Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯàNG ĐẠI HÞC THƯƠNG MẠI
HÞC KỲ II NĂM HÞC 2021 – 2022
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi hßc phần: Triết học Mác - Lênin Số báo danh: 15 Mã số đề thi: 4 Lßp: K57T2 MSV: 21D220160
Ngày thi: 31/05/2022 Tổng số trang: 7
Hß và tên: Vũ Thị Nhật Dung Điểm kết luận: GV chấm thi 1: GV chấm thi 2: Câu 1:
1.1. Kết cấu của lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra
sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự
nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội. Kết cấu của lực lượng sản
xuất bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất. Cụ thể:
Người lao động là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động và
năng lực sáng tạo nhất định trong quá trình sản xuất của xã hội. Người lao động
là chủ thể sáng tạo, đồng thời là chủ thể tiêu dùng mọi của cải vật chất xã hội. Đây
là nguồn lực cơ bản, vô tận và đặc biệt của sản xuất. Ngày nay cùng với sự phát
triển vượt bậc và khả năng ứng dụng nhanh các thành tự khoa học công nghệ vào
sản xuất đã khiến cho tri thức khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Vì
thế, hiện nay tỷ trọng lao động có cơ bắp đang có xu hướng giảm, trong khi đó
lao động trí tuệ ngày càng tăng.
→ Ví dụ: Mark Zuckerberg là người sáng lập trang mạng xã hội lớn nhất thế giới
là Facebook. Đây không chỉ là công cụ để con người giải trí, kết nối mà còn là
công cụ để bán hàng, đẩy mạnh xúc tiến thương mại. Hay như việc con người sản
xuất ra quần áo, thực phẩm… và cũng chính họ là người sử dụng và tiêu thụ chúng.
Tư liệu sản xuất là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất, bao gồm
tư liệu lao động và đối tượng lao động. Trong đó:
Họ tên SV/HV: Vũ Thị Nhật Dung Mã LHP: 2218MLNP0221 Trang 1/7
+ Đối tượng lao động: là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dùng
tư liệu lao động tác động lên nhằm biến đổi chúng phù hợp với mục đích sử dụng
của con người. Đối tượng lao động gồm 2 bộ phận là những yếu tố nguyên nhiên
vật liệu có sẵn trong tự nhiên (đất, than đá…) và một bộ phận phải trải qua sự cải
tạo, chế biến của con người – hay còn gọi là nhân tạo (nhựa, gỗ ép…)
+ Tư liệu lao động: là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dựa vào
đó để tác động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi đối tượng lao động thành
sản phẩm đáp ứng yêu cầu sản xuất của con người. Tư liệu lao động gồm công cụ
lao động và phương tiện lao động.
o Phương tiện lao động: là những yếu tố vật chất của sản xuất (phương tiện
để vận chuyển, bảo quản…) cùng với công cụ lao động mà con người sử
dụng để tác động lên đối tượng lao động trong quá trình sản xuất vật chất.
o Công cụ lao động: là những phương tiện vật chất (máy móc…) mà con
người trực tiếp sử dụng để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi
chúng, tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu của con người và xã hội.
1.2. Chứng minh vai trò của tư liệu sản xuất trong kết cấu đó.
Tư liệu sản xuất đóng một vai trò quan trọng trong kết cấu lực lượng sản xuất. Sự
phát triển của lực lượng sản xuất là phát triển ở cả tính chất và trình độ. Tính chất
của lực lượng sản xuất nói lên tính chất cá nhân hoặc tính chất xã hội hoá trong
việc sử dụng tư liệu sản xuất. Trình độ của lực lượng sản xuất là sự phát triển của
người lao động và công cụ lao động. Và trình độ phát triển của công cụ lao động
là một nhân tố quyết định năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Biểu hiện:
Trước thời kỳ đổi mới (trước năm 1986) kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu nay
lại gặp nhiều khó khắn hơn. Là một nước nông nghiệp nhưng tư liệu sản xuất rất
thô sơ, lạc hậu nhất là công cụ lao động chủ yếu là cái cày, cái cuốc, con trâu…
đều phải dùng đến sức lao động của con người. Hơn nữa, sự phát triển công cụ
cũng có sự phân hóa giữa các vùng miền khác nhau. Chính vì sự thô sơ, lạc hậu
trong công cụ lao động đẫn đến lực lượng sản xuất thời kỳ này cũng còn lạc hậu,
thấp kém, chưa tạo được nhiều thành tựu, nhân dân vẫn còn đói kém, khó khăn.
