


















Preview text:
CÂU HỎI BÀI THU HOẠCH
1. Anh chị hiểu gì về thuật ngữ “Thời đại Hồ Chí Minh”. Theo các
anh chị, trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ngày hôm
nay, Đảng và nhân dân ta tiếp thu được những gì từ di sản mà Người để lại. Bài làm:
Thuật ngữ “Thời đại Hồ Chí Minh”:
Theo tôi, thời đại rực rỡ trong lịch sử nước nhà dưới sự dẫn dắt của Hồ Chí
Minh - Người đã để lại cho chúng ta và các thế hệ mai sau cả một gia tài đồ sộ,
một di sản vô cùng quý giá. Là thời đại mà nước ta quá độ lên CNXH, nhà nước
của dân, do dân, vì dân, tư tưởng chiến lược về con người đã được khai sáng.
Gói gọn lại đó là thời đại Hồ Chí Minh - thời đại rực rỡ nhất, vinh quang nhất
trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Tất cả những thành tựu đạt
được đều trải qua công lao gian khổ của Người, từ việc hình thành tư tưởng từng
bước đến hoàn thiện, phát triển nước nhà.
1. Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước:
Hồ Chí Minh sinh ngày 19/05/1890 trong một gia đình yêu nước. Thân sinh
là cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc - một nhà Nho cấp tiến. Tình cảm nhân ái của
bà Hoàng Thị Loan thân mẫu của Hồ Chí Minh đã ảnh hưởng sâu sắc đến đức
tính nhân hậu của người. Chị cả Nguyễn Thị Thanh và anh Nguyễn Tất Đạt đều
là những người giàu lòng yêu nước thương nòi. Khi thuở thiếu thời, người đã
chứng kiến cuộc sống nghèo khổ, bị áp bức bóc lột đến cùng cực của đồng bào
mình. Với lòng quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước. Hồ Chí Minh đã định ra
cho mình một định hướng đi mới đó là phải tìm hiểu cho rõ bản chất của những
từ: tự do, bình đẳng, bác ái của nước Cộng hòa Pháp, phải đi ra nước ngoài, xem
nước Pháp và các nước khác họ làm ăn như thế nào để trờ về giúp đồng bào mình.
Chân dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh
2. Tìm thấy con đường cứu nước giải phóng dân tộc:
Năm 1911, Hồ Chí Minh rời tổ quốc sang phương Tây tìm đường cứu nước.
Người đã thực hiện một cuộc hành trình đến nhiều nước thuộc địa, phụ thuộc, tư
bản, đế quốc. Cuộc hành trình của người trải qua năm châu bốn biển đã hình
thành nên được ở Hồ Chí Minh tình cảm và ý thức đoàn kết giữa các dân tộc bị
áp bức đồng thời còn rèn luyện ở người một công nhân có đầy đủ phẩm chất, tư
tưởng, tâm lý của giai cấp vô sản. Sau 10 năm bôn ba tìm đường cứu nước,
người đã tiếp cận với luận cương của Lênin, Hồ Chí Minh đã có được giải đáp
cho mình chỉ có giành độc lập và tự do cho đồng bào, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
3. Hình thành cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam:
Năm 1930, Hồ Chí Minh đã sáng lập nên Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, đường lối cách mạng Việt Nam đã cơ
bản được hình thành, con đường cứu nước của Việt Nam cơ bản được xác định.
Nhờ vào sự đúng đắn ngay từ đầu của tư tưởng, đường lối cách mạng Việt Nam
do Hồ Chí Minh vạch ra đã được thực tiễn chứng minh và khẳng định và cũng
chính trong quá trình vận động của cách mạng, tư tưởng, đường lối đó ngày
càng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện dần, trở thành ngọn cờ soi đường cho cách mạng Việt Nam.
