Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ II NĂM HỌC 2023 – 2024
(Phần dành cho sinh viên/học viên)
Bài thi học phần: Triết học Mác - Lênin Số báo danh: 02 Mã số đề thi: 21 Mã số SV/HV: 22D170005
Ngày thi: 03/06/2023 Tổng số trang: 06 Lớp: 2323MLNP0221
Họ và tên: Nguyễn Hải Anh Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………...... Bài làm (SV/HV không được viết vào cột này) Điểm từng câu, diểm thưởng (nếu có) và điểm toàn bài GV chấm 1: Câu 1: ……… điểm Câu 2: ……… điểm …………………. …………………. Cộng …… điểm GV chấm 2: Câu 1: ……… điểm Câu 2: ……… điểm …………………. …………………. Cộng …… điểm
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hải Anh - Mã LHP: 2323MLNP0221 Trang 1/6 Câu 1.
- Biện chứng: là phương pháp xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư
tưởng trong mối quan hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát
sinh và tiêu vong của chúng.
- Biện chứng bao gồm hai loại biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan:
+ Biện chứng khách quan là khái niệm dùng để chỉ biện chứng của bản thân thế giới, tồn tại
khách quan, độc lập với ý thức của con người. Biện chứng khách quan là biện chứng của thế giới vật chất.
+ Biện chứng chủ quan là khái niệm dùng để chỉ biện chứng của sự thống nhất logic biện
chứng, phép biện chứng và lý luận nhận thức. Biện chứng chủ quan là biện chứng của tư duy,
là sự phản ánh biện chứng khách quan vào đầu óc, ý thức của con người.
- Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành các
nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng phương pháp luận khoa học. Hay nói cách khác,
phép biện chứng được hiểu là khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát
triển trong tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy.
***Cùng với sự phát triển của tư duy con người, phương pháp biện chứng đã trải qua ba giai
đoạn phát triển, được thể hiện trong triết học với ba hình thức lịch sử:
+ Phép biện chứng tự phát thời cổ đại: là phép biện chứng xuất hiện trong triết học thời cổ đại.
Các nhà triết học ở phương Đông lẫn phương Tây thời cổ đại đã xem thế giới khách quan thay
đổi trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận. Tuy nhiên, những gì các nhà biện chứng hồi đó
thấy được chỉ là trực kiến, chưa phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.
+ Phép biện chứng duy tâm: biện chứng được bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần, thế
giới hiện thực chỉ là biểu hiện của các ý niệm nên biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức
là biện chứng duy tâm. Đỉnh cao của hình thức cơ bản này được thể hiện trong triết học cổ điển
Đức, mà người khởi đầu là nhà triết học Kant (1724-1804) và người hoàn thiện là nhà triết học
Hegel. Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của tư duy nhân loại, các nhà triết học
Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phép biện chứng.
+ Phép biện chứng duy vật: được thể hiện trong triết học do Karl Heinrich Marx và Friedrich
Engels xây dựng. Karl Marx và Friedrich Engels đã kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép
biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hải Anh - Mã LHP: 2323MLNP0221 Trang 2/6
liên hệ phổ biến và về sự phát triển. Hai ông cho rằng phép biện chứng là quy luật vận động
của thế giới khách quan chứ không phải chỉ là sự vận động của tư tưởng.
- Engels nhấn mạnh ý kiến của Karl Marx:
“Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hegel tuyệt nhiên không ngăn
cản Hegel trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái
vận động chung của phép biện chứng. Ở Hegel, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất.
Chỉ cần dựng nó lại là sẽ thấy được cái hạt nhân hợp lý ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó”.
- Kế thừa Hegel, Marx và Engels đã xây dựng nên phép biện chứng duy vật bằng cách xem
phép biện chứng là "khoa học về những quy luật chung của sự vận động của thế giới bên ngoài
cũng như của tư duy con người":
“Có thể nói hầu như chỉ có Marx và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự giác thoát
khỏi triết học duy tâm Đức và đưa nó vào trong quan niệm duy vật về tự nhiên, về lịch sử”.
- Engels đã đưa ra định nghĩa khái quát về phép biện chứng duy vật với nội dung: phép biện
chứng duy vật là môn khoa học về những quy luật phổ biến về sự vận đọng và phát triển của tự
nhiên, của xã hội loài người và của tư duy con người.
