






Preview text:
BÀI THU HOẠCH CẢM TÌNH ĐẢNG
Câu 1: Nhận thức ủa bản thân về ĐCS
Trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, Đảng cộng sản luôn giữ vai trò lãnh
đạo với bản chất là đội tiên phong của giai cấp công nhân. Đảng cộng sản luôn trung
thành với mục tiêu, lợi ích lâu dài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Bên
cạnh đó Đảng Cộng sản có phương pháp luận đúng đắn trong nhận thức và hoạt động
của mình đó chính là học thuyết Mác-lênin. Chính những thế này đã quyết định vai trò
của Đảng Cộng Sản trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Ở Việt Nam, Đảng
Cộng sản Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam nắm vai trò lãnh đạo đất nước. Nhắc
đến Đảng là nhắc đến truyền thống đấu tranh hào hùng của dân tộc, là nhắc đến hành
trình 93 năm đi từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập, tự do dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Thứ nhất, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh
dân tộc và đấu tranh giai cấp quyết liệt của nhân dân VN trong mấy thập kỉ đầu của thế
kỉ XX. Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác
Lenin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam trong thời đại mới.
- Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động, là đại biểu trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân
lao động và của cả dân tộc. Đảng ra đời đã giải quyết được hai vấn đề cơ bản của cách
mạng Việt Nam: Sự khủng hoảng về giai cấp lãnh đạo: từ đây cách mạng Việt Nam
thuộc quyền lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp vô sản với đội tiên phong là Đảng Cộng
sản Việt Nam; sự khủng hoảng về đường lối: từ đây cách mạng Việt Nam đi theo con
đường cách mạng vô sản.
- Thứ ba, Đảng ra đời là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có ý nghĩa quyết định cho
những bước phát triển tiếp theo của lịch sử dân tộc Việt Nam. Đó là nhân tố hàng đầu
đảm bảo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân
ta đã làm nên thắng lợi CMT8/1945, tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-
1954), kháng chiến chống Mĩ(1954-1975) thắng lợi…
Một là, ngay khi mới ra đời, Đảng ta đã lãnh đạo cuộc đấu tranh dân tộc và đấu
tranh giai cấp, từng bước tạo thế, lực, thời cơ và chớp thời cơ “ngàn năm có một”, làm
nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà - Nhà nước của dân, do dân, vì dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á, xoá bỏ
chế độ thực dân, nửa phong kiến, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, 9 năm sau đó, dân tộc Việt Nam
làm nên Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Pháp phải ký
vào Hiệp định Giơnevơ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
của Việt Nam và các nước trên bán đảo Đông Dương.
Hai là, tự hào và đặt trọn niềm tin vào Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, dưới sự
lãnh đạo của Đảng, cả dân tộc Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu
nước với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 sẽ
mãi ghi vào lịch sử là ngày đại thắng của dân tộc. Đó là một chiến thắng lịch sử và
chứng tỏ sức mạnh không thể chối bỏ của đồng bào Việt Nam khi họ đoàn kết lại với
nhau. Ngay sau đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta tiếp tục bảo vệ vững chắc
chủ quyền thiêng liêng Tổ quốc với thắng lợi vẻ vang trong cuộc chiến đấu bảo vệ hai đầu biên giới
Ba là, trong bối cảnh thời đại mới, Đảng vẫn không ngừng phát huy vai trò
quan trọng của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc theo định hương chủ
nghĩa xã hội. Trong Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IV viết: “Trong cuộc trường chinh để giành độc lập, tự do
cho dân tộc, ở đâu và lúc nào cũng có Đảng. Đảng đi đầu trong chiến đấu. Đảng xông
pha nơi khó khăn. Đảng gắn bó với nhân dân bằng những gì Đảng đã làm cho sự
nghiệp giải phóng đất nước. Trong giai đoạn mới, Đảng quyết làm tất cả vì sự phồn
vinh của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân”.
Bốn là, trong bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều biến động khó lường,
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta gặp không ít khó khăn, thử thách.
Song dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng, đặc biệt chú trọng đến sự việc phát triển kinh
tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng an ninh, đẩy mạnh quan hệ
đối ngoại với các nước trong và ngoài khi vực từng bước tạo tiền đề cho đất nước
chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thành tựu rõ ràng nhất
đã được Đảng ta đúc kết sau hơn 30 đổi mới.
