Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ II NĂM HỌC 2021 – 2022
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Triết học Mac - Lenin Số báo danh: 76 Mã số đề thi: 34 Lớp: 2246MLNP0221
Ngày thi: 18-05-2022 Tổng số trang: 6
Họ và tên: Hoàng Văn Thắng Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………...... Đề Bài:
Câu 1: Thế nào là nhận thức lý tính? Ưu và nhược điểm của nhận thức lý tính? Lấy vú dụ minh họa.
Câu 2: Từ mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ hãy làm sáng tỏ luận
điểm:“Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không
đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có
đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”(V.I.Lênin, Toàn tập,t.4,Nxb Chính trị Quốc gia
Sự thật,Hà Nội,2005. tr:473). Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng lý luận này trong thực tiễn
cách mạng Việt Nam như thế nào? Bài làm Câu 1:
-Là giai đoạn nhận thức gián tiếp về sự vật. Ởgiai đoạn nhận thức lý tính, con người đã nắm bắt
được một cách khái quát, đầy đủ bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng. Nhận thức lý tính
bắt nguồn từ nhận thức cảm tính nhưng phản ánh hiện thực 1 cách sâu sắc hơn tức là có thể
phản ánh được sự vật hiện tượng trong mối liên hệ và quan hệ bản chất mang tính quy luật.
-Nhận thức lý tính gồm ba hình thức:khái niệm,phán đoán và suy lý.
Họ tên SV/HV: Hoàng Văn Thắng - Mã LHP: 2246MLNP0221 Trang 1/6
+Khái niệm: Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh khái quát, gián
tiếp một hoặc một số thuộc tính chung có tính bản chất nào đó của một nhóm sự vật, hiện tượng
được biểu thị bằng một từ hay một cụm từ. Khái niệm được hình thành trên cơ sở hoạt động
thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người. Khái niệm là kết quả của sự tổng hợp, khái
quát biện chứng những tài liệu thu nhận được trong hoạt động thực tiễn. Do đó, khái niệm"là
chủ quan trọngtính trừu tượng của chúng,trong sự tách rời của chúng, tính trừu tượng của
chúng,trong sự tách rời của chúng, nhưng là khách quan trong chỉnh thể, trong quá trình, trong
kết cuộc, trong khuynh hướng,trong nguồn gốc".
Ví dụ: Trong khái niệm“con người”đã khái quát những thuộc tính chung của mọi con người là
thực thể xã hội, biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động, có ý thức ...Đó là thuộc tính nói lên
bản chất của con người; khái niệm“cái cây”đã khái quát những thuộc tính chung của mọi cái
cây như có rễ, thân, cành, lá ...,“cá”... đã khái quát những thuộc tính chung của mọi loài cá đó
là động vật có xương sống,thở bằng mang, bơi bằng vây, sống ở dưới nước ...
Phán đoán là hình thức liên hệ các khái niệm,phản ánh mối liên hệ giữa các sự vật, hiện
tượng của thế giới trong ý thức con người. Phán đoán là một hình thức của tư duy trừu tượng,
bằng cách liên kết các khái niệm lại để khẳng định hay phủ định một thuộc tính nào đó của sự
vật. Phán đoán được biểu hiện dưới hình thức ngôn ngữ thành một mệnh để, bao gồm chủ từ, vị
từ và hệ từ; trong đó, hệ từ đóng vai trò quan trọng nhất vì nó biểu thị mới quan hệ của sự vật
được phản ánh. Ví dụ: Hà Nội là trung tâm chính trị của Việt Nam; trong đó, “Hà Nội"là chủ
từ, “trung tâm chính trị của Việt Nam"là vị từ; “là”ở đây là hệ tử. Cổ ba loại phán đoán cơ bản
là: phán đoán đơn nhất, phán đoán đặc thù và phán đoán phổ biến.