- Phép biện chứng duy vật có hai đặc trung cơ bản:
+ Phép biện chứng duy vật của Marx - Lenin thực chất là phép biện chứng được xác lập trên
nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học. Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Marx -
Lenin là sự khác biệt về trình độ phát triển so với các tư tưởng biện chứng trong các thời kỳ trước đây.
+ Trong phép biện chứng, ta nhận thấy rằng có sự thông nhất giữa nội dung thế giới quan (duy
vật biện chứng) và phương pháp luận (biện chứng duy vật). Chính vì vậy, phép biện chứng duy
vật của Marx - Lenin không dừng ở sự giải thích thế giới mà còn là công cụ nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Câu 2.
- Ý thức xã hội là khái niệm triết học dùng để chỉ các hình thái khác nhau của tinh thần trong
đời sống xã hội bao gồm những tư tưởng, quan điểm, tình cảm, tâm trạng, thói quen, phong tục,
tập quán, truyền thống… của cộng đồng xã hội được sinh ra trong quá trình xã hội tồn tại và
phản ánh tồn tại xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Ý thức xã hội chỉ là một bộ phận
của đời sống tinh thần.
***Tính độc lập tương đối biểu hiện ở những điểm sau đây:
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hải Anh - Mã LHP: 2323MLNP0221 Trang 3/6
1. Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội.
- Lịch sử xã hội đã cho thấy, nhiều lúc tồn tại xã hội cũ đã bị mất đi, nhưng ý thức xã hội cũ
tương ứng lại vẫn còn tồn tại dai dẳng. Điều đó đã biểu hiện ý thức xã hội muốn thoát ly ra
khỏi sự ràng buộc của tồn tại xã hội và tính độc lập tương đối. Ý thức xã hội thường lạc hậu so
với tồn tại xã hội là do các nguyên nhân chủ yếu như sau:
+ Một là, sự biến đổi của tồn tại xã hội do tác động mạnh mẽ, thường xuyên và trực tiếp của
những hoạt động thực tiễn của con người, thường diễn ra với tốc độ nhanh mà ý thức xã hội có
thể không phản ánh kịp và trở nên lạc hậu. Hơn nữa, ý thức xã hội là cái phản ánh tồn tại xã hội
nên nói chung chỉ biến đổi sau khi có sự biến đổi của tồn tại xã hội.
+ Hai là, do sức mạnh của thói quen, truyền thống, tập quán cũng như do tính lạc hậu, bảo thủ
của một số hình thái ý thức xã hội.
+ Ba là, ý thức xã hội luôn gắn với lợi ích của những nhóm, những tập đoàn người, những giai
cấp nhất định trong xã hội. Vì vậy, những tư tưởng cũ, lạc hậu thường được các lực lượng xã
hội phản tiến bộ lưu giữ và truyền bá nhằm chống lại các lực lượng xã hội tiến bộ.
- Những ý thức lạc hậu, tiêu cực không mất đi một cách dễ dàng. Vì vậy, trong sự nghiệp xây
dựng xã hội mới phải thường xuyên tăng cường công tác tư tưởng, đấu tranh chống lại những
âm mưu và hành động phá hoại của những lực lượng thù địch về mặt tư tưởng, kiên trì xoá bỏ
những tàn dư ý thức cũ, đồng thời ra sức phát huy những truyền thống tư tưởng tốt đẹp.
- Ví dụ: Ý thức tư tưởng phong kiến như “Trọng nam khinh nữ”, “gia trưởng” đã không còn
phù hợp với xu thế hiện nay.
2. Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội.
- Khi khẳng định tính thường lạc hậu hơn của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội, triết học
Marxist đồng thời thừa nhận rằng, trong những điều kiện nhất định, tư tưởng của con người,
đặc biệt những tư tưởng khoa học tiên tiến có thể vượt trước sự phát triển của tồn tại xã hội, dự
báo được tương lai và có tác dụng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người, hướng
hoạt động đó vào việc giải quyết những nhiệm vụ mới do sự phát triển chín muồi của đời sống
vật chất của xã hội đặt ra.
- Khi nói tư tưởng tiên tiến có thể đi trước tồn tại xã hội, dự kiến được quá trình khách quan
của sự phát triển xã hội thì không có nghĩa nói rằng trong trường hợp này ý thức xã hội không
còn bị tồn tại xã hội quyết định nữa. Tư tưởng khoa học tiên tiến không thoát ly tồn tại xã hội,
mà phản ánh chính xác, sâu sắc tồn tại xã hội.