Sau năm 1986, máy móc trang thiết bị hiện đại ngày càng được sử dụng rộng
rãi trong tất cả các ngành kinh tế. Trong nông nghiệp đã xuất hiện các loại máy
cày, máy gặt, máy tuốt lúa…; trong công nghiệp cũng được đẩy mạnh ứng dụng
Họ tên SV/HV: Vũ Thị Nhật Dung Mã LHP: 2218MLNP0221 Trang 2/7
công nghệ như ứng dụng kỹ thuật hạt nhân…, đồng thời hệ thống các nhà máy
cũng dần được hoàn thiện. Tuy nhiên, nhìn chung tư liệu sản xuất ở nước ta vẫn
còn thấp kém so với thế giới, chất lượng và hiệu quả chưa thực sự cao và còn có
sự phân hóa giữa các vùng. Nhưng nhờ sự thay đổi vượt bậc trong tư liệu sản xuất
cùng với trình độ lao động ngày càng cải thiện đã mang lại những thành tựu kinh
tế to lớn như đời sống nhân dân ngày càng cải thiện, nhân dân ấm no, hạnh phúc.
Ngày nay, sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật 4.0, nhất là sự xuất hiện của
internet đã đưa vai trò của tư liệu sản xuất sang một tầm cao mới, cả người lao
động và công cụ lao động đều đang được trí tuệ hóa. Nền kinh tế nhiều quốc gia
phát triển dần chuyển sang nền kinh tế tri thức - nền kinh tế mà trong đó sự sản
sinh phổ cập và sử dụng trí thức của con người đóng vai trò quyết định đối với sự
phát triển kinh tế từ đó tạo ra của cải vật chất và nâng cao chất lượng cuộc sống
con người. Đặc trưng của nền kinh tế tri thức là công nghệ cao, công nghệ thông
tin trí tuệ nhân tạo được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất và đời sống. Câu 2:
2.1. Nội dung của quy luật mâu thuẫn a. Khái niệm
Mâu thuẫn biện chứng là khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ, tác động theo
cách vừa thống nhất, vừa đấu tranh; vừa đòi hỏi, vừa loại trừ, vừa chuyển hóa lẫn
nhau giữa các mặt đối lập.
Các mặt đối lập là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt có những đặc
điểm, những thuộc tính, những khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, nhưng
cùng tồn tại khách quan trong mỗi sự vật, hiện tượng của tự nhiên, xã hội và tư
duy. Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu
tranh lẫn nhau tạo nên trạng thái ổn định tương đối của sự vật, hiện tượng.
Quy luật mâu thuẫn thể hiện bản chất, là duy vật bởi nó đề cập tới các vấn đề cơ bản và quan trọng nhất của phép biện
chứng duy vậy b. Nội dung quy luật – quá trình vận động của mâu thuẫn biện chứng
➢ Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển
Sự thống nhất, đấu tranh giữa các mặt đối lập chính là hai xu hướng tác
động khác nhau về mặt đối lập. Trong đó, hai xu hướng này tạo ra loại mâu thuẫn
Họ tên SV/HV: Vũ Thị Nhật Dung Mã LHP: 2218MLNP0221 Trang 3/7
đặc biệt, từ đó mâu thuẫn biện chứng bao gồm sự thống nhất và sự đấu tranh giữa
các mặt đối lập. Trong quá trình phát triển và vận động thì sự thống nhất, đấu
tranh của mặt đối lập không tách rời nhau.
Đấu tranh của mặt đối lập được quy định tất yếu về sự thay đổi các mặt đang
tác động, làm mâu thuẫn phát triển. Khi bắt đầu xuất hiện thì mâu thuẫn chỉ là
một sự khác nhau cơ bản. Tuy nhiên theo khuynh hướng trái ngược nhau thì sự
khác nhau này ngày càng lớn lên và rộng ra đến khi nào trở thành đối lập. Bên
cạnh đó, khi hai mặt đối lập có sự xung đột gay gắt, đủ điều kiện thì sẽ tự chuyển
hóa lẫn nhau và từ đó mâu thuẫn được giải quyết. Nhờ sự giải quyết theo hướng
này mà thể thống nhất mới sẽ thay thế thể thống nhất cũ hay sự vật mới thay thế cho sự vật cũ mất đi.
Sự phát triển là cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập. Ta đã thấy rằng khi có
thống nhất của các mặt đối lập thì sẽ có đấu tranh mà đấu tranh và thống nhất các
mặt đối lập thì không thể tách rời khỏi nhau đối với mâu thuẫn biện chứng. Sự
vận động, phát triển là sự thống nhất trong tính ổn định và tính thay đổi, đấu tranh
và thống nhất các mặt đối lập quy định về tính thay đổi và sự ổn định của sự vật.
Do đó, mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển và vận động.
➢ Mâu thuẫn là động lực của sự vận động
Bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới khách quan cũng đều chứa đựng
những mâu thuẫn trong bản thân nó, trong đó luôn diễn ra quá trình vừa thống
nhất vừa đấu tranh của các mặt đối lập làm cho sự vật, hiện tượng vận động và
phát triển không ngừng. Chúng có vị trí, vai trò nhất định đối với sự tồn tại và
phát triển của sự vật, hiện tượng.
Sự thống nhất của các mặt đối lập gắn liền với sự ổn định, sự đứng im tương
đối của sự vật. Khi nào các mặt đối lập còn tồn tại trong thể thống nhất thì khi đó
sự vật còn tồn tại. Vì vậy thống nhất có tính tương đối.
Nhưng trong khi các mặt đối lập thống nhất với nhau, quá trình đấu tranh
giữa chúng không ngừng diễn ra. Đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho bản thân
các mặt đối lập đều biến đổi, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng phát triển. Khi sự đấu
tranh đó lên tới đỉnh điểm, các mặt đối lập xung đột gay gắt, chúng sẽ chuyển hóa
cho nhau, mâu thuẫn được giải quyết, thể thống nhất cũ bị phá vỡ, sự vật cũ mất
đi, sự vật mới ra đời. Vì vậy đấu tranh có tính tuyệt đối.
Họ tên SV/HV: Vũ Thị Nhật Dung Mã LHP: 2218MLNP0221 Trang 4/7
Mâu thuẫn cũng có quá trình vận động và phát triển: Lúc mới xuất hiện, mâu
thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản của các mặt đối lập nhưng theo khuynh hướng
trái ngược nhau. Sự khác nhau đó ngày càng phát triển đi đến đối lập, rồi sau đó
xung đột gay gắt. Khi hội tụ đủ điều kiện thích hợp, mâu thuẫn sẽ được giải quyết
làm cho sự vật vận động và phát triển. ➢ Ví dụ
Trong lĩnh vực nông nghiệp, người nông dân có thể lợi dụng những mặt đối
lập trong di truyền và biến dị, gây ra đột biến, tạo nên giống loài mới có năng suất
cao hơn và chất lượng tốt hơn. Trong lịch sử dân tộc, cụ thể là quá trình kháng
chiến chống Pháp, nhân dân ta có mâu thuẫn gay gắt với thực dân Pháp. Khi mâu
thuẫn đẩy lên đỉnh điểm đã tạo động lực cho dân ta vùng lên khởi nghĩa, đâu tranh
giành lại chính quyền và kết quả là nhân dân ta đã giành được thắng lợi, nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa được ra đời.
