





Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ II NĂM HỌC 2020 – 2021
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: …Triết học Mác- Lênin…… Số báo danh: Mã số đề thi: 04 Lớp:
Ngày thi: …26/05/2021……………….…… Họ và tên: Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………...... Đề bài
Câu 1: Anh/chị hãy trình bày nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật từ những
thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại. Vận dụng quy luật này vào
trong quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên.
Câu 2: Từ tính độc lập tương đối của ý thức xã hội, anh/chị hãy chứng minh đường lối đổi
mới đúng đắn là điều kiện tiên quyết để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. H ọ.t.ê ...n .. .S ...V .../ .. H ....V
...:. ..................Mã LHP: Page 0/5 Bài làm
Câu 1: Em xin trình bày vấn đề này như sau:
Phần I: Những vấn đề lý luận của quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay
đổi về chất và ngược lại:
Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại chỉ ra cách
thức chung nhất của sự vận động và phát triển, theo đó sự phát triển được tiến hành theo cách
thức thay đổi lượng đạt đến ngưỡng nhất định dẫn đến chuyển hóa về chất của sự vật và đưa
sự vật sang một trạng thái phát triển tiếp theo. Ph.Ăng-ghen đã khái quát quy luật này :
“Những thay đổi đơn thuần về lượng, đến một mức độ nhất định, sẽ chuyển hóa thành những
sự khác nhau về chất”— Ph.Ăng-ghen.
1, Khái niệm lượng, chất:
+Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật, biểu thị số
lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu và sự vận động phát triển của sự vật cũng như các thuộc tính của nó.
+Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự
vật, hiện tượng được biểu hiện thông qua sự thống nhất hữu cơ giữa các thuộc tính và các yếu
tố cấu thành sự vật, hiện tượng để làm cho sự vật, hiện tượng là nó mà không phải những thứ khác.
2, Mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất:
– Chất và lượng là hai mặt đối lập: chất tương đối ổn định còn lượng thường xuyên
biến đổi. Song, hai mặt đó không tách rời mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng. Sự
thống nhất giữa chất và lượng ở trong một độ nhất định khi sự vật đang tồn tại.
+Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, là khoảng
giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật.
Điểm giới hạn là khi lượng đạt tới sẽ làm thay đổi về chất của sự vật thì gọi là điểm nút.
+Điểm nút: Sự thay đổi về chất qua điểm nút được gọi là bước nhảy. Đó là bước ngoặt
căn bản kết thúc một giai đoạn trong sự biến đổi về lượng, là sự gián đoạn trong quá trình
biến đổi liên tục của các sự vật. Do vậy có thể nói phát triển là sự “đứt đoạn” trong liên tục, là
trạng thái liên hợp của các điểm nút. H ọ.t.ê ...n .. .S ...V .../ .. H ....V
...:. ..................Mã LHP: Page 1/5
Nói ngắn gọn hơn, bất cứ sự vật nào trong quá trình phát triển đều là quá trình biến đổi
về lượng dẫn đến biến đổi về chất .Lượng biến đổi dần dần và liên tục và khi đạt đến điểm
nút sẽ dẫn đến bước nhảy về chất. Tác động ngược
Đổi lại khi sự vật mới được hình thành thì từ chất mới thì sẽ có một lượng mới phù hợp, từ đó
tạo nên sự thống nhất mới giữa lượng và chất, sự tác động này được hiểu thông qua quy mô,
nhịp điệu phát triển mới của lượng.
3, Ý nghĩa phương pháp luận: Ý nghĩa trong nhận thức
+ Nhờ có phương pháp luận lượng chất mà chúng ta hiểu rằng bất cứ sự vật, hiện tượng nào
cũng đều vận động và phát triển.
+ Sự vật, hiện tượng nào cũng đều tồn tại hai mặt: Lượng và Chất. Do đó khi nhận thức,
chúng ta cần nhận thức về cả hai mặt lượng và chất để có có cái nhìn phong phú hơn về
những sự vật, hiện tượng tồn tại xung quanh chúng ta.
+ Cần phải làm rõ quy luật phát triển của sự vật, hiện tượng bằng cách xác định giới hạn độ, điểm nút, bước nhảy. Ý nghĩa trong thực tiễn
+ Muốn có sự biến đổi về chất thì cần kiên trì để biến đổi về lượng (bao gồm độ và điểm nút);
+ Cần tránh hai khuynh hướng sau:
Thứ nhất, nôn nóng tả khuynh: Đây là việc mà một cá nhân không kiên trì và nỗ lực để
có sự thay đổi về lượng nhưng lại muốn có sự thay đổi về chất;
Thứ hai, bảo thủ hữu khuynh: Lượng đã được tích lũy đến mức điểm nút nhưng không
muốn thực hiện bước nhảy để có sự thay đổi về chất.
+ Nếu không muốn có sự thay đổi về chất thì cần biết cách kiểm soát lượng trong giới hạn độ.
+ Bước nhảy là một giai đoạn hết sức đa dạng nên việc thực hiện bước nhảy phải được thực
hiện một cách cẩn thận.
