Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI HỌC KỲ 1 NĂM HỌC 2023 – 2024
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Triết học Mác - Lênin Số báo danh: 49 Mã số đề thi: 15 Mã số SV/HV:23D120172
Ngày thi: 20/12/2023 Tổng số trang: 8 Lớp: K59C4
Họ và tên: Nguyễn Hoàng Khánh Linh Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………...... (SV/HV
không được viết vào cột này)
Điểm từng câu, điểm thưởng (nếu có) và điểm toàn bài GV chấm 1: Câu 1: ……… điểm Câu 2: ……… điểm …………………. …………………. Cộng …… điểm GV chấm 2: Câu 1: ……… điểm Câu 2: ……… điểm …………………. …………………. Cộng …… điểm Bài làm
Câu 1: -Tồn tại xã hội là khái niệm triết học
dùng để chỉ toàn bộ những sinh hoạt vật chất
và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hoàng Khánh Linh - Mã LHP: 231_MLNP0221_11- Trang 1/8
- Kết cấu của tồn tại xã hội bao gồm các yếu tố cơ bản là:
+ Điều kiện địa lý tự nhiên: là các điều kiện khí hậu, đất đai, sông ngòi,... tạo nên đặc điểm riêng có của
không gian sinh tồn của cộng đồng xã hội. + Dân số và mật
độ dân số: Là điều kiện tất yếu và thường xuyên của sự tồn tại và phát
triển của xã hội vì mỗi quốc gia, dân tộc đều cần có dân cư để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dân số và tốc
độ phát triển của mỗi nước có ảnh hưởng
rất lớn đến sự phát triển mọi mặt của nước
đó. Các yếu tố dân cư, bao gồm: cách thức tổ chức dân cư, tính
chất dân cư, số lượng, trình độ, mật độ dân số,...
+ Phương thức sản xuất vật chất: là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất. Phương thức sản xuất vật chất là những phương cách, dụng cụ, công nghệ…
để tạo ra của cải vật chất phục
vụ đời sống văn hóa tinh thần của chính bản thân con
người. Điều này cũng có nghĩa là phương thức sản xuất thì sẽ không thể tồn tại trong xã hội. Nếu
không có phương thức sản xuất thì sẽ
không thể tồn tại xã hội. Và như
thế cũng có nghĩa phương thức sản xuất sẽ chi phối các yếu tố còn lại của tồn tại xã hội.
Các yếu tố tồn tại trong mối quan hệ thống nhất biện chứng, tác động lẫn nhau tạo
thành điều kiện sinh tồn và phát triển của xã hội, trong
đó yếu tố kết cấu của tồn tại
xã hội thì phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản nhất. - Ví
dụ về vai trò của yếu tố dân số và mật độ dân số: Số dân của thành phố Hà Nội là 8,4 triệu người, mật độ dân số khoảng 2398
người/km2, cao hơn khoảng 8,2 lần so với mật
độ dân số toàn quốc. Với quy mô dân
số lớn, địa bàn dân cư rộng có tác động tích
cực là tạo ra nguồn nhân lực dồi dào, trẻ, phục
vụ cho phát triển kinh tế -xã hội; là điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài; tạo ra
sức mua, thị trường hàng hóa rộng lớn; nếu
tranh thủ, tận dụng hiệu quả thời
kỳ dân số vàng sẽ là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển của Hà Nội. T
uy nhiên, nếu dân số, mật độ dân cư đông, tốc
độ gia tăng dân số nhanh, chất lượng dân số chưa
ổn định sẽ tạo ra áp lực lớn lên hạ tầng giao thông đô thị, y tế, giáo dục,
môi trường, nhà ở, trật tự an toàn xã hội, việc làm, bình đẳng giới… đặt ra bài toán
khó về phát triển bền vững, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống con người. Qua đó có thể thấy vai trò
rất quan trọng của dân số và mật độ dân cư trong tổng thể kết cấu tồn tại xã hội, tác
động hai mặt tới quá trình phát triển chung của một địa phương hay
một quốc gia. Để đảm bảo phát triển nhanh, bền vững kinh tế-xã hội đòi hỏi phải có chính sách dân số
phù hợp với từng giai đoạn.
