




Preview text:
BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Câu 1: Anh, chị hãy trình bày những thành tựu, ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước (từ năm 1986 đếnnay).
- Những thành tựu của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước (từ năm 1986 đến nay):
Sau năm 1986, quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của Đảng ta tiếp tục diễn ra từng bước
theo hướng vừa làm vừa thử nghiệm, sửa đổi, bổ sung, cải tiến trên cơ sở đúc rút những kinh
nghiệm của thực tiễn. Đảng ta từng bước xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế cũ, dần hình thành cơ chế
mới - cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong suốt 35 năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng. Đổi mới kinh
tế và chính trị từ năm 1986 đã thúc đẩy phát triển kinh tế, nhanh chóng đưa Việt Nam từ một
trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp. Nếu
như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm chỉ đạt
4,4%[1], thì giai đoạn 1991-1995 GDP bình quân đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm[2]; các giai
đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao; giai đoạn 2016-2019 đạt mức bình quân 6,8%[3].
Liên tiếp trong 4 năm, từ năm 2016 - 2019, Việt Nam đứng trong top 10 nước tăng trưởng cao
nhất thế giới, là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất [4]. Đặc biệt, trong năm 2020,
trongkhi phần lớn các nước có mức tăng trưởng âm hoặc đi vào trạng thái suy thoái do tác động
của dịch COVID-19, kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng dương 2,91%, góp phần làm cho GDP
trong 5 năm qua tăng trung bình 5,9 %/năm, thuộc nhóm nước có tốc độtăng trưởng cao nhất
trong khu vực và trên thế giới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên, nếu như năm 1989
mới đạt 6,3 tỷ USD/năm, thì đến năm 2020 đã đạt khoảng 268,4 tỷ USD/năm[5]. Đời sống nhân
dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt, năm 1985 bình quân thu nhập đầu người mới
đạt 159 USD/năm, thì đến năm 2020 đạt khoảng 2.750 USD/năm[6]. Các cân đối lớn của nền
kinh tế về tích luỹ -tiêu d ng, tiết kiệm - đầu tư, năng lượng, lương thực, lao động - việc làm,…
tiếp tục được bảo đảm, góp phần củng cố vững ch c nền tảng kinh tế vĩ mô. Từ 2002 đến 2018,
GDP đầu người tăng 2,7 lần, đạt trên 2.700 USD năm 2019, với hơn 45 triệu người thoát nghèo.
Tỉ lệ nghèo giảm mạnh từ hơn 70% xuống còn dưới 6% (3,2 USD/ngày theo sức mua ngang giá) [7].
Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2020 được xếp thứ 42/131 nước, đứng đầu
nhóm 29 quốc gia có c ng mức thu nhập[8]. Xếp hạng về phát triển bền vững của Việt Nam đã
tăng từ thứ 88 năm 2016 lên thứ 49 năm 2020 [9], cao hơn nhiều so với các nước có c ng trình độ phát triển kinh tế.
35 năm đổi mới cũng là một chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiềucấp độ, đa
dạng về hình thức, theo nguyên t c và chuẩn mực của thị trường toàn cầu của Việt Nam. Việt
Nam đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế.
Từ khi gia nhập WTO đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, toàn diện với
nhiều nước, trong đó có tất cả các nước P5 (Mỹ, Nga, Trung Quốc, Pháp, Anh) và hầu hết các
nước chủ chốt trong trong khu vực và trên thế giới; đã có trên 70 nước công nhận Việt Nam là
nền kinh tế thị trường. Các đối tác FTA mà Việt Nam tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu
lục với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới, trong đó có 15 nước thành
viên G20 và 9/10 đối tác kinh tế - thương mại lớn nhất của Việt Nam thuộc 3 trung tâm kinh tế
lớn nhất thế giớilà B c Mỹ, Tây Âu và Đông Á. Năm 2020 phê chuẩn và triển khai có hiệu quả
EVFTA; tham gia ký Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và ký FTA Việt Nam - Anh)…
Nhờ có nền tảng vững ch c, nền kinh tế Việt Nam đã thể hiện sức chống chịu đáng kể trong
những giai đoạn khủng hoảng, mới đây là đại dịch Covid-19. Y tế đạt nhiều tiến bộ lớn khi mức
sống ngày càng cải thiện. Tỉ suất tử vong ở trẻ sơ sinh giảm từ 32,6 năm 1993 xuống còn 16,7
năm 2020 (trên 1.000 trẻ sinh). Tuổi thọ trung bình tăng từ 70,5 năm 1990 lên 75,4 năm 2019,
cao nhất giữa các quốc gia trong khu vực có mức thu nhập tương đương. Chỉ số bao phủ chăm
sóc sức khỏe toàn dân là 73, cao hơn trung bình khu vực và trung bình thế giới. Theo báo cáo của
BHXH Việt Nam, tính đến hết tháng 7/2021, toàn quốc có khoảng 16 triệu người tham gia
BHXH (chiếm 32% lực lượng lao động). Trong đó có hơn 14,7 triệu người tham gia BHXH b t
buộc; gần 1,2 triệu người tham gia BHXH tự nguyện; hơn 13 triệu người tham gia Bảo hiểmthất
nghiệp; hơn 85 triệu người tham gia BHYT (đạt tỷ lệ bao phủ 87,1% dân số)[10].
