Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ II NĂM HỌC 2020 – 2021
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Triết học Mác - Lênin
Số báo danh: 47 - 20D220094
Mã số đề thi: Đề số 26
Lớp: K56T2 - 2102MLNP0221
Ngày thi: 31/05/2021 Số trang: 06
Họ và tên: Dương Thị Liên Điểm kết luận: 7GV chấm thi 1: GV chấm thi 2:
ĐỀ BÀI: MÃ ĐỀ SỐ 26 Câu 1 (5 điểm):
Trình bày vai trò của nhận thức lý luận và nhận thức khoa học. Vận dụng lý luận này
đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn. Câu 2 (5 điểm):
Từ việc nghiên cứu học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác, anh/chị hãy chứng
minh vai trò quan trọng của khoa học công nghệ trong lực lượng sản xuất. Liên hệ
với chủ trương coi khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu để thúc đẩy sự phát
triển của lực lượng sản xuất. Dương Thị Liên PAGE \* MERGEFORMAT 1 K56T2 BÀI LÀM CÂU 1: 1)
Nhận thức lý luận (lý luận): Khái niệm:
Nhận thức lý luận là nhận thức sự vật, hiện tượng một cách gián tiếp dựa trên các
hình thức tư duy trừu tượng như khái niệm, phán đoán, suy luận để khái quát tính bản
chất, quy luật, tính tất yếu của sự vật, hiện tượng. Vai trò:
♣ Nhận thức lý luận đóng vai trò rất lớn trong việc tác động trở lại thực tiễn, góp
phần làm biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con người. Lý luận chỉ dẫn cho
hành động, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn. Lênin khẳng định: “Chỉ đảng nào
được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”.
♣ Nhận thức lý luận mang sức mạnh vật chất có thể dự kiến được sự vận động của
vật chất trong tương lai, chỉ ra phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn. Lý
luận làm cho hoạt động của con người trở nên chủ động, tự giác, hạn chế tình trạng
mò mẫm, tự phát. Nên, Hồ Chí Minh ví “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ
phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế”.
♣ Nhiệm vụ của nhận thức lý luận là đem quy sự vận động bề ngoài chỉ biểu hiện
trong hiện tượng, về sự vận động bên trong thực sự. Bởi nó mang tính trừu tượng và
khái quát cao nên đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật của các sự
vật, hiện tượng khách quan. Vì vậy, lý luận có tính chân lý, bản chất sâu sắc.
♣ Do có tính chân lý sâu sắc, nhận thức lý luận có vai trò dẫn dắt hình thành
những tri thức kinh nghiệm có giá trị, lựa chọn những kinh nghiệm hợp lý để phục vụ
cho hoạt động thực tiễn, góp phần làm biến đổi đời sống của con người. Vận dụng:
Nhận thức lý luận có thể hiểu đơn giản thông qua quá trình bạn muốn tiến tới hôn
nhân, tìm kiếm và lựa chọn người bạn đời của mình. Bạn sẽ tìm hiểu họ một cách
gián tiếp (tốt/xấu, nên/không nên) thông qua những tư duy trừu tượng của mình bao
gồm sự suy luận, quan điểm và phán đoán của cá nhân tích lũy. Việc đó, góp phần
soi sáng cho những quyết định của bạn một cách thông suốt và chính xác, không nhất Dương Thị Liên PAGE \* MERGEFORMAT 1 K56T2
thời và tự phát. Đồng thời việc hình thành nên quá trình nhận thức, tìm hiểu có vai
trò dẫn dắt những tri thức kinh nghiệm thiếu sót của bạn, từ đó nâng cao khả năng
lựa chọn hợp lý để phục vụ cho hoạt động, vấn đề bạn đang cần giải quyết... 2)
Nhận thức khoa học: Khái niệm:
♣ Nhận thức khoa học là quá trình phản ánh tự giác, tích cực, sáng tạo hiện tượng
khách quan của con người thông qua hoạt động thực tiễn; nhằm đạt tới hoạt động tri
thức đúng đắn về tự nhiên, xã hội và các lĩnh vực cụ thể khác, nâng cao khả năng tư
duy và hiệu quả hoạt động thực tiễn. Nhận thức khoa học hướng tới nắm bắt cái quy
luật, cái bản chất của hiện thực. Vai trò:
♣ Nhận thức khoa học có vai trò ngày càng to lớn trong hoạt động thực tiễn (đặc biệt
khoa học và công nghệ). Vì nó có tính khách quan, trừu tượng khái quát, lại có tính
hệ thống, tính căn cứ và tính chân thực. Nó vận dụng một hệ thống các phương tiện
và phương pháp nghiên cứu chuyên môn để diễn tả sâu sắc bản chất và quy luật của đối tượng nghiên cứu.
♣ Nhận thức khoa học có tác động trở lại nhận thức thông thường (hình thành tự
phát, trực tiếp chi phối hoạt động hàng ngày của con người), xâm nhập và làm phát
triển nhận thức thông thường, tăng cường nội dung khoa học cho quá trình nhận thức
thế giới của con người. Trang bị cho tư duy con người hệ thống khoa học để phát
triển tư duy qua một hệ thống các thao tác nhất định trong đầu óc của các nhà khoa
học (hoặc những người đang sử dụng các tri thức khoa học và vận dụng đúng đắn
những yêu cầu của tư duy khoa học).