Nhìn lại chặng đường vẻ vang 93 năm kể từ ngày đất nước ta có Đảng, chúng ta
càng thấy tự hào về những cống hiến vinh quang, vĩ đại của Đảng cho dân tộc, cho đất
nước. Đó là những nỗ lực không ngừng nghỉ của các thế hệ lãnh đạo và tập thể Đảng,
từ việc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, xây dựng và bảo vệ chủ quyền đất
nước, đến việc đưa đất nước ta trên con đường phát triển bền vững và hội nhập quốc
tế. Đảng đã có những chính sách và giải pháp đúng đắn, hiệu quả để phát triển kinh tế,
nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và thực hiện đầy đủ các
cam kết quốc tế. Tất cả những thành tựu đó đều là nhờ có sự lãnh đạo mạnh mẽ, sáng
suốt của Đảng, cùng với sự đoàn kết, nỗ lực của toàn dân đồng thời đó cũng chính là
sự khẳng định cho một bài học, một chân lý: Đảng Cộng sản Việt Nam, người tổ chức
và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Câu
2: Đồng chí hãy
làm rõ nhận định sự ra
đời của
Đảng cộng
sản Việt Nam là bước
ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc
và giai cấp của nhân dân Việt Nam. Đảng là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa
Mác – Lenin và lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc với phong
trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Khi đánh giá về sự ra đời của Đảng,
có ý kiến cho rằng: “Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại của cách
mạng Việt Nam”. Đây là một nhận định hoàn toàn đúng đắn. Sở dĩ như vậy vì:
- Thứ nhất, Đảng ra đời đã chấm dứt thời kì khủng hoảng về đường lối cứu nước:
Một là, trước năm 1930 phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta diễn
ra liên tục, sôi nổi, quyết liệt theo nhiều phong trào tiêu biểu là phong trào Cần Vương,
phong trào nông dân Yên Thế; con đường cứu nước theo khuynh hướng Dân chủ tư
sản đầu XX với hoạt động hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh.
Mặc dù diễn ra sôi nổi nhưng cuối cùng đều lần lượt thất bại. Sự thất bại của các
phong trào này do nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân cơ bản nhất là do thiếu 1
đường lối CM đúng đắn. Cách mạng Việt Nam lâm vào thời kỳ khủng hoảng bế tắc về
đường lối cứu nước“đen tối như không có đường ra”.
Hai là, Năm 1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã vạch ra đường lối chiến
lược cho cách mạng Việt Nam chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước.
Đường lối đó là: trước làm cách mạng dân tộc dân chủ rồi sau tiến thẳng lên chủ nghĩa
xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa
- Thứ hai, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt thời kì khủng hoảng sâu
sắc về giai cấp lãnh đạo cách mạng kéo dài mấy chục năm đầu thế kỷ XX. Từ đây,
cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam được đặt dưới sự lãnh đạo duy
nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam - một đảng có đường lối cách mạng khoa học và
sáng tạo, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ đảng viên kiên trung nguyện suốt đời
hy sinh cho lý tưởng Đảng, vì độc lập dân tộc và tự do cho nhân dân
Một là, trước năm 1920 thực tiễn cách mạng nước ta đã chứng kiến sự bước lên
vũ đài chính trị nắm quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam của nhiều bộ phận khác
nhau như phong kiến (văn thân, sĩ phu trong phong trào Cần Vương), nông dân
(Hoàng Hoa Thám trong phong trào nông dân Yên Thế), sĩ phu tư sản hóa(Phan Bội
Châu, Phan Châu Trinh), tư sản Việt Nam(Việt Nam quốc dân Đảng)....nhưng tất cả
đều không đủ khả năng và điều kiện lãnh đạo Cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.
Hai là, từ khi Đảng ra đời đã xác định rõ giai cấp công nhân Việt Nam với
chính đảng tiên phong của mình là lực lượng lãnh đạo duy nhất có thể đưa cách mạng
Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn. Hồ Chí Minh khẳng định “Đảng ra đời chứng tỏ
giai cấp vô sản nước ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”, giai cấp công
nhân Việt Nam có một tổ chức lãnh đạo thống nhất và một cương lĩnh chính trị đúng
đắn. Kể từ thời điểm này phong trào công nhân hoàn toàn trở thành một phong trào tự giác.