- Liên hệ đến chính sách dân số của Việt Nam:
Việt Nam là đất nước đang phát triển, đang ở thời kỳ dân số vàng. Nếu tận dụng
được hiệu quả ưu thế đó, là
nguồn lực lớn, quan trọng để phát triển đất nước. Trong
thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta có nhiều chủ trương, chính sách về dân số để đáp
ứng yêu cầu xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước.
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hoàng Khánh Linh - Mã LHP: 231_MLNP0221_11- Trang 2/8
Dân số và phát triển kinh tế xã hội có tác
động tương hỗ lẫn nhau trên mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội. Dân số là chủ nhân của quá trình sản xuất, vừa là lực lượng tiêu
dùng, là yếu tố liên quan trực tiếp đến vấn đề xã hội như phân phối, tiêu dùng,
tích lũy ,an sinh xã hội,
sức khỏe và những vấn đề môi trường. Thực tế cho thấy ,ở
nước ta với quy mô và cơ cấu dân số thích hợp thì dân số có tác động tích cực thúc
đẩy kinh tế - xã hội phát triển, ngược lại
nó sẽ trở thành lực cản của quá trình này.
Đồng thời phát triển kinh tế - xã hội có tác
động làm biến đổi về quy mô, cơ cấu mật
độ và phát triển dân số. Tốc
độ gia tăng cao sẽ gây áp lực về vấn đề lao động việc làm, an sinh xã hội,
y tế, giáo dục sẽ quá tải không đáp ứng được nhu cầu xã hội. Mặt khác,
quy mô dân số tăng nhanh làm gia tăng tốc độ khai thác tài nguyên, không gian
sống thu hẹp, lượng khí thải ra môi trường ngày càng nhiều ảnh hưởng đến môi trường sống và
sức khỏe của người dân. Khi tài nguyên cạn kiệt, môi trường ô nhiễm,
khí hậu biến đổi nhanh sẽ gián tiếp ảnh hưởng đến quy mô và chất lượng dân số. Những vấn đề đặt ra
trên đòi hỏi nhà nước, chính phủ có chính sách dân số phù hợp. Những năm 60 của thế
kỷ trước, nước ta có nguy cơ bùng nổ dân số, tỷ lệ sinh
ở mức rất cao, tạo ra áp lực tiêu
cực đối với sự phát triển bền vững, vì vậy nhà nước đã áp
dụng chính sách dân số thực hiện kế hoạch hóa gia đình, mỗi vợ chồng chỉ được sinh không quá 2 con, sau
đó đến giai đoạn nhưng năm 2000 áp dụng chính sách
duy trì mức sinh hợp lý. Chính sách đó phù hợp và phát huy tác dụng, kìm hãm được tốc độ bùng
nổ dân số ở nước ta, đưa tỷ lệ sinh phù hợp điều kiện phát triển kinh tế,
góp phần xóa đói, giảm nghèo,
ổn định và phát triển kinh tế- xã hội của giai đoạn đó.
Những năm trở lại đây ,khi có nhiều thay đổi, tác
động, tỷ lệ sinh ổn định, song
nước ta đối mặt với tình
trạng già hóa dân số, mật độ dân số quá chênh lệch ảnh
hưởng đến phát triển và quản lý phát triển kinh tế xã hội. Mật độ dân số Việt Nam trong năm 2022 là
321 người/km2. Đặc biệt quá trình đô thị hóa khiến những thành
phố lớn đang trở thành tâm điểm của di cư của cư dân những vùng nông thôn. Dân số
tăng cơ học nhanh chóng gây thừa lao động, thiếu việc làm, môi trường càng ô nhiễm, bất
ổn về trật tự an toàn xã hội, tạo áp lực cho quản lý và phát triển xã hội, cho
sự phát triển bền vững. Vì vậy chính sách dân số có nhiều thay đổi, đó là chú trọng
quy mô, chất lượng dân số, đối phó với tình
trạng già hóa dân số, chuyển trọng tâm từ
kế hoạch hóa gia đình sang dân số phát triển.