♣ Nhận thức khoa học là một trong các nhân tố cơ bản quyết định việc hoàn thiện
bản chất nhân cách của con người. Đây là cơ sở trực tiếp xây dựng và củng cố bản
lĩnh cũng như đạo đức con người - những thành tố hàng đầu của phẩm chất, nhân
cách giúp con người nâng cao trình độ nhận thức. Vận dụng:
Vận dụng vai trò lý luận khoa học vào hoạt động nhận thức và thực tiễn trong lĩnh
vực quân sự. Một, nhận thức có vai trò to lớn đối với phát triển tư duy quân sự của sĩ
quan. Giúp trang bị các hệ thống nguyên tắc khoa học để phát triển tư duy quân sự Dương Thị Liên PAGE \* MERGEFORMAT 1 K56T2
như nguyên tắc khách quan, toàn diện; nguyên tắc thực tiễn... Hai, nhận thức góp
phần quyết định việc hoàn thiện phẩm chất nhân cách của sĩ quan. Đó là điều kiện
không thể thiếu để các sĩ quan rèn luyện quán triệt đầy đủ, sâu sắc chức trách, nhiệm
vụ và hoàn thiện tri thức chuyên môn nghiệp vụ. Ba, nhận thức là cơ sở nâng cao
chất lượng và hiệu quả trong hoạt động thực tiễn quân sự của sĩ quan (xây dựng tổ
chức phân đội, công tác đảng, công tác chính trị,...) CÂU 2: I.
Khoa học - công nghệ đóng vai trò quan trọng trong lực lượng sản xuất:
► Học thuyết hình thái - kinh tế xã hội được khẳng định đã tạo ra một bước ngoặt
cách mạng trong lịch sử phát triển của các khoa học nghiên cứu về xã hội loài người.
Trong đó, lực lượng sản xuất chính là yếu tố động đóng vai trò quyết định. Chính là
thước đo năng lực thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên nhằm đảm
bảo sự tồn tại và phát triển xã hội, làm thay đổi mối quan hệ giữa người với người và
các mối quan hệ xã hội.
► Theo ý nghĩa phương pháp luận, “muốn phát triển kinh tế phải bắt đầu từ phát
triển lực lượng sản xuất (lực lượng lao động và công cụ lao động)” song C.Mác cũng
không phủ nhận vai trò của khoa học - một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy
sự phát triển của lực lượng sản xuất. Vì sao lại có ý kiến như vậy?
Chứng minh vấn đề:
► Thứ nhất, với công cuộc cách mạng 4.0 chiếm xu thế, khoa học - công nghệ ngày
càng hiện đại và là yếu tố không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi
quốc gia. Khoa học và công nghệ có tác động mạnh mẽ đến công cụ lao động, đối
tượng lao động đã tạo ra bước nhảy vọt của các yếu tố trong tư liệu sản xuất.
Nếu như ta đã quen với hình ảnh “người nông dân dắt trâu đi cày” với năng suất
công việc thấp và chất lượng, hiệu quả sản phẩm không đồng đều. Càng có thể nhấn
mạnh, sản xuất phải gắn liền với những tri thức khoa học. Phải không ngừng thay thế
dần các trang thiết bị kỹ thuật, các quy trình, hệ thống công nghệ cho năng suất thấp,
tiêu hao nhiều nguyên, nhiên vật liệu, thải bỏ các chất gây ô nhiễm môi trường bằng
những thiết bị, hệ thống công nghệ cao mang nhiều hàm lượng tri thức đồng thời cho
năng suất chất lượng cao ( ví dụ như máy cày, máy bay phun nước tự động...). Dương Thị Liên PAGE \* MERGEFORMAT 1 K56T2
=> Từ đó khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Như C.Mác
khẳng định: “Vận dụng khoa học vào nền sản xuất trực tiếp tự nó trở thành một
trong những yếu tố có tính chất quyết định và kích thích”.
► Thứ hai, khoa học công nghệ không chỉ gắn liền với sản xuất mà còn đóng vai trò
là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Việc sản xuất thiếu đi sự phát
minh khoa học tiên tiến, dẫn đến sự đình trệ và nền kinh tế đất nước mãi dậm chân
tại chỗ khi hàng loạt quốc gia phát triển trên thế giới đi theo nền kinh tế CNH-HĐH.
Ví dụ điển hình, Việt Nam đã từ một nước nông nghiệp thủ công, lạc hậu đã biết
cách vươn mình trải qua 4 lần thay đổi cách mạng khoa học áp dụng vào trong sản
xuất. Việt Nam đã trở thành một nước công nghiệp phát triển và khẳng định vị thế
của mình trên công cuộc đổi mới toàn cầu (phát minh công nghệ tế bào, công nghệ vi
sinh, công nghệ gen của công nghệ sinh học là những công cụ hữu hiệu giúp con
người tạo ra những giống cây trồng, vật nuôi mới có ưu điểm,….).