Về triển vọng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô và đang trong xu hướng phục
hồi theo hình chữ V; là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới.
Giai đoạn 2021-2025, Việt Nam tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều sâu,
hoàn thiện mô hình tăng trưởng đồng bộ trên cả phương diện kinh tế - kỹ thuật, kinh tế - xã hội
và kinh tế - sinh thái, thúc đẩy phát triển trên nền tảng đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao
động, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy lợi
thế so sánh và chủ động hội nhập quốc tế.
Trong 35 năm đổi mới, các thành tựu xây dựng con người của nước ta còn được thể hiện qua chỉ
số HDI có xu hướng tăng đều và khá ổn định, cả về giá trị tuyệt đối cũng như thứ hạng. “Chỉ số
phát triển con người (HDI) năm 2019 của Việt Nam là 0,704. Với kết quả này Việt Nam đã lọt
vào danh sách các nước phát triển con người cao và được xếp thứ 117/189 quốc gia và v ng lãnh
thổ”[11]. Chỉ số phát triển con người vừathể hiện tính nhân văn, vừa là thước đo tổng hợp phản
ánh sự phát triển của con ngườitrên các phương diện: sức khỏe tri thức và thu nhập. HDI giúp tạo
ra một cái nhìn tổngquát về sự phát triển của một quốc gia, dựa vào năm tiêu chí: 1) con người là
trung tâm của sự phát triển; 2) người dân là mục tiêu của sự phát triển; 3) việc nâng cao vị thế
của người dân (bao gồm cả sự hưởng thụ và cống hiến); 4) chú trọng việc tạo lập sự bình đẳng
cho người dân về mọi mặt (thí dụ như tôn giáo, dân tộc, giới tính, quốc tịch,...); 5) tạo cơ hội để
lựa chọn tốt nhất cho người dân về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa...”[12].
Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo
nguyên t c và chuẩn mực của thị trường toàn cầu. Việt Nam đã gia nhập WTO, thiết lập được 30
đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện; có quan hệ ngoại giao, kinh tế với 190/200
quốc gia và v ng lãnh thổ. Đặc biệt, WTO c ng với hơn hơn 500 hiệp định song phương và đa
phương trên nhiều lĩnh vực mà Việt Nam tham gia, là những cánh cửa lớn, đa chiều để Việt Nam
định hướng hoàn thiện khung khổ thể chế phát triển kinh tế thị trường và tự tin hội nhập ngày
càng đầy đủ, hiệu quả hơn.Việt Nam cũng là thành viên chủ động, tích cực và có trách nhiệm cao
trong các tổ chức quốc tế. Việt Nam đã tham gia vào Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
(ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), các tổ chức của Liên hợp
quốc... đóng góp tích cực và đang trở thành nước có vị thế và vai trò ngày càng cao ở khu vực,
được cộng đồng quốc tế tôn trọng. Bên cạnh đó, Việt Nam đã được tín nhiệm bầu vào các cơ
quan quan trọng của Liên hợp quốc, như: Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016, Ủy ban Di
sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013-2017, Hội đồng Kinh tế - Xã hội của Liên hợp quốc
(ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018.
Đặc biệt, năm 2020, Việt Nam đã hoàn thành tốt c ng lúc cả ba trọng trách: Ủy viên không
thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA. điều này góp
phần nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Việc Đại hội đồng Liên hợp
quốc đã bỏ phiếu bầu 5 nước ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2020 -
2021, ngày 7/6/2020, tại trụ sở Liên hợp quốc tại New York (Mỹ), với số phiếu kỷ lục chưa từng
có (192/193 phiếu) trong 75 năm phát triển của Liên Hợp quốc đã tiếp tục khẳng định vị thế và
uy tín của Việt Nam. Có thể khẳng định, Việt Nam đã thực sự chủ động, tích cực tham gia hội
nhập quốc tế với một vị thế mới, b t kịp với xu thế của thời đại.