2.2. Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật
này để giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể.
a. Ý nghĩa phương pháp luận
Thứ nhất, thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng;
từ đó giải quyết mâu thuẫn phải tuân theo quy luật, điều kiện khách quan. Muốn
phát hiện mâu thuẫn, cần tìm ra thể thống nhất của các mặt đối lập trong sự vật,
hiện tượng; từ đó tìm ra phương hướng, giải pháp đúng cho hoạt động động nhận thức và thực tiễn.
Thứ hai, phân tích mâu thuẫn cần bắt đầu từ việc xem xét quá trình phát sinh,
phát triển của từng loại mâu thuẫn; xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ giữa các
mâu thuẫn và điều kiện chuyển hóa giữa chúng. Phải biết phân tích cụ thể một
mâu thuẫn cụ thể và đề ra được phương pháp giải quyết mâu thuẫn đó.
Thứ ba, phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn bằng đấu tranh giữa
các mặt đối lập, không điều hòa mâu thuẫn cũng không nóng vội hay bảo thủ, bởi
giải quyết mâu thuẫn còn phụ thuộc vào điều kiện đã đủ chín muối hay chưa.
b. Giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và tập thể
Lợi ích chính là sự thỏa mãn nhu cầu của con người, là nhu cầu được đáp
ứng. Tuy nhiên, trong hoạt động, con người không làm với tư cách là một cá nhân
riêng lẻ, mà luôn thực hiện trong mối quan hệ với cộng đồng, xã hội. Do đó, thực
Họ tên SV/HV: Vũ Thị Nhật Dung Mã LHP: 2218MLNP0221 Trang 5/7
chất quan hệ xã hội dù được xem xét ở bất cứ lĩnh vực nào đi nữa, cũng là quan
hệ lợi ích, là quan hệ giữa người với người trong hoạt động nhằm thỏa mãn nhu
cầu của mình. Chính từ đó, hình thành nên các lợi ích khác nhau, có lợi ích cá
nhân, có lợi ích tập thể, có lợi ích xã hội. Các lợi ích có thể tương hợp, đồng thuận,
có thể mâu thuẫn, xung đột với nhau tùy thuộc vào việc giải quyết và đáp ứng nhu
cầu ở mỗi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể:
Ví dụ trong lĩnh vực kinh tế: tranh chấp đất đai (giữa cá nhân với các nhân,
cá nhân với tập thể…); tranh chấp hợp đồng kinh tế; phân chia tài sản. Trong lĩnh
vực y tế (giữa bệnh nhân, người nhà bệnh nhân với bác sỹ, với cơ quan y tế…) .
Vì vậy để giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lời ích trong xã hội hiện nay, ta cần chú ý:
- Một là, nâng cao nhận thức của các chủ thể lợi ích trong việc giải quyết
quan hệ lợi ích, nhất là lợi ích các nhân và lợi ích tập thể. Nâng cao nhận thức của
các chủ thể lợi ích để các chủ thể xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình,
nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thống nhất lợi ích để tránh xung đột lợi ích giữa
các chủ thể. Trong mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, chủ thể cá
nhân cần nhận thức được rằng, lợi ích tập thể chỉ có thể đạt được khi mỗi cá nhân
cố gắng thực hiện tốt các lợi ích chính đáng của mình thông qua việc tích cực học
tập, lao động, rèn luyện, hài hòa giữa cống hiến và hưởng thụ.