► Thứ ba, song song với sự phát triển của tư liệu sản xuất, khoa học - công nghệ
còn thâm nhập sâu rộng, tác động mãnh liệt tới người lao động - yếu tố hàng đầu của
lực lượng sản xuất. Ngày nay, người lao động không còn là nhân tố thao tác trực tiếp
trong hệ thống sản xuất mà chủ yếu vận dụng tri thức khoa học để điều khiển quá trình sản xuất.
Cùng với những kỹ năng, kinh nghiệm, thói quen,...con người còn cần đi đôi với
tri thức, hiểu biết. Chính vậy, khoa học-công nghệ đã trở thành công cụ, phương tiện
cần được nắm bắt rõ trong hoạt động sản xuất. Chính họ sẽ quyết định sử dụng
những loại tri thức khoa học nào vào sản xuất cũng như sử dụng như thế nào để sản
xuất có hiệu quả (ví dụ áp dụng KHKT trong nuôi trồng bằng mô hình nhà kính…)
Cách mạng khoa học - công nghệ sẽ ngày càng phát triển và tiếp tục phát triển với
ba lĩnh vực đột phá là cách mạng lượng tử, cách mạng thông tin và cách mạng sinh
học. Đó là sự cải tổ căn bản trong sự phát triển của lực lượng sản xuất mà những nét
chủ yếu của nó là biến khoa học thành lực lượng chủ đạo của sản xuất.
=> Như vậy, theo C.Mác, khoa học - công nghệ không phải là một lực lượng sản
xuất độc lập, tách biệt con người, mà khoa học có thể tạo ra những biến đổi trong quá
trình sản xuất thông qua hoạt động của con người. Khoa học đã được thẩm thấu vào
tất cả các khâu của quá trình sản xuất, góp phần cải tiến công cụ lao động, tạo ra Dương Thị Liên PAGE \* MERGEFORMAT 1 K56T2
những đối tượng lao động mới, những phương tiện sản xuất tiên tiến, giúp nâng cao
kỹ năng, tay nghề, trình độ cho người lao động. Do vậy, thời đại ngày nay, khoa học
đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại. II.
Ứng dụng khoa học công nghệ vào liên hệ thực tiễn:
① Trong quá trình hội nhập và toàn cầu hoá với các cuộc cách mạng công nghiệp đã
tạo ra vô vàn những thách thức lớn nhỏ. Để thúc đẩy nhanh sự phát triển, bước đi
chắc chắn nhất là đầu tư vào việc đổi mới, sáng tạo khoa học-công nghệ cần thiết.
Khoa học-công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế-xã hội.
② Song cũng là nội dung then chốt trong mọi hoạt động của tất cả các ngành, các
cấp, là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tǎng trưởng kinh tế và củng cố an ninh quốc phòng;
phát triển khoa học-công nghệ gắn liền với bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái,
bảo đảm phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững. Liên hệ:
Làn sóng cách mạng khoa học-công nghệ ngày càng xâm nhập vào quá trình đổi mới
đất nước sâu rộng ở Việt Nam. Thúc đẩy lực lượng sản xuất ở mọi phương diện từ
khâu sản xuất, phân phối, lưu thông đến tiêu dùng. Cụ thể có kể nhắc đến:
① Về đối tượng lao động:
Ở thời điểm hiện nay tài nguyên thiên nhiên không còn là đối tượng lao động chính của Việt
Nam.Việc ứng dụng thành tựu nổi bật khoa học công nghệ vào các lĩnh vực nông-lâm-ngư
nghiệp đã mang lại những lợi ích lớn đối với các nhà khoa học và cả nông dân. Không
những phát minh sự tiên tiến cho đất nước mà còn giải phóng sức lao động cho người dân.
Một số công nghệ rất hiện đại của sinh học phân tử, như công nghệ tế bào, công nghệ tái tổ
hợp gen, v.v. cũng đã bắt đầu nghiên cứu và ứng dụng. Trong y học, chúng ta đã tiếp cận
những phương pháp chữa bệnh mới của thế giới; từng bước hiện đại hóa, nâng cao chất
lượng chẩn đoán, điều trị, ứng dụng khoa học công nghệ mới.
② Về công cụ lao động:
Trong công nghiệp, Việt Nam không phủ nhận sự thành công quan trọng của cách
mạng khoa học mà ngày dần cải tiến thiết bị trở lên hiện đại và phát triển hơn. Nhiều
ngành sản xuất dịch vụ chủ yếu sử dụng công nghệ tân tiến, trình độ công nghệ được
nâng cao. Nhiều thiết bị, dây chuyền sản xuất, chủng loại vật liệu mới phục vụ phát
triển ngành cơ khí chế tạo, năng lượng, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp,…Nhiều
lĩnh vực máy móc, thiết bị đã thay thế vai trò con người ở những lĩnh vực đòi hỏi độ Dương Thị Liên PAGE \* MERGEFORMAT 1 K56T2
chính xác cao, trong những công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại được gọi là Trí
Tuệ Nhân Tạo. Dương Thị Liên PAGE \* MERGEFORMAT 1 K56T2