- Ý nghĩa lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước(từ năm 1986 đến nay):
Đảng ta từng bước xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế cũ, dần hình thành cơ chế mới - cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Những thành công to lớn
trong công cuộc đổi mới kinh tế đất nước sau gần 40 năm đã chứng minh định hướng, chủ trương
và phương thức đổi mới của Đảng là đúng đ n. Mặt khác, những thành công đó đã cho thấy khả
năng lãnh đạo đất nước xoay chuyển tình thế, kịp thời thích nghi với bối cảnh chính trị - kinh tế
mới của quốc tế nhưng vẫn giữ được những nguyên t c cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
-Kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước (từ năm 1986 đến nay):
Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra năm bài học kinh nghiệm lớn, cũng có thể được coilà năm
vấn đề lý luận căn cốt của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Đó là:
1- Triển khai toàn diện, đồng bộ, thường xuyên công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng
cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng;
2- Quán triệt sâu s c, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”, nhân dân là chủ thể, là
trung tâm của sự nghiệp đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc;
3- Có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, năng động, sáng tạo, tích
cực, có bước đi ph hợp trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổchức thực hiện chủ trương, đường lối;
4- Tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, phục vụ mục tiêu phát triển nhanh
và bền vững đất nước, trọng tâm là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
5- Chủ động nghiên cứu, n m b t, dự báo đúng tình hình, không để bị động, bất ngờ trước
mọi tình huống. Đặc biệt, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam thành công, trước
hết phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối
đổi mới của Đảng; kiênđịnh các nguyên t c xây dựng Đảng; như đồng chí Tổng Bí thư
Nguyễn PhúTrọng luôn nhấn mạnh: Đây là vấn đề mang tính nguyên t c hết sức quan
trọng, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động.
Câu 2. Phân tích nhân tố quyết định đưa đến th ng lợi của công cuộc đổi mới (1986 – nay). Từ
vấn đề lịch sử trên, bạn có thể rút ra bài học gì cho cuộc sống của bản thân?
-Nhân tố quyết định đưa đến th ng lợi của công cuộc đổi mới (1986 đến nay):
Thực tiễn đã chứng tỏ rằng, sự lãnh đạo đúng đ n của Đảng là nhân tố quyết định th ng lợi của sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Ở bất kỳ thời điểm và hoàn cảnh nào, nếu Đảng kiên định, vận dụng đúng đ n và phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, thì tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội vượt qua được những thử
thách cam go, giành được th ng lợi. Nếu Đảng rơi vào giáo điều, vận dụng máy móc chủ nghĩa
Mác - Lê-nin, thì tiến trình đó sẽ gặp không ít khó khăn,trở ngại, thậm chí thụt l i, thất bại. Sự
sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xôvà các nước Đông Âu là tổn thất to lớn đối với
phong trào cách mạng thế giới; song, cần hiểu đúng rằng, đó chỉ là sự sụp đổ của mô hình chủ
nghĩa xã hội kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, xa dân, xa rời những nguyên lý căn bản
của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; xa rời các nguyên t c và phương thức lãnh đạo của một đảng cách
mạngchân chính; thiếu sự thích ứng với những thay đổi thường xuyên của thực tiễn. Đó cònlà hệ
quả của những sai lầm về đường lối phát triển kinh tế - xã hội; sai lầm nghiêm trọng về đường lối
chính trị, nhất là sự buông lỏng công tác chính trị - tư tưởng, công tác cán bộ của các đảng cộng
sản cầm quyền trong quá trình cải tổ ở các nước này.
Càng đi sâu vào tiến trình đổi mới, càng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, Đảngta càng ý
thức được tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, đủ
năng lực để hoàn thành xuất s c sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp xâydựng, phát triển đất nước và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà nhân dân giao phó. Cụ thể là: Tăng cường xây dựng
Đảng về chính trị; coi trọng xây dựng Đảngvề tư tưởng, lý luận; tập trung xây dựng Đảng về đạo
đức; đẩy mạnh xây dựng Đảng về tổ chức, trọng tâm là đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy và
nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; củng cố, nâng cao chất lượng tổ
chức cơ sở đảngvà đội ngũ đảng viên; tăng cường xây dựng Đảng về đội ngũ cán bộ các cấp,
nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám
sát, kỷ luật đảng; thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân
dân để xây dựng Đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu
cực; đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới.
Từ thực tiễn qua hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới và hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội , Đảng Cộng sản Việt Nam đã hình
thành, từng bước hoàn thiện và hiện thực hóa lý luận về đường lối đổi mới Việt Nam, thể hiện
tầm nhìn, mục tiêu và các định hướng phát triển đất nước, đúc kết những bài học kinh nghiệm,
những quan điểm chỉ đạo, những mối quan hệ lớn ph hợp với quy luật khách quan, để tiếp tục
bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam trong giai đoạn mới.
-Từ vấn đề lịch sử trên, em có thể rút ra bài học cho cuộc sống của bản thân là:
Kiên định, tầm nhìn, chờ đợi thời cơ, kiên nhẫn, thật tâm, biết cố gắng.
Phải có cái nhìn bao quát tổng thể, nhận thức rõ ràng về vấn đề đang xảy ra và kiên định và ý chí
sự lựa chọn mà bản thân mình tin tưởng đó là bài học đầu tiên em nhận thấy từ những vấn đề lịch sử trên.