Trong thời gian tới, Nước ta tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa,
phấn đấu trở thành nước phát triển, do
đó dân số và nguồn nhân lực đóng vai trò rất
quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đó. T
uy nhiên nước ta cũng phải đối mặt với
thách thức của tình trạng dân số,
đó là mức sinh thấp, tốc độ già hóa dân số ở nước ta
đang ngày càng nhanh hơn đã và đang dẫn đến những áp lực đáng kể lên hệ thống an
sinh xã hội, cũng như làm suy giảm nguồn cung ứng lao
động cho nền kinh tế. Mặt
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hoàng Khánh Linh - Mã LHP: 231_MLNP0221_11- Trang 3/8 khác chịu tác
động điều kiện tự nhiên, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, các vấn
đề xã hội; từ phương thức sản xuất mới, hiện đại, từ cách mạng KHKT 4.0… Những thách thức, tác
động này đặt ra yêu cầu về tiếp tục đổi mới chính sách dân số phù hợp
tình hình, bảo đảm dân số nước ta phát triển bền vững, tạo
nguồn nhân lực dồi dào, chất lượng cuộc sống
không ngừng được nâng lên, xây dựng xã hội tiến bộ, công bằng, phồn vinh, hạnh phúc. Câu 2: - Chất là tính quy định
vốn có của sự vật, hiện tượng được biểu hiện thông qua
các thuộc tính và đặc điểm cấu trúc của sự vật. Tính
quy định là cái vốn có của sự vật
hiện tượng để phân biệt sự vật này với sự vật khác. Tính quy định này được thể hiện
thông qua các thuộc tính. Có thuộc tính cơ bản và không cơ bản. Thuộc tính cơ bản
quy định chất của sự vật. Nếu thuộc tính cơ bản mất đi thì chất của sự vật thay đổi. Còn thuộc tính
không cơ bản thì trong quá trình tồn tại của sự vật, có những thuộc tính
không cơ bản mới nảy sinh và có những thuộc tính không cơ bản mất đi nhưng chất của sự vật không thay đổi.
Thuộc tính chỉ bộc lộ thông qua quan hệ với sự vật
khác. Trong sự vật, hiện tượng, chất
không tách rời với lượng. - Lượng là tính quy định
vốn có của sự vật, hiện tượng chỉ rõ về mặt quy mô, tốc độ, trình
độ phát triển của sự vật, hiện tượng.
Nói đến lượng sự vật tức là sự vật đó hay bé, tốc
độ phát triển nhanh hay chậm, trình độ cao hay thấp,.. đo bằng các đại
lượng cụ thể, bằng số tuyệt đối như trong lượng, thể tích hoặc so sánh với vật thể khác, thời kỳ này với thời kỳ khác.
- Độ là giới hạn mà trong
đó lượng biến đổi chưa gây nên sự biến đổi căn bản về
chất. Sự vật vẫn là nó, mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong một độ thích hợp khi
lượng biến đổi vượt qua quá giới hạn
độ thì sự vật không còn là nó. Trong phạm vi một
độ nhất định hai mặt chất và lượng tác
động qua lại lẫn nhau làm cho sự vật vận
động. Mọi sự thay đổi về lượng đều có ảnh hưởng đến trạng thái của sự vật, nhưng
không phải những thay đổi về lượng nào cũng dẫn đến thay đổi về chất. Chỉ trong
trường hợp khi sự thay đổi về lượng đạt tới mức phá vỡ độ cũ thì chất của sự vật mới
thay đổi, sự vật chuyển thành sự vật khác.
- Điểm nút là điểm mà tại đó lượng biến đổi đã gây nên sự thay đổi căn bản, tập
hợp những điểm nút gọi là đường nút.
- Bước nhảy là sự thay đổi căn bản về chất, cái cũ mất đi, cá mới ra đời thông qua
bước nhảy .Bước nhảy là một phạm trù triết học được dùng để chỉ sự biến đổi căn bản
từ chất sự vật này sang chất sự vật khác. Bước nhảy đột biến là bước nhảy xảy ra
trong thời gian ngắn làm thay đổi bản chất của sự vật. Bước nhảy này diễn ra bằng một sự bùng
nổ mãnh liệt. Bước nhảy dần dần là bước nhảy được thực hiện bằng việc loại
bỏ dần những yếu tố, những
bộ phận chất cũ xảy ra trong một thời gian dài mới loại
bỏ hoàn toàn chất cũ thành chất mới. - Nội dung
quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hoàng Khánh Linh - Mã LHP: 231_MLNP0221_11- Trang 4/8
đổi về chất và ngược lại:
Sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội cũng như sự
phát triển nhận thức tư
duy con người đều đi từ sự thay đổi dần về lượng được tích
lũy lại khi vượt qua giới hạn
độ tới điểm nút thì gây nên sự thay đổi căn bản về chất.
Sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời thay thế. Như thế là vì chất và lượng là hai mặt đối lập
vốn có của sự vật hiện tượng. Lượng thì thường xuyên biến đổi, chất thì tương đối
ổn định. Do đó, sự phát triển của lượng tới một lúc nào đó thì mâu thuẫn với chất cũ.
Khi chất cũ kìm hãm thì qua
đó nảy sinh yêu cầu tất yếu phải phá vỡ chất cũ, mở ra một
độ mới để mở đường cho lượng phát triển. Sự chuyển hóa từ những thay đổi về
lượng dẫn đến những thay đổi về chất, diễn ra một cách phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
Quy luật trên còn có chiều ngược lại, nghĩa là không chỉ thay đổi về lượng dẫn
đến thay đổi về chất mà sau khi chất mới ra đời
do sự biến đổi về lượng gây nên thì chất đó lại
quy định sự biến đổi về lượng, ảnh hưởng của chất mới đến lượng thể hiện ở
quy mô, chất lượng, nhịp điệu phát triển mới. Từ những vấn đề trên, nội dung
quy luật này được hiểu như sau: Mọi sự vật hiện
tượng đều vận động, phát triển bằng cách thay đổi dần về lượng, lượng thay đổi đến một lúc nào đó vượt quá
độ tồn tại của sự vật tới điểm nút thì diễn ra bước nhảy ,tạo
sự thay đổi về chất của sự vật. Kết quả là sự vật cũ, chất cũ mất đi, chất mới ra đời. Chất mới lại tác
động trở lại lượng mới, lượng mới lại tiếp tục thay đổi dần, đến lúc nào đó vượt quá
độ tồn tại của sự vật tới điểm nút thì lại diễn ra bước nhảy tạo sự
thay đổi về chất, cứ như vậy ,sự tác
động qua lại giữa hai mặt chất và lượng tạo ra con đường vận động phát triển
không ngừng của mỗi sự vật, hiện tượng. Điều cần chú
ý là: Quy luật này chỉ được thể hiện trong mối quan hệ giữa chất
và lượng hoàn toàn được xác định, mối quan hệ này hình thành một cách khách quan chưa
không thể gán ghép một cách tùy tiện,
đồng thời sự chuyển hóa lượng và chất
bao giờ cũng phụ thuộc vào những điều kiện nhất định. Quy luật lượng- chất được vận
dụng trong xã hội thể hiện ở mối quan hệ tiến hóa và cách mạng trong sự phát
triển của xã hội, sự thay đổi dần về lượng gọi là tiến hóa, còn sự thay đổi về chất theo
hướng tiến hóa lên gọi là cách mạng, tiến hóa chuân chuẩn bị cho cách mạng. Trong
giai đoạn tiến hóa, chế độ xã hội
chưa có sự thay đổi căn bản về chất, còn cách mạng
là kết quả của quá trình tiến hóa chấm dứt một quá trình này ,mở ra một quá trình tiến hóa mới cao hơn, chế độ xã hội cũ bị xóa
bỏ, chế độ xã hội mới ra đời thay thế. Cách
mạng xã hội là phương thức thay thế xã hội này bằng xã hội khác, bạo lực là hình
thức cơ bản của cách mạng. Trong hoạt
động thực tiễn, cần phải coi trọng quá trình tích lũy về lượng, nếu
không coi trọng quá trình này ,thì sẽ
không có sự biến đổi về chất. Quy luật này có
chiều ngược lại, chất mới ra đời làm biến đổi tốc
độ, quy mô lượng mới. Cho nên khi
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hoàng Khánh Linh - Mã LHP: 231_MLNP0221_11- Trang 5/8
chất mới ra đời, phải biết xác định tốc độ,
quy mô phát triển về lượng cho thích hợp,
không được bảo thủ, dừng lại.
