ nước ngoài vào và bộ phận của cải trong nước chuyển ra nước ngoài.
- Bộ phận tài sản, tài nguyên quốc gia có thể cho thuê, nhượng bán có thời hạn.
Về hình thức biểu hiện, nguồn tài chính có thể tồn tại dưới dạng hữu hình (tiền nội tệ,
ngoại tệ, bất động sản,…) hoặc vô hình (dữ liệu, thông tin, hình ảnh, sáng chế,…).
Về chủ thể phân phối, nó có thể là một trong các tư cách sau:
- Người có quyền sở hữu các nguồn tài chính: đây là những người chủ đích thực của vốn
tiền tệ và họ có quyền phân phối và sử dụng chúng theo ý muốn.
- Người có quyền sử dụng các nguồn tài chính (người đi vay): những người này không có
quyên sở hữu vốn tiền tệ nhưng được trao quyền sử dụng vốn tiền tệ.
- Người có quyền lực chính trị: dù không phải là là người có quyền sở hữu hay sử dụng
nguồn vốn tiền tệ nhưng Nhà nước vẫn có thể huy động tập trung các nguồn tài chính từ các cá
nhân từ quyền lực chính tri của mình.
- Các nhóm thành viên xã hội: các tổ chức chính trị - xã hội, các hội, đoàn,… có tư cách
là chủ thể phân phối khi họ nhận được các khoản hội phí từ thành viên, các khoản ủng hộ, tự nguyện,…
Kết quả của quá trình phân phối là sự hình thành (tạo lập) hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ ở
các chủ thể trong xã hội nhằm những mục đích nhất định. 5
Đặc điểm của phân phối tài chính:
- Phân phối tài chính là sự phân phối chỉ diễn ra dưới hình thức giá trị nhưng không kèm
theo sự thay đổi hình thái giá trị.
- Phân phối tài chính luôn gắn liền với sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ.
- Các quan hệ phân phối tài chính không phải lúc nào cũng nhất thiết kèm theo sự dịch
chuyển giá trị từ chủ thể này sang chủ thể khác.
- Phân phối tài chính bao gồm 2 quá trình là phân phối lần đầu và phân phối lại
+ Phân phối lần đầu là quá trình phân phối được diễn ra trong lĩnh vực sản suất, cho
những chủ thể tham gia vào quá trình sáng tạo ra của cải vật chất hay thực hiện các dịch vụ
trong các đơn vj sản xuất và dịch vụ. Kết quả là đã hình thành các quỹ tiền tệ bù đắp các chi phí
tiêu hao, hình thành các quỹ doanh nghiệp, trả cho các chủ thể sở hữu vốn và tài nguyên.
+ Phân phối lại là quá trình tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản, những quỹ
tiền tệ đã được hình thành trong phân phối lần đầu ra phạm vi toàn xã hội hoặc theo những mục
đích cụ thể hơn của các quỹ tiền tệ. Kết quả là tạo nên sự luân chuyển không ngừng của các
nguồn lực tài chính trong xã hội từ chủ thể này sang chủ thể khác.
❖ Biểu hiện của việc thực hiện chức năng phân phối trong khâu tín dụng
Theo nghĩa hẹp, tín dụng là quan hệ vay mượn giữa người đi vay và người cho vay về
một lượng giá trị nhất định dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật.
Theo nghĩa rộng, tín dụng là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình
chuyển quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định từ chủ thể này sang chủ thể khác dựa trên nguyên tắc hoàn trả.
Ta có thể nhìn ra được biểu hiện của chức năng phân phối của tài chính qua 2 đặc điểm của tín dụng.
Đầu tiên là tính hoàn trả. Nó không tự xuất hiện mà dựa vào quá trình vận động và sự kết
thúc của tuần hoàn vốn. Quá trình vận động tín dụng được thể hiện qua 3 giai đoạn: phân phối
tín dụng dưới hình thức cho vay (vốn vay từ người cho vay chuyển qua người đi vay kèm theo
quyền sử dụng), sử dụng tín dụng (người đi vay được sử dụng vốn vay theo mục đích nhất
định), hoàn trả tín dụng (người đi vay hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho người cho vay).
Thứ hai là sự tách rời nhau của quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn. Khi thực hiện
quan hệ tín dụng người cho vay chỉ cho người đi vay mượn quyền sử dụng vốn trong một
khoảng thời gian nhất định còn quyền sở hữu vốn vẫn thuộc về người cho vay.
Biểu hiện của chức năng phân phối của tài chính trong khâu tín dụng đó là chủ thể phân
phối tài chính. Tách riêng người có quyền sở hữu và người có quyền sử dụng nguồn vốn. Câu 2:
❖ Bảo hiểm xã hội 5
Bảo hiểm là hê thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình
hình thành, phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất và đời
sống của con người trong xã hội được ổn định và phát triển bình thường trong điều kiện có
những biến cố bất lợi xảy ra.
Bảo hiểm xã hội là hình thức bảo hiểm do tổ chức bảo hiểm xã hội tiến hành dựa trên cơ
sở huy động sự đóng góp của các chủ thể liên quan để tạo lập quỹ bảo hiểm xã hội, phân phối
và sử dụng chúng để bù đắp một phần thu nhập cho người lao động và gia đình họ khi gặp
những rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động.
❖ Các nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là công cụ thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước, hoạt động không
vì mục tiêu lợi nhuận mà vì lợi ích, quyền lợi của người lao động và sự an toàn chung của xã
hội. Để đảm bảo mục tiêu này bảo hiểm xã hội được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
- Trước hết phải vì quyền lợi của người lao động và của cả cộng đồng: các nội dung bảo
hiểm phải dễ dàng, đơn giản, thuận tiện, kịp thời và đầy đủ.
- Quỹ bảo hiểm xã hội là một quỹ tiền tệ độc lập được quản lý thống nhất, dân chủ, công
khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần
của bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.
- Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng
bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã
đóng bảo hiểm xã hội.
❖ Đánh giá, nhận định về các biện pháp được tổ chức bảo hiểm xã hội Việt Nam
thực hiện để đảm bảo các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội.
Đầu tiên là việc tinh giảm các thủ tục hành chính đối với bảo hiểm y tế nhằm thực hiện
nguyên tắc hoạt động vì quyền lợi của người lao động và cộng đồng. Năm 2020, khi cả đất nước
phải đang phải đối đầu với diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19 ảnh hưởng sâu rộng đến
tình hình kinh tế - xã hội và việc làm. Hưởng ứng mục tiêu kép của Chính phủ, vừa phòng
chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế - xã hội. Với vai trò là cơ quan Chính phủ chuyên trách
thực hiện các chính sách BHXH, BHYT - hai trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội – Bảo
hiểm xã hội Việt Nam đã chủ động, bám sát các chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, Ban chỉ đạo
quốc gia về phòng, chống dịch. Đặc biệt, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã triển khai đồng bộ nhiều
giải pháp hỗ trợ người dân và doanh nghiệp vượt qua khó khăn do đại dịch Covid-19 như: cung
cấp 100% dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4 (gửi hồ sơ, nhận và trả kết quả trực tuyến) trên
Cổng Dịch vụ công quốc gia của Chính phủ; chi trả lương hưu, chế độ BHXH qua tài khoản
ATM và hệ thống ngân hàng; giãn, hoãn đóng của doanh nghiệp vào quỹ hưu trí, tử tuất theo
chỉ đạo của Chính phủ; đảm bảo tốt nhất quyền lợi của người tham gia BHYT. Và trong tháng 5
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.