- Hai là, tiếp tục hoàn thiện chính sách về sở hữu, phân phối và tổ chức thực
hiện tốt các chính sách trên thực tế để giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và
lợi ích tập thể. Theo đó, cần tiếp tục thực hiện nhất quán một chế độ pháp lý kinh
doanh cho các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu, thành phần kinh
tế. Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều hoạt động theo cơ chế thị
trường, bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh theo pháp luật, tạo cơ hội ngang nhau
trong việc tiếp cận các nguồn lực. Cụ thể hóa các quy định của pháp luật để đảm
bảo quyền bình đẳng trong tiếp cận tài sản công của mọi chủ thể trong nền kinh
tế, trong đó, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển doanh nghiệp và đội ngũ
doanh nhân Việt Nam thật sự trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Ba là, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách tiền lương, kết hợp thực hiện
tốt chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Bên cạnh đó Đảng, Nhà nước cần
Họ tên SV/HV: Vũ Thị Nhật Dung Mã LHP: 2218MLNP0221 Trang 6/7
thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội trong toàn xã hội, nhất là
đối với các đối tượng còn nhiều khó khăn như nông dân, những đồng bào vùng
sâu, vùng xa, đối tượng chính sách... thực hiện tốt chính sách xóa đói, giảm nghèo,
thực hiện thật tốt các chế độ, chính sách, nâng cao đời sống đối với các đối tượng
có công với cách mạng, đảm bảo cho họ được hưởng thụ các giá trị căn bản của
sự phát triển. Thực hiện tốt chính sách tiền lương theo Đề án cải cách tiền lương
đã được ban hành, đảm bảo tiền lương thực sự đảm bảo cuộc sống của cán bộ,
công chức, viên chức, người lao động, đặc biệt đối với người công nhân; có chính
sách đãi ngộ xứng đáng đối với những nhân tài của từng lĩnh vực, địa phương.
- Bốn là, thực hiện các giải pháp đảm bảo công khai, minh bạch nhằm ngăn
chặn những hành vi tiêu cực như tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm. Đảng, Nhà
nước cần thực hiện tốt hơn nữa các biện pháp công khai, minh bạch để phòng
ngừa các hiện tượng tham ô, tham nhũng, lãng phí. Nâng cao năng lực, hiệu quả
sử dụng tài sản công, phát huy tốt trách nhiệm giải trình, thực hiện tốt các biện
pháp công khai tài chính, minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên
chức... Mặt khác, cần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xử lý nghiêm minh
những trường hợp vi phạm tội tham ô, tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế, hàng giả,
hàng kém chất lượng... đây là những hành vi phá hoại nghiêm trọng các quan hệ
lợi ích, gây tổn hại tới cả lợi ích các nhân và các mục tiêu của lợi ích xã hội.
- Năm là, khuyến khích cá nhân thực hiện lợi ích chính đáng của mình đồng
thời đảm bảo lợi ích tập thể. Cần tích cực khuyến khích mỗi cá nhân tích cực vươn
lên trong học tập, lao động, sản xuất - kinh doanh, lập thân, lập nghiệp bằng nhiều
cơ chế, chính sách cụ thể, nhất là trong khởi nghiệp nhằm huy động tối đa các
nguồn lực cho sự phát triển. Thông qua các biện pháp giáo dục - đào tạo, tuyên
truyền, các hoạt động thực tiễn phong phú để họ thấy rằng, để thỏa mãn các nhu
cầu, lợi ích của bản thân, trước hết cần có sự cố gắng, rèn luyện, cần cù, vượt khó
vươn lên, tích cực lao động, đóng góp cho xã hội; đấu tranh với những biểu hiện
tiêu cực, vi phạm các lợi ích chính đáng của bản thân từ các chủ thể khác; loại bỏ
tư tưởng tự mãn, ỷ lại; có cái nhìn tích cực về các vấn đề của xã hội, tìm ra những
cơ hội cho sự phát triển của mỗi cá nhân. ---Hết---
Họ tên SV/HV: Vũ Thị Nhật Dung Mã LHP: 2218MLNP0221 Trang 7/7