Phải chống quan điểm tả khuynh, hữu khuynh. Tả khuynh là phủ nhận tích lũy
về lượng muốn có ngay sự thay đổi về chất, còn hữu khuynh thì ngược lại, khi lượng
biến đổi vượt qua quá độ nhưng
không dám thực hiện sự thay đổi căn bản về chất.
- Những điều kiện để chuyển từ nền sản xuất hàng hóa nhỏ sang sản xuất hàng hóa lớn.
Quy luật “chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi
về chất và ngược lại”là một trong ba
quy luật của phép biện chứng duy vật, nó cho
biết phương thức của sự vận
động, phát triển. Nhận thức được quy luật này có ý nghĩa
rất quan trọng trong hoạt
động thực tiễn khi chúng ta xem xét các sự vật hiện tượng. Nước ta đang quá
độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa
tư bản, việc nhận thức đúng đắn
quy luật lượng chất sẽ có ý nghĩa rất lớn trong quá
trình hình thành và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nói
chung, chuyển từ sản xuất hàng hóa
nhỏ sang sản xuất hàng hóa lớn nói riêng.
Sản xuất hàng hóa là khái niệm để chỉ về kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra
không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của người khác thông qua việc trao đổi, mua bán.
Sản xuất hàng hóa ra đời là bước ngoặt căn bản của lịch sử phát triển của loài người.
Sản xuất hàng hóa làm xóa bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển
nhanh chóng lực lượng sản xuất và làm nâng cao sự phát triển của kinh tế xã hội.
Việc chuyển từ sản xuất hàng hóa
nhỏ sang sản xuất hàng hóa lớn phải có một quá
trình (tích luỹ về lượng),
không thể thực hiện một sớm một chiều mà phải tuần tự,
phù hợp với cung- cầu của thị trường hàng hóa.
Từ hai điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa là sự tách biệt kinh tế của những
người sản xuất từ thấp đến cao. + Về quyền tự
do lựa chọn ,người sở hữu, doanh nhân, người tiêu dùng và người lao động có quyền lao động có quyền tự
do lựa chọn nên sản xuất hay mua bất kỳ thứ. Thứ duy nhất ràng buộc họ là giá cả mà họ quyết định
bỏ ra để bán hay mua với số tiền họ có.
+ Về lợi ích bản thân, các chủ thể mua với giá thấp nhất và bán với giá cao. Mặc dù mục đích bắt
nguồn từ lợi ích riêng của bản thân, các chủ thể, nó có lợi ích cho nên nền
kinh tế trong quãng đường dài. Bởi vì hệ thống hình thành giá này định giá đúng với các hàng hóa và dịch
vụ, phản ánh chính xác cung và cầu ở bất kỳ thời điểm nào. + Áp lực cạnh tranh khiến giá cả
ổn định tương đối và bảo đảm là hàng hóa và dịch vụ
được cung cấp hiệu quả trong quá trình sản xuất lâu dài từ thấp đến cao. Áp lực cạnh
tranh này còn chi phối những người lao động. Cạnh tranh và đào thải một cách có
chọn lọc được điều tiết bởi bàn tay
vô hình khi được chuyển sang nền sản xuất hàng hóa lớn.
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hoàng Khánh Linh - Mã LHP: 231_MLNP0221_11- Trang 6/8
+ Nền sản xuất hàng hóa lớn phải biết dựa vào bán hàng hóa và dịch vụ nào, tất cả
người mua và người bán đều có quyền như nhau và thông tin như nhau dựa trên quyết định của
họ. Gia tăng và giảm tự
do dựa hoàn toàn vào quy luật cung-cầu.
Điều kiện thứ hai của sản xuất hàng hóa là phân công lao
động xã hội để chuyển nền sản xuất hàng hóa
nhỏ sang nền sản xuất hàng hóa lớn.