Ví dụ: “Đồng là chất dẫn điện”; “Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa XHCNVN". Trong đó,
Đồng, Hà Nội là chủ từ; chất dẫn điện, thủ đô của nước Cộng hòa XHCNVN là vị từ;còn “là”là hệ từ.
Suy lý (suy luận) cũng là một hình thức của tư duy trừu tượng,trong đó các phán đoán đã liên
kết với nhau theo quy tắc: phán đoán cuối cùng (kết luận) được suy ra từ những phán đoán đã biết làm tiền để.
Ví dụ: Nếu liên kết phán đoán“đồng dẫn điện”với phán đoán“đồng là kim loại” ta rút ra được
tri thức mới“mọi kim loại đều dẫn điện”.
Họ tên SV/HV: Hoàng Văn Thắng - Mã LHP: 2246MLNP0221 Trang 2/6
Có hai loại suy lý chính:quy nạp và diễn dịch. Quy nạp là loại hình suy luận trong đó từ tiền đề
là những tri thức về riêng từng đối tượng người ta khái quát thành tri thức chung cho cả lớp đối
tượng, tức là tư duy vận động từ cái đơn nhất đến cái chung, cái phổ biến.
Ví dụ: Đồng dẫn điện, Sắt dẫn điện, Nhôm dẫn điện, Đồng,sắt,nhôm đều là kim loại.Vậy, mọi
kim loại đều dẫn điện.
Diễn dịch là loại hình suy luận trong đó từ tiền để là tri thức chung về cả lớp đối tượng người ta
rút ra kết luận là tri thức về riêng từng đối tượng hay bộ phận đối tượng, tức là tư duy vận động
từ cái chung đến cái ít chung hơn, đến cái đơn nhất(cái riêng).
Ví dụ: Mọi kim loại đều dẫn điện, Đồng là kim loại. Do đó,đồng dẫn điện.
Trong quá trình nhận thức của con người, hai loại suy luận này có liên hệ chặt chẽ với nhau, bổ
sung cho nhau. Suy lý là phương thức quan trọng để tư duy của con người đi từ cái đã biết đến
cái chưa biết một cách gián tiếp, rút ngắn thời gian trong việc phát hiện tri thức mới. Tính chân
thực của tri thức thu nhận được nhờ suy lý, phụ thuộc vào tính chân thực của các phán đoán
tiền đề và sự tuân thủ chặt chẽ, đúng đắn các quy tắc lôgích của chủ thể suy lý.
Ưu điểm: Kết quả nhận thức sâu sắc, toàn diện, nhờ có nhận thức lý tính mà con người mới đi
sâu nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng.
Nhược điểm: Nếu không dựa trên nhận thức cảm tính chính xác thì độ tin cậy không cao, cần
phải tránh cường điệu thái quá vai trò của nhận thức lý tính,của trí tuệ dẫn đến hạ thấp hoặc
phủ nhận vai trò của nhận thức cảm tính, của cảm giác, rơi vào chủ nghĩa duy lý. Ví dụ minh họa:
Ví dụ như việc phát hiện ra lực vạn vật hấp dẫn là một quá trình như thế này.Đầu tiên là Tycho
Brahe, Johannes Kepler và những người khác đã quan sát và ghi lại chuyển động của các hành
tinh trong nhiều thập kỷ. Sau đó Newton và những người khác đã nghiên cứu và tính toán lâu
dài về những ghi chép chuyển động của hành tinh này.Cuối cùng đã khám phá ra định luật vạn
vật hấp dẫn.Từ đó hoàn thành quá trình đi lên từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính của vấn đề này. Câu 2:
Họ tên SV/HV: Hoàng Văn Thắng - Mã LHP: 2246MLNP0221 Trang 3/6
- Khi niê m quần chng nhân dân. Là
bô { phâ {n dân cư có cùng chung lợi ích căn bản liên kết lại thành tâ {p thể dưới sự lãnh đạo
của mô {t thủ lĩnh, tổ chức hay đảng phái nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hô {i của thời đại họ.