Phần 2 : Vận dụng quy luật lượng – chất vào quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên:
Việc nhận thức đúng đắn quy luật lượng – chất trong quá trình học tập, rèn luyện của
sinh viên Thương Mại nói riêng và của học sinh, sinh viên cả nước nói chung có ý nghĩa vô
cùng to lớn. Cụ thể với cá nhân tôi- một sinh viên khóa K56 của Đại học Thương Mại: H ọ.t.ê ...n .. .S ...V .../ .. H ....V
...:. ..................Mã LHP: Page 2/5
Trong chất sinh viên Đại học Thương Mại kéo dài từ năm 2020 đến năm 2024, khi đó
lượng không ngừng được tăng lên, đó chính là kiến thức. Cũng như học sinh phổ thông, sinh
viên Đại học muốn có được tấm bằng Đại học phải tích lũy đủ số tín chỉ học phần. Tuy nhiên
việc tích lũy kiến thức ở Đại học có nhiều khác biệt, đó là sinh viên không thể thụ động tiếp
thu kiến thức mà còn phải tự tìm tòi, nghiên cứu từ những kiến thức mới qua những chỉ dẫn
của giảng viên. Nó không chỉ bao gồm những kiến thức cơ bản trong giáo trình mà kiến thức
còn đến từ việc trải nghiệm các tình huống ngoài xã hội. Kiến thức còn vô cùng phong phú từ
đa dạng đến chuyên sâu, từ cơ bản đến nâng cao, từ ít đến nhiều. Do vậy, trình độ, kết cấu
cũng như quy mô nhận thức của sinh viên cũng được thay đổi, tầm tri thức của sinh viên được
nâng cao và cải thiện hơn qua từng giai đoạn. Tuy nhiên qúa trình đó chưa đủ để làm thay đổi
về chất. Chất của sinh viên Thương Mại chỉ có thể được thay đổi khi lượng kiến thức của sinh
viên đó đủ để vượt qua các điểm nút tức là những kì thi, các kì kiểm tra. Trong đó điểm nút
quan trọng nhất là sau khi viết luận văn, luận án, đến ngày nhận bằng tốt nghiệp. Đó chính là
điểm nút lớn nhất đánh dấu “bước nhảy” từ một sinh viên Thương Mại trở thành một cử nhân
Thương Mại. Điều đó chứng minh rằng lượng (kiến thức) được tích lũy qua 4 năm học đã đủ
để làm chất sinh viên Thương Mại thay đổi. Ngoài ra, là một sinh viên Thương Mại, ta phải
tự trang bị cho mình tính tích cực, tự chủ, nghiêm túc, trung thực. Trong một kì thi, nếu gian
lận để một kết quả tốt thì dù ta có thể qua được kì thi, nhưng về bản chất thì vẫn chưa có được
biến đổi nào về chất, khi học những kiến thức sâu hơn, khó hơn chắc chắn ta sẽ không tiếp
thu được. Và vì thế dù có trải qua 4 năm đào tạo hệ đại học với tấm bằng loại Giỏi hay Xuất
sắc thì ta vẫn không đáp ứng được yêu cầu công việc sau này.
Bên cạnh đó, sau khi thay đổi chất mới cũng tác động ngược lại đến lượng. Đó là khi
trở thành cử nhân Thương Mại việc tiếp thu kiến thức chuyên ngành hay kĩ năng xử lý các
tình huống và khả năng giao tiếp, ứng xử cũng trở nên tốt hơn khi còn là sinh viên. Điều này
thúc đẩy cử nhân Thương Mại tiếp tục tiếp thu những tri thức mới ở cấp độ cao hơn để hoàn thiện bản thân.
Câu 2: Em xin trình bày vấn đề như sau:
Phần 1: Nội dung tính độc lập tương đối của ý thức xã hội :
Từ những quan điểm của C.Mác. Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, chúng ta có thể hiểu khái
niệm ý thức xã hội là thuộc lĩnh vực tinh thần của xã hội, bao gồm những quan điểm, tư
tưởng, học thuyết, lý thuyết và những tình cảm, tâm trạng, truyền thống, tập quán, ...phản ánh H ọ.t.ê ...n .. .S ...V .../ .. H ....V
...:. ..................Mã LHP: Page 3/5
tồn tại xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định và có tính độc lập tương đối với tồn tại xã hội.
Do đó, tính độc lập tương đối của ý thức xã hội có nghĩa là : ý thức xã hội do tồn tại xã
hội quyết định, nhưng ngay trong quá trình phản ánh ấy cũng như sau khi ra đời, ý thức xã
hội có đời sống riêng, có quy luật vận động, phát triển riêng của nó.Tính độc lập tương đối
biểu hiện ở những điểm sau đây:
a,Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội:
-Một là, ý thức xã hội chỉ là cái phản ánh của tồn tại xã hội nên luôn biến đổi sau khi
tồn tại xã hội đã biến đổi.
-Hai là, ý thức xã hội thường tồn tại lâu dài, chậm thay đổi do thói quen, truyền thống
và do tính bảo thủ của một số hình thái ý thức xã hội.