4. Vượt qua thử thách, kiên trì giữ vững lập trường cách mạng:
Vào ngày 03/02/1930, Hồ Chí Minh đã tổ chức hợp nhất ba tổ chức cộng
sản ở Việt nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam và đưa ra Chánh cương vắn tắt,
Sách lượt vắn tắt, Điều lệ tóm tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người dã dựa
trên cơ sở xác định đúng con đường cần phải đi của cách mạng Việt Nam, Hồ
Chí Minh đã liên trì bảo vệ quan điểm của mình về vấn đề dân tộc và vấn đề giai
cấp, về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa và cách mạng vô sản. Hồ Chí
Minh đã đọc tuyên ngôn độc lập và khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa vào ngày 02/09/1945. Người đã nhấn mạnh rằng các quyền cơ bản của các
dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
5. Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, hoàn thiện:
Sau khi giành lại được chính quyền chưa được bao lâu thì thực dân Pháp
quay lại xâm lược nước ta. Thấy được dân tộc đang đứng trước tình thế “ngàn
cân treo sợi tóc”, Hồ Chí Minh đã ra sức chèo lái con thuyền cách mạng Việt
Nam vượt qua các thác ghềnh tới bến bờ thắng lợi. Vào ngày 19/12/1946, Hồ
Chí Minh đã phát động toàn quân, toàn dân cùng hưởng ứng cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp. Kể từ đó, người đã trở thành linh hồn của các cuộc kháng
chiến giành lại chính quyền cho dân tộc. Người không nhừng đề ra các đường
lối vừa kháng chiến vừa kiến quốc, thực hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện,
trường kỳ, tự lực cánh sinh. Không dừng lại ở đó, Người còn đặc biệt chăm lo
xây dựng Đảng, xây dựng đội
ngũ cán bộ, đấu tranh chống tệ quan liêu, mệnh lệnh, xây dựng đạo đức cách
mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, phát động phong trào thi đua ái
quốc. Năm 1954, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp được nhân dân ta kết thúc trong sự thắng lợi.
Từ đó cho thấy được sự thắng lợi dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ
tịch Hồ Chí Minh; là sự thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân nhân; thắng lợi
của tư tưởng Hồ Chí Minh: vừa kháng chiến, vừa xây dựng chế độ dân chủ nhân
dân; kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, vừa gây
dựng mầm móng cho chủ nghĩa xã hội. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng
Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhiều vấn đề đã tiếp tục được bổ sung và
phát triển, đã hợp thành một hệ thống những quan điểm lý luận về cách mạng
Việt Nam. Đó là các tư tưởng và chiến lượt về con người; tư tưởng về Đảng
Cộng sản và xây dựng Đảng với tư cách là Đảng cầm quyền,...
Từ những cống hiến to lớn ấy, Người được ví như là linh hồn, là ngọn cờ
chói lọi lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam liên kết một lòng
cùng vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, anh dũng đấu tranh, dám đứng dậy
đấu tranh giành lại quyền dân tộc cho nhân dân, không ngừng giành hết thắng
lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kì tích vẻ vang cho nước nhà. Người
đã đưa chúng ta đến thời kỳ huy hoàng nhất từ trước đến nay, viết nên một trang
sử mới, xoay mình thành một đất nước độc lập tự do, vì lợi ích của dân, do dân
và vì dân, thời đại ấy mang tên “Thời đại Hồ Chí Minh”.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ngày hôm nay, Đảng
và nhân dân ta tiếp thu được những gì từ di sản mà Người để lại?
Theo tôi, trong những năm tháng đấu tranh gian lao ấy, tinh thần yêu nước, ý
chí độc lập, tự chủ, tự cường của mọi người dân Việt Nam đã tiếp thu cao độ
lòng yêu nước, tạo nên sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm nổi bật
tinh thần, ý chí và trí tuệ con người Việt Nam. Qua đó cho chúng ta thấy rằng,
sức mạnh của lòng yêu nước được đun húc suốt hàng ngàn năm lịch sử; không
chỉ được bồi đắp mà còn phát triển lên một tâm cao mới, gắn liền với tinh thần
quốc tế trong sáng. Đó cũng chính là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước chân
chính hòa quyện với chủ nghĩa quốc tế cao cả trên tinh thần đoàn kết, giúp đỡ,
ủng hộ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội; đồng
thời nó còn thể hiện được lòng nồng nàn yêu nước của dân tộc ta gắn với sự
giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của các đồng chí, bạn bè và nhân dân lao động các
nước; là tinh thần phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đấu tranh để
“làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng
bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” trong thời đại Hồ Chí Minh lịch sử.