Khái niê {m quần chúng nhân dân luôn được xác định bởi: + Những người lao
đô {ng sản xuất ra của cải vâ {t chất - hạt nhân cơ bản của quần chúng nhân dân.
+ Những bô { phâ {n dân cư chống lại giai cấp thống trị, áp bức bóc lô {t đối kháng với nhân dân.
+ Những giai cấp, những tầng lớp thúc đ|y sự tiến bô { xã hô {i.
- Khi niê m v nhân-lnh t :
Vĩ nhân-lãnh tụ là những cá nhân kiê {t xuất, vĩ nhân, những người nắm bắt được vấn đề căn
bản nhất trong mô {t lĩnh vực nhất định của hoạt
đô {ng lý luâ {n, khoa học và thực tiễn, có thể là
những anh hùng, nhà khoa học hay nhà hoạt
đô {ng chính trị l}i lạc, nguyê {n hy sinh quên mình
cho lợi ích của quần chúng nhân dân.
Có thể khái quát vĩ nhân-lãnh tụ là những người có ph|m chất cơ bản sau đây:
+ Có tri thức khoa học uyên bác, nắm được xu thế vâ {
n đô {ng của dân tô {c, quốc tế và thời đại.
+ Có khả năng tâ {p hợp quần chúng nhân dân, thống nhất ý chí và hành đô {ng của họ hướng vào
mô {t nhiê {m vụ cụ thể của dân tô {c, quốc tế hay thời đại.
+ Nguyê {n hy sinh quên mình cho lợi ích dân tô {c, quốc tế và thời đại.
Mối quan hệ giữa lãnh tụ với quần chúng nhân dân là quan hệ thống nhất, biện chứng:
-Mục đích và lợi ích của quần chúng nhân dân và lãnh tụ là thống nhất. Đó là điểm then chốt và
căn bản quyết định sự thành bại của phong trào và sự xuất hiện của lãnh tụ. Lợi ích của họ có
thể biểu hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau,nhưng lợi ích luôn là cầu nối, liên kết, là mắt xích
quyết định,là động lực để quần chúng nhân dân và lãnh tụ có thể kết thành khối xã hội thống
nhất vềýchí và hành động.Tuy nhiên, lợi ích của họ luôn vận động, biến đổi không ngừng phụ
thuộc vào địa vị lịch sử, bối cảnh khách quan mà phong trào quần chúng nhân dân và lãnh tụ
Họ tên SV/HV: Hoàng Văn Thắng - Mã LHP: 2246MLNP0221 Trang 4/6
của họ đang tồn tại,hoạt động trong đó, phụ thuộc vào năng lực nhận thức và vận dụng các quy
luật khách quan để thực hiện các lợi ích đó.
-Quần chúng nhân dân và phong trào của họ tạo nên các lãnh tụ,những điều kiện,tiền để khách
quan để các lãnh tụ xuất hiện và hoàn thành các nhiệm vụ mà lịch sử đặt ra cho họ. Lãnh tụ là
sản ph|m của thời đại, của cộng đồng, của phong trào.Sự xuất hiện của họ và khả năng giải
quyết được các nhiệm vụ của lịch sử nhanh hoặc chậm, nhiều hoặc ít sẽ thúc đ|y sự vận động,
phát triển của phong trào quần chúng nhân dân.
-Trong mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ, chủ nghĩa
Mác-Lênin khẳng định vai trò quyết định của quần chúng nhân dân,đồng thời đánh giá cao vai
trò của lãnh tụ. Quần chúng nhân dân là lực lượng đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển
của lịch sử xã hội,là động lực của sự phát triển đó. Lãnh tụ là người dẫn dắt, định hướng cho
phong trào, thúc đ|y phong trào phát triển, do đó thúc đ|y sự phát triển của lịch sử xã hội.