-Ba là, ý thức xã hội luôn gắn với lợi ích của giai cấp, tập đoàn người trong xã hội. Vì
vậy, những tư tưởng cũ lạc hậu, thường được các lực lượng xã hội phản tiến bộ lưu giữ và
truyền bá nhằm chống lại các lực lượng xã hội tiến bộ, bảo vệ lợi ích của họ.
b, Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội:
- Ý thức xã hội tiến bộ cách mạng có khả năng vượt trước tồn tại xã hội
- Ý thức xã hội có thể dự báo tương lai, dự kiến khả năng sẽ tới và sẽ có tác dụng chỉ đạo hoạt
động thực tiễn của con người.
c,Tính kế thừa trong sự phát triển của ý thức xã hội:
- Ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, trong quá trình phản ánh ý thức xã hội luôn có tính kế
thừa các giá trị của nhân loại để lại.
d,Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của chúng:
Ý thức xã hội được thể hiện dưới nhiều hình thái cụ thể như: chính trị, pháp quyền,
đạo đức, triết học, nghệ thuật, tôn giáo, khoa học. Sự tác động của ý thức xã hội tới tồn tại xã
hội biểu hiện qua hai chiều hướng. Nếu ý thức xã hội tiến bộ thì tác động thúc đẩy tồn tại xã
hội phát triển,ngược lại nếu ý thức xã hội lạc hậu sẽ cản trở sự phát triển của tồn tại xã hội.
Như vậy, nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử về tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
chỉ ra bức tranh phức tạp của lịch sử phát triển ý thức xã hội, nó bác bỏ quan điểm siêu hình,
máy móc, tầm thường về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
Phần 2: Từ tính độc lập tương đối của ý thức xã hội, chứng minh đường lối đổi mới đúng đắn
là điều kiện tiên quyết để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội : H ọ.t.ê ...n .. .S ...V .../ .. H ....V
...:. ..................Mã LHP: Page 4/5
Việc đề ra đường lối đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, nhờ đó tác động trở lại tồn
tại xã hội theo hướng tích cực là thành tựu quan trọng nhất thể hiện việc vận dụng đúng đắn
tính độc lập tương đối của ý thức xã hội.
Từ ngày có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí
Minh kính mến, dân tộc ta đã giành được những thắng lợi vô cùng vĩ đại, một trong số đó là
cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thống nhất đất nước, cả nước quá độ lên chủ nghĩa
xã hội. Đó chính là kết quả của công cuộc đổi mới mang tính cách mạng đưa đất nước thoát
khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội và bước vào một thời kỳ mới. Thắng lợi vĩ đại ấy chính là
thắng lợi của sự kế thừa và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể của nước ta, của sự kết hợp và vận dụng sáng tạo sự tác động lẫn nhau của các hình
thái ý thức xã hội, mà trong đó cốt lõi nhất là thế giới quan. Phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin kết hợp với những giá trị tốt đẹp của 4000 năm lịch sử đã tập hợp, phát huy được
sức mạnh toàn dân, viết nên những trang sử vàng của đất nước. Công cuộc đổi mới do Đảng
ta đề xướng và lãnh đạo đã và đang đạt được những thành tựu quan trọng, càng khẳng định
một sự thật rằng: chỉ có nhận thức và vận đụng dúng đắn tính độc lập tương đối của ý thức xã
hội mới góp phần đánh giá đúng đắn quá khứ, hiện tại, tương lai cũng như những nguồn lực
mạnh mẽ về vật chất và tinh thần của đất nước, nhờ đó mà tập hợp, tổ chức, lãnh đạo cả dân
tộc đi đến thắng lợi.
Bên cạnh những thành tựu vĩ đại, cũng có những giai đoạn mà cách mạng nước ta gặp
phải khó khăn, gian khổ khiến đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế- xã hội. Một trong
những nguyên nhân của những khó khăn ấy là sai lầm, khuyết điểm của sự bảo thủ, trì trệ và
chủ quan. Nếu xem xét sâu xa hơn dưới góc độ triết học thì đó là những sai lầm của xu
hướng không nhận thức và vận dụng đúng đắn tính độc lập tương đối của ý thức xã hội.
Chính sai lầm của xu hướng này đã gây nên những hậu quả rất nặng nề đối với sự phát triển của đất nước.
Như vậy, cả thắng lợi và khó khăn, cả những sai lầm khuyết điểm trong cách mạng
nước ta đều liên quan ở các mức độ khác nhau tới việc nhận thức và vận dụng tính độc lập
tương đối của ý thức xã hội. Bởi thế, viêc vận dụng đúng đắn tính độc lập tương đối của ý
thức xã hội vào quá trình đổi mới tư duy là một đòi hỏi cấp bách, có như vậy ý thức xã hội
mới có thể phát triển và tác động trở lại tồn tại xã hội theo chiều hướng tiến bộ xã hội. ---Hết--- H ọ.t.ê ...n .. .S ...V .../ .. H ....V
...:. ..................Mã LHP: Page 5/5