- Thứ ba, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã xác định được lực lượng cách mạng đúng đắn:
Một là, trước 1930 lực lượng cách mạng chủ yếu là văn thân, sĩ phu, nông dân,
công nhân, tư sản, tiểu tư sản... nhưng các bộ phận này chưa có sự liên kết rộng rãi với
nhau, công nhân và nông dân vẫn chỉ là 1 bộ phận nhỏ bé trong phong trào yêu nước
Từ khi Đảng ra đời đã xác định rõ lực lượng cách mạng là đoàn kết tất cả các
tầng lớp, giai cấp trên cơ sở liên minh công-nông. Liên minh công – nông là lực lượng
nòng cốt, trung tâm của cách mạng. Kể cả trung tiểu địa chủ cũng có thể lợi dung hoặc
trung lập . Như vậy Đảng huy động đươc tối đa sức mạnh của toàn dân tộc trong cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc
- Thứ tư, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã đề ra được phương pháp cách mạng đúng đắn:
Một là, trước năm 1930 phong trào yêu nước sôi nổi với nhiều phương pháp
khác nhau như khởi nghĩa vũ trang, bạo động, cải cách, cầu viện.. nhưng chưa đúng
đắn và thành công. Các cuộc đấu tranh còn diễn ra lẻ tẻ, chưa tạo thành phong trào
rộng lớn cả nước (các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương) hoặc thiên về
manh động ám sát cá nhân như hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng...nên cuối
cùng tất cả các cuộc đấu tranh đó đều thất bại
Hai là, sau 1930 Đảng ra đời đã đề ra phương pháp đúng đắn đó là phương pháp
bạo lực cách mạng, kết hợp bạo lực chính trị của quần chúng với bạo lực vũ trang.
- Thứ năm, Đảng ra đời làm cho cách mạng Việt Nam thực sự trở thành một bộ
phận khăng khít của cách mạng thế giới.
Một là, trước 1930, một số nhà yêu nước cách mạng đã muốn tranh thủ sự ủng
hộ của cách mạng thế giới nhưng họ còn chưa phân biệt đươc rõ đâu là bạn đâu là thù
như Phan Bội Châu coi Nhật là ban, muốn dựa vào Nhật để đánh Pháp còn Phan Châu
Trình thì muốn dựa vào Pháp để thực hiện cải cách phát triển đất nước.....nên cuối
cùng Việt Nam vẫn chưa tìm được 1 đồng minh đáng tin cậy để giành độc lập
Hai là, từ sau năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định cách mạng Việt
Nam là 1 bộ phận của cách mạng thế giới, có mối quan hệ biện chứng với cách mạng
thế giới. Từ đây nhân dân Việt Nam tham gia vào sự nghiệp cách mạng thế giới một cách có tổ chức.
- Thứ sáu, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có ý
nghĩa quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt tiếp theo của lịch sử dân tộc Việt Nam.
Một là, trước khi Đảng ra đời các phong trào yêu nước đều thất bại: phong trào
Cần Vương, phong trào Yên Thế, phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân, khởi nghĩa Yên Bái..
Hai là, kể từ khi ra đời, Đảng từng bước vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác –
Lenin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối chiến lược và sách lược cách
mạng đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Cương lĩnh đáo ứng được yêu cầu khách quan của lịch sử dân tộc, phù hợp với xu thế
của thời đại. Chính vì thế ngay từ khi vừa ra đời Đảng đã quy tụ được lực lượng và sức
mạnh toàn dân tộc, dấy lên một cao trào cách mạng rộng lớn từ đầu năm 1930. Đảng
nắm ngọn cờ lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng Việt
Nam hòa vào trào lưu cách mạng của thời đại. Trong cuộc vận động Cách mạng tháng
Tám năm 1945, cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), kháng chiến chống Mĩ
(1954 – 1975), đường lối của Đảng đã được thực thi một cách hoàn hảo và dẫm tới
cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi.
Ngày nay, bất cứ người Việt Nam yêu nước nào cũng đều nhận thấy rõ sự cần
thiết phải có Đảng Cộng sản và vai trò của Đảng đối với cách mạng. Trải qua 93 năm
xây dựng và trưởng thành, Đảng không ngừng phát triển và lớn mạnh, chèo lái đất
nước qua những thăng trầm lịch sử, thực tế đó đã chứng minh rằng: Sự ra đời của
Đảng cộng sản Việt Nam là tất yếu khách quan, là bước ngoặt lịch sử của cách mạng.