Phân công lao động được dựa
trên cơ sở nền kinh tế đa sở hữu trong
đó phần lớn hàng hóa được sở hữu bởi tư
nhân. Điều này tạo ra cho phần lớn người sở hữu quyền làm ra hợp đồng có tính ràng
buộc pháp lý để mua, bán, cho thuê, cho mượn tài sản của
họ. Vai trò của nhà nước
đối với sản xuất hàng hóa lớn là tạo ra hành lang pháp lý để hàng hóa vận chuyển
thông suốt, như vậy để chuyển nền sản xuất hàng hóa
nhỏ sang sản xuất hàng hóa lớn
là quá trình tích lũy về lượng lâu dài đến
độ nhất định dẫn đến biến đổi về chất sang
nên sản xuất hàng hóa lớn.
Thực tế ở nước ta trong suốt một thời gian dài, có thời điểm đã không nhận thức
đúng đắn vai trò của sản xuất hàng hoá, của kinh tế thị trường, đã đồng nhất hình thức
sở hữu với hình thức tổ chức kinh tế, coi nhẹ , thậm chí
phủ nhận quy luật giá trị, quy
luật cạnh tranh, coi nhẹ
quy luật cung cầu, chỉ nhìn thấy mặt tiêu cực của kinh tế thị trường,
phủ nhận quan hệ hàng hoá, tiền tệ. Chúng ta đã vội vàng chuyển từ thị trường hàng hoá
nhỏ sang thị trường hàng hoá lớn khi mà sản xuất của chúng ta lúc
này là sản xuất nhỏ, trạng kinh tế tự nhiên, hiện vật tự cung tự cấp. Xã hội Việt Nam,
về cơ bản dựa trên nền tảng của
nông nghiệp lúa nước, nông dân chiếm đại đa số.
Việt Nam vẫn là nước nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển, cơ chế quản lý thì tập
trung quan liêu bao cấp không phát huy được
sức mạnh của nền kinh tế. Sản xuất hàng hoá không gắn với
nhu cầu thị trường, công nghệ, thiết bị lạc hậu, lao động chủ
yếu bằng tay chân, sản phẩm làm ra chất lượng, mẫu mã
không cạnh tranh nổi với
hàng hoá ngoại nhập, hàng hoá, sản phẩm phục vụ
nhu cầu tự cung, tự cấp, nhu cầu tiêu
dùng của địa phương trong nước. Điều
đó cho thấy khi chuyển từ thị trường hàng hoá
nhỏ sang lớn cần có sự chuẩn bị, tích lũy kỹ, phù hợp với điều kiện kinh tế- xã
hội, tuân theo quy luật, trình tự
không thể đốt cháy giai đoạn. Tức là phải chuyển hóa
từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại. Nhận thức
rõ sai lầm, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương đổi mới đất nước, xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN. Sau gần
40 năm tiến hành công cuộc đổi mới,
kinh tế nước ta đã chuyển từ nền sản xuất hàng hóa
nhỏ sang sản xuất hàng hóa lớn,
thay vì một người sản xuất ra nhiều hàng hóa thì thay thế bằng nhiều người sản xuất
ra một sản phẩm; tuân thủ của những
quy luật khách quan của kinh tế thị trường như quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh,
quy luật cung cầu. Giá cả được xác định trên thị
trường tùy thuộc vào quan hệ cung - cầu và
độ khan hiếm hàng hóa; các nguồn lực phát triển được phân
bổ chủ yếu theo những tín hiệu của thị trường. Bên cạnh đó, Nhà
nước thực hiện vai trò điều tiết của mình nhằm đảm bảo định hướng XHCN trên cơ
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hoàng Khánh Linh - Mã LHP: 231_MLNP0221_11- Trang 7/8 sở tôn trọng
quy luật của thị trường; tạo điều kiện, hỗ trợ để kinh tế thị trường vận hành bình thường,
đồng thời sẵn sàng can thiệp, điều tiết một khi có thất bại của thị
trường. Có thể khẳng định, nền kinh tế nước ta đã từng bước vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các
quy luật của nền kinh tế thị trường,
đồng thời đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa
phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị
trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đó cũng chính là kết quả việc áp dụng Quy luật
“chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại” trong thực tiễn. ---Hết---
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hoàng Khánh Linh - Mã LHP: 231_MLNP0221_11- Trang 8/8