Thời gian vừa qua, tuy điều kiện kinh tế đất nước còn gặp nhiều khó khăn
và hạn chế về cơ sở vật chất kỹ thuật y tế còn nhiều hạn chế, chúng ta đã phát
huy được sức mạnh ưu việt của hệ thống chính trị và sức mạnh đại đoàn kết dân
tộc, đạt được thành công bước đầu rất quan trọng , đối phó hiệu quả với Covid
19, nhân dân đồng tình, ủng hộ và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Đây là minh
chứng tiêu biểu, cho sự tiếp thu về tinh thần lãnh đạo của Đảng, về sức mạnh
của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ đó, giúp chúng ta có thêm động lực,
niềm tin và khát vọng đổi mới, phát triển đất nước Việt Nam hòa bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu như
sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.
2. Có một nhận định như sau: Trong con người Hồ Chí Minh có tâm từ
bi của nhà Phật, có sự bao dung của Chúa Giê-su, có đầu óc thiết thực của
Tôn Trung Sơn, có trí tuệ của Mác và Lênin, lại có tâm hồn thi sĩ của
Nguyễn Trãi và Nguyễn Du. Trên thực tế, Hồ Chí Minh là hình ảnh tốt
đẹp nhất của dân tộc Việt Nam. Anh (Chị) hãy phân tích và nêu ý kiến về nhận định này. Bài làm:
Những trang vàng lịch sử Việt Nam ghi dấu lớp lớp người nối tiếp lên nhau.
Trong những trang sử vàng chói lọi ấy, ghi hình những con người kiệt xuất –
những con người anh hùng vĩ đại nhất và những trang sử Người để lại là vẻ vang
nhất. Cuộc đời và sự nghiệp của Người là bản hùng ca luôn ngân vang cháy
bỏng trong trái tim của mỗi con người Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một
tấm gương sáng người về chủ nghĩa yêu nước - trung với Đảng, hiếu với dân,
trọn đời phấn đấu, hi sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp,
giải phóng con người và toàn nhân loại, về trí tuệ uyên bác, đạo đức cách mạng
trong sáng, là nguồn cổ vũ lớn lao cho toàn thể dân tộc Việt Nam. Chính những
điều tốt đẹp của Người đã có nhận định rằng: Trong con người Hồ Chí Minh có
tâm từ bi của nhà Phật, có sự bao dung của Chúa Giê su, có đầu óc thiết thực
của Tôn Trung Sơn, có trí tuệ của Mác và Lenin, lại có tâm hồn thi sĩ của
Nguyễn Trãi và Nguyễn Du. Trên thực tế, Hồ Chí Minh là hình ảnh tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam.
Người sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất
nước - giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX khi bao cuộc khởi nghĩa đấu
tranh anh dũng, bất khuất giành độc lập và thống nhất Tổ quốc đều lần lượt thất
bại. Phong trào cứu nước của nhân dân Việt Nam đứng trước một cuộc khủng
hoảng sâu sắc về đường lối. Ngay từ thuở thiếu thời, Người đã chọn cho mình
con đường suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp, giải phóng con người. Trên con đường cách mạng ấy, Người đã chấp nhận
mọi sự hy sinh, không quản gian nguy, luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sáng suốt vạch ra con đường cách mạng đúng đắn
để giải phóng và phát triển dân tộc Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu ấy, Người
đã cùng với Đảng ta đề ra đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn để lãnh
đạo, chỉ đạo nhân dân ta tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám, lