Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ I NĂM HỌC 2024 – 2025
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Triết học Mác-Lênin Số báo danh: 18 Mã số đề thi: 10 Mã số SV/HV: 24D310114 Ngày thi: 26/12/2024 Lớp: 241_MLNP0221_29 Tổng số trang: 06
Họ và tên: Phạm Thùy Dung Điểm kết luận: GV chấm thi 1:
…….………………………...... GV chấm thi 2:
…….………………………......
SV/HV không được viết vào cột này)
Điểm từng câu, diểm thưởng (nếu có) và điểm toàn bài GV chấm 1: Câu 1: ……… điểm Câu 2: ……… điểm …………………. …………………. Cộng …… điểm GV chấm 2: Câu 1: ……… điểm Câu 2: ……… điểm …………………. …………………. Cộng …… điểm
Họ tên SV/HV: Phạm Thùy Dung - Mã LHP: 241-MLNP0221-29 - Trang 1/6 Bài làm
Câu 1: Phân tích kết cấu của quan hệ sản xuất. Lấy ví dụ để luận giải vai trò của quan hệ
tổ chức và quản lý sản xuất trong doanh nghiệp.
1. Phân tích kết cấu của quan hệ sản xuất
1.1. Khái niệm quan hệ sản xuất:
⁕ Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với
người trong quá trình sản xuất vật chất và là sự thống nhất của 3 mối quan hệ:
quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý sản xuất và
quan hệ phân phối sản phẩm lao động.
1.2. Kết cấu của quan hệ sản xuất:
Quan hệ sản xuất hình thành một cách khách quan, là quan hệ đầu tiên, cơ bản chủ
yếu, quy định mọi quan hệ xã hội.
⁕ Kết cấu của quan hệ sản xuất bao gồm 3 mối quan hệ:
a. Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất: Là quan hệ giữa các tập đoàn người
trong việc chiếm hữu, sử dụng các tư liệu sản xuất xã hội.
- Vai trò: Giữ vai trò quyết định và chi phối bản chất và tính chất của
quan hệ sản xuất. Bởi vì ai nắm giữ tư liệu sản xuất trong tay thì người
ấy sẽ có quyền quyết định đến việc tổ chức, quản lý sản xuất cũng như
phân phối kết quả sản xuất.
- Có 2 kiểu sở hữu về tư liệu sản xuất bao gồm: Công hữu hữu (sở hữu công cộng) và tư hữu.
b. Quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất: Là quan hệ giữa các tập đoàn người
trong việc tổ chức sản xuất và phân công lao động.
- Vai trò: Có vai trò quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ, hiệu quả của
nền sản xuất, đảm bảo sự phối hợp lao động hiệu quả, hiện thực hóa
quyền sở hữu tư liệu sản xuất, và ảnh hưởng đến phân phối sản phẩm.
Có khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của nền sản xuất xã hội.
Họ tên SV/HV: Phạm Thùy Dung - Mã LHP: 241-MLNP0221-29 - Trang 2/6
c. Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động: Là quan hệ giữa các tập đoàn
người trong việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách và quy
mô của cải vật chất mà các tập đoàn người được hưởng.
- Vai trò: Kích thích trực tiếp đến lợi ích và thái độ của người lao động,
là “chất xúc tác” kinh tế thúc đẩy tốc độ, nhịp điệu sản xuất làm năng
động hóa hoặc có thể làm trì trệ, kìm hãm toàn bộ đời sống kinh tế - xã
hội và quá trình sản xuất. Vì người lao động làm việc có hiệu quả và
năng suất khi lợi ích của họ được phân phối đảm bảo.
➔ Ba mặt này thống nhất và có mối quan hệ hữu cơ với nhau.
2. Bí quyết điều hành, tổ chức quản lý của tập đoàn “Vinfast”
Vinfast là một công ty sản xuất và kinh doanh ô tô và xe điện của Việt Nam do ông
Phạm Nhật Vượng thành lập năm 2017. Hình thức quản lý tổ chức và nghiên cứu của Vinfast
khác biệt ngay từ những sản phẩm đầu tiên, ông Vượng đã mời về những chuyên gia trong
ngành sản xuất xe điện, đối với ông luôn đi kèm là nhận định “Ít nhưng khỏe, còn hơn đông mà
yếu” điều này đã tiết kiệm được thời gian nghiên cứu cùng với mức độ hoàn thiện của sản
phẩm. Với chủ trương “để cái tâm và dồn hết những nhân sự giỏi nhất đối với tất cả các dự án”
đã đảm bảo chất lượng trên từng chi tiết cùng với ngày càng cải tiến máy móc công nghệ nhằm
nâng cao năng suất và độ chính xác cho sản phẩm. Ngoài ra, mục tiêu của Vinfast là lấy khách
hàng làm cốt lõi. Ông Vượng luôn đề cao trải nghiệm của người dùng, lắng nghe mong muốn
và cải tiến thông qua từng đời xe, bảo hành miễn phí và quà tri ân điều này làm cho tỉ lệ khách
hàng quay lại và sẵn sàng mua sản phẩm tăng cao, đây là cách “quản lý khách hàng” rất khôn
ngoan. Xây dựng thương hiệu 7 năm, hàng chục mẫu xe đã được ra mắt, ngoài ra với các tổ
chức quản lý như trên đã làm cho Vinfast lọt top100 những thương hiệu xe có tầm ảnh hưởng
nhất trên thế giới. Những cách quản lý dây chuyền sản xuất, nhân lực trong công ty và thậm chí
là quản lý lượng khách hàng là những điều đáng học hỏi cho các doanh nghiệp khác đang và sẽ
đang làm trong ngành dịch vụ và sản xuất.
Câu 2: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng. Vận dụng nguyên
tắc phương pháp luận được rút ra từ việc nghiên cứu mối quan hệ giữa cái chung và cái
riêng để phân tích đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Họ tên SV/HV: Phạm Thùy Dung - Mã LHP: 241-MLNP0221-29 - Trang 3/6
1. Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng.
1.1. Khái niệm cái chung, cái riêng, cái đơn nhất
a. Cái riêng: Dùng để chỉ một sự việc, hiện tượng nhất định.
Ví dụ: Đất nước Việt Nam, con bò, hoa hồng,...
b. Cái chung: Chỉ những mặt, những thuộc tính không những có ở một sự vật hiện
tượng nào đó, mà còn lặp lại trong nhiều sự vật hiện tượng khác nữa.
Ví dụ: Các loại cây ăn quả như cam, quýt, đào,.. tuy là những loại cây khác nhau
đều có rễ, thân, lá, quả,... Những đặc điểm chung này được lặp lại trong các loại cây
riêng lẻ và đều được gọi bởi khái niệm "cây".
c. Cái đơn nhất: Dùng để chỉ các mặt, các đặc điểm chỉ tồn tại ở một sự vật, hiện
tượng và không lặp lại ở sự vật, hiện tượng khác.
Ví dụ: Dấu vân tay, cấu trúc gen, tính cách,...
1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng
- Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện
sự tồn tại của nó, nó không tồn tại biệt lập, tách rời cái riêng (tức là cái chung không
tách rời trong mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình riêng lẻ)
Ví dụ: Con cá trê hay con cá hồi đều phải có xương sống, mắt, vảy,... những đặc
điểm chung này được lặp lại trong các loài cá riêng lẻ và được phản ánh trong khái niệm "cá".
- Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung, không có cái riêng
tách rời khỏi cái chung.
Ví dụ: Nền kinh tế Việt Nam khác với nền kinh tế của các nước khác trên thế giới
nhưng mọi nền kinh tế kể cả Việt Nam đều phải chịu sự chi phối của các quy luật
chung như quan hệ cung cầu hay quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất,...
- Thứ ba, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú, đa dạng hơn cái chung; Còn cái
chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc, bản chất hơn cái riêng.
Ví dụ: Người nông dân Việt Nam, bên cạnh đặc điểm chung với nông dân các
nước trên thế giới là có đều sản xuất nông nghiệp, sống ở nông thôn hay ngoài vùng
ngoại ô…, nhưng nông dân Việt Nam cũng có những đặc điểm riêng là chịu ảnh
hưởng của văn hóa làng, xã hội, những phong tục cổ truyền của dân tộc, điều kiện tự
Họ tên SV/HV: Phạm Thùy Dung - Mã LHP: 241-MLNP0221-29 - Trang 4/6
nhiên của Việt Nam nên họ rất cần cù chịu thương chịu khó, thường sống theo làng,
bản hoặc coi con trâu cái cày như người bạn,...
- Thứ tư, cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa lẫn nhau trong những điều
kiện xác định. Cái chung chuyển hóa thành cái đơn nhất khi nó là cái đã cũ, lỗi
thời, lạc hậu và không còn phù hợp.
Ví dụ: Cơ chế xin – cho, bao cấp của nhà nước trong nền kinh tế kế hoạch hóa,
tập trung trước đây (cái chung đã dần bị xóa bỏ) không còn phù hợp với kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay (cơ chế thị trường).
- Cái đơn nhất chuyển hóa thành cái chung khi nó là cái tiến bộ, cách mạng và
ngày càng trở nên phù hợp với quy luật khách quan.
1.3. Ý nghĩa phương pháp luận
- Phải tìm cái chung trong cái riêng, phát hiện cái chung cần xuất phát từ những cái
riêng chứ không thẻ xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người. Tránh tuyệt đối
hóa cái chung và xa vời cái riêng.
- Vì cái riêng gắn bó chặt chẽ với cái chung, không tồn tại ở bên ngoài mối liên hệ
dẫn đến cái chung nên để giải quyết cái riêng cũng phải gắn với cái chung. Tránh
tuyệt đối hóa cái riêng, coi thường cái chung, tránh chủ nghĩa cá nhân cực đoan, tư
tưởng địa phương (theo phong tục cổ hủ, cục bộ).
- Vì cái đơn nhất có thể chuyển hóa thành cái chung và ngược lại nên cần phát
hiện, tạo điều kiện cho cái đơn nhất, cái mới cải tiến và tích cực phát triển, phổ biến
thành cái chung; đồng thời cần hạn chế, đấu tranh để loại bỏ những cái chung đã cũ,
lạc hậu và không còn phù hợp.
2. Vận dụng nguyên tắc phương pháp phân tích đường lối phát triển kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Nhìn về trước những năm 1986, nhà nước ta thực “kế hoạch hóa tập trung, quan
liêu, bao cấp. Tính tự chủ của các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất bị mất đi bởi cơ chế
quản lý tập trung từ trên xuống gây ra tình trạng suy thoái và lạm phát trầm trọng, nền kinh tế bị phụ thuộc.
Hiện giờ, Việt Nam đã định hướng đường lối phát triển kinh tế thị trường theo xã
hội chủ nghĩa. Việt Nam đã sử dụng nền kinh tế phổ biến của các nước trên thế giới là
“kinh tế thị trường” cho phép các doanh nghiệp tự do cạnh tranh dựa trên quy luật cung-
Họ tên SV/HV: Phạm Thùy Dung - Mã LHP: 241-MLNP0221-29 - Trang 5/6
cầu. Điều này giúp tăng năng suất lao động, cải tiến chất lượng sản phẩm, giảm giá
thành và khuyến khích tối ưu hóa sản xuất. Việt Nam đã mở cửa thông thương, cho phép
việc mở rộng trao đổi hàng hóa từ các nước bạn vào trong Việt Nam cũng nhằm khuyến
khích sự sáng tạo, đổi mới và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển. Các doanh nghiệp
trong nước cần thay đổi chiến lược sản xuất và kinh doanh để thích ứng với nhu cầu của
thị trường và công nghệ mới, từ đây phát triển nền kinh tế nội địa phát triển theo hướng
hội nhập quốc tế. Nền kinh tế Việt Nam chịu sự ảnh hưởng bởi các hiệp ước quốc tế,
quy luật kinh tế chung như ổn định giá thị trường, chống bán phá giá,. .
Tuy nhiên, Việt Nam với chủ trương “việc hòa nhập không được hòa tan” đã làm cho
định hướng nền kinh tế của Việt Nam có sự khác biệt, đặc trưng so với các nước bạn.
Tuy xây dựng nền kinh tế thị trường nhưng sẽ định hướng theo xã hội chủ nghĩa. Nhà
nước Việt Nam lấy “nhân dân làm cốt lõi” phát triển kinh tế để phục vụ đời sống nhân
dân, không vì mục tiêu phát triển kinh tế mà đi lại những điều nhân dân mong muốn là
“độc lập – tự chủ - hòa bình” cùng với “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh". Nền kinh tế vẫn chịu sự quản lý và kiểm soát của Nhà nước bởi lẽ mọi
sự vô hiệu hoá vai trò của Nhà nước trong kinh tế thị trường sẽ chỉ dẫn tới sự hỗn loạn
và bất ổn định về kinh tế - chính trị - xã hội và thực tế thế giới đã khẳng định điều đó ví
dụ như Campuchia, Hàn Quốc (bề nổi là nhà nước đứng đầu nhưng thực tế phía sau là
giới nhà giàu – Chaebol điều khiển),. .
Vậy tuy hội nhập và phát triển nhưng Việt Nam đã “chắt lọc” và phát triển dựa trên nền
văn hóa và bản sắc riêng biệt, điều này đã khiến Việt Nam ngày càng phát triển nhưng
vẫn giữ được bản sắc riêng, đất nước vẫn hòa bình độc lập, dân chủ bác ái! ---Hết---
Họ tên SV/HV: Phạm Thùy Dung - Mã LHP: 241-MLNP0221-29 - Trang 6/6