Thực chất luận điểm của V.I. Lênin nói lên vai trò to lớn của cá nhân lãnh tụ trong mối
quan hệ với quần chúng nhân dân đối với sự phát triển của lịch sử.Theo V.L Lênin, nếu
không có lãnh tụ chính trị thì giai cấp đó không thể động viên quần chúng làm cách mạng
lật đổ chính quyền cũ, xác lập quyền thống trị của mình.Bởi vì, lãnh tụ là người nắm bắt xu
thế của dân tộc, quốc tế và thời đại; hiểu biết những quy luật khách quan, các quá trình kinh
tế, chính trị, xã hội của dân tộc và thời đại. Trên cơ sở nhận thức đúng đắn điều kiện khách
quan và nhân tố chủ quan,định hướng chiến lược và hoạch định chương trình hành động
cách mạng; tổ chức lực lượng, giáo dục thuyết phục quần chúng, thống nhất ý chí và hành
động của quần chúng nhằm hướng vào giải quyết những mục tiêu cách mạng đề ra. Nhờ có
sự dẫn dắt của lãnh tụ mà bảo đảm cho hành động của quần chúng nhân dân theo đúng với
quy luật khách quan của lịch sử xã hội, chuyển từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự
giác,từ kinh nghiệm sang khoa học, từ phân tán sang tổ chức thống nhất.
Lãnh tụ không phải là người quyết định xu hướng của lịch sử, nhưng có vai trò quyết định
việc giải quyết m}i biến cố của lịch sử, quyết định sự thành bại của việc thực hiện xu hướng
của lịch sử tại những thời điểm nhất định, và do đó có thể quyết định nhịp điệu, tốc độ phát
triển của lịch sử. Đặc biệt,trong những bước ngoặt, sự sáng suốt, tính kiên quyết và uy tín
của lãnh tụ có tác dụng hết sức quan trọng đối với diễn biến tình hình. Nếu không có lãnh
tụ,quần chúng không đủ sáng suốt và sự kiên định, vững vàng đấu tranh với âm mưu thủ
Họ tên SV/HV: Hoàng Văn Thắng - Mã LHP: 2246MLNP0221 Trang 5/6
đoạn tàn bạo,dã man của các lực lượng phản cách mạng để vượt qua muôn ngàn gian khổ
hy sinh đi tới thắng lợi cuối cùng.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân với lãnh tụ
có ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng. Lãnh tụ có vai trò quan trọng, nhưng không thể
tuyệt đối hóa vai trò của họ dẫn đến tệ sùng bái cá nhân,thần thánh hóa lãnh tụ, coi nhẹ
quần chúng nhân dân,hạn chế việc phát huy tính năng động. sáng tạo của quần chúng nhân
dân,phải chống lại tệ sùng bái cá nhân.Ngược lại, việc tuyệt đối hóa vai trò của quần chúng
nhân dân, xem nhẹ vai trò của các cá nhân và lãnh tụ sẽ dẫn đến hạn chế, xem thường các
sáng kiến cá nhân, những sáng tạo của quần chúng nhân dân, không phát huy được sức
mạnh sáng tạo của họ.Quần chúng nhân dân luôn là người thấy vĩ đại của các cá nhân, lãnh tụ.
Vận dụng lý luận này trong thực tiễn cách mạng Việt Nam:
Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 không thể có nếu không có vai trò của
Đảng Bônsêvích Nga, đứng đầu là lãnh tụ V.I. Lênin. Cách mạng Việt Nam cũng không thể
giành thắng lợi nếu không có sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ
Chí Minh.Sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô do nhiều nguyên
nhân,nhưng một trong những nguyên nhân đó là do Đảng Cộng sảnởcác nước đó mất vai trò lãnh đạo. ---Hết---
Họ tên SV/HV: Hoàng Văn Thắng - Mã LHP: 2246MLNP0221 Trang 6/6