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hải Anh - Mã LHP: 2323MLNP0221 Trang 4/6
- Ví dụ: Ngay từ khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đang ở trong thời kỳ phát triển tự do
cạnh tranh, Karl Marx đã dự báo quan hệ sản xuất đó nhất định sẽ bị quan hệ sản xuất tiến bộ hơn thay thế.
3. Ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển.
- Lịch sử phát triển đời sống tinh thần xã hội đã cho thấy rằng, những quan điểm lý luận ở mỗi
thời đại không xuất hiện trên mảnh đất trống không. Mà nó được tạo ra trên cơ sở kế thừa
những tài liệu lý luận của các thời đại đi trước.
- Do ý thức xã hội có tính kế thừa, nên khi nghiên cứu một tư tưởng nào đó phải dựa và quan
hệ kinh tế hiện và phải chú ý đến các giai đoạn phát triển tư tưởng trước đó. Trong xã hội có
phân chia giai cấp, tính chất kế thừa của ý thức xã hội luôn gắn liền với tính chất giai cấp của
nó. Những giai cấp khác nhau sẽ kế thừa những nội dung ý thức khác nhau của các thời đại đi
trước. Các giai cấp tiên tiến thường sẽ kế thừa những di sản tư tưởng tiến bộ của xã hội cũ đã để lại.
- Ví dụ: Chủ nghĩa Marx đã kế thừa những tinh hoa tư tưởng của loài người mà trực tiếp là nền
triết học Đức, kinh tế học cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. Trong xã hội có
giai cấp, tính chất kế thừa của ý thức xã hội gắn với tính chất giai cấp của nó. Những giai cấp
khác nhau kế thừa những nội dung ý thức khác nhau của các thời đại trước, các giai cấp tiên
tiến thường kế thừa những di sản tư tưởng tiến bộ của xã hội cũ để lại. Hay ở Việt Nam với tư
tưởng lấy “Dân làm gốc” mà Hồ Chí Minh đã có câu: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó
vạn lần dân liệu cũng xong”
4. Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của chúng.
- Ý thức xã hội có rất nhiều bộ phận, nhiều hình thái khác nhau. Theo nguyên lý mối liên hệ thì
các bộ phận đó không tách rời nhau, mà thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau. Sự tác động
đó làm cho mỗi hình thái ý thức luôn có những mặt, những tính chất không phải là kết quả
phản ánh một cách trực tiếp của sự tồn tại xã hội.
- Ý thức xã hội được thể hiện dưới nhiều hình thái cụ thể như: chính trị, pháp quyền, đạo đức,
triết học, nghệ thuật, tôn giáo, khoa học. Ví dụ: trong giáo dục luôn đề cao đạo đức mà đạo đức
thường là chuẩn mực ứng xử của xã hội.
5. Ý thức xã hội tác động trở lại sự tồn tại xã hội.
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hải Anh - Mã LHP: 2323MLNP0221 Trang 5/6
- Chủ nghĩa duy vật lịch sử không những chống đối lại quan điểm duy tâm tuyệt đối hoá về vai
trò của ý thức xã hội mà còn bác bỏ luôn quan điểm duy vật tầm thường khi đã phủ nhận tác
động tích cực của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội.
- Ví dụ: Nếu hiện nay vẫn cứ còn tư tưởng "Trọng nam khinh nữ" thì sẽ phủ nhận công lao của
phái đẹp, kìm hãm sự phát triển bình đẳng giới do vậy tư tưởng lạc hậu này cần được loại bỏ.
***Vai trò của ý thức xã hội đối với quá trình hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa.
- Với hạt nhân tư tưởng là chủ nghĩa Marx - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ
trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước, có thể nói, ý thức xã hội mới đóng vai
trò quan trọng nhất trong việc định hướng tư tưởng, văn hóa xã hội.
+ Ý thức xã hội góp phần xây dựng đạo đức, lối sống mới, tiến bộ cho nhân dân trong bối cảnh
sự suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân hiện nay đang có
những diễn biến nghiêm trọng;
+ Ý thức xã hội góp phần đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch đang chống phá
Đảng và Nhà nước, công kích, xuyên tạc nhằm bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ
nghĩa Marx - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Triết học Marx - Lenin khẳng định, ý thức xã hội có thể tác động mạnh mẽ trở lại sự phát
triển của tồn tại xã hội. Do đó, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước hiện nay, việc
phát huy vai trò của ý thức xã hội mới có ý nghĩa rất quan trọng. ---Hết---
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hải Anh - Mã LHP: 2323MLNP0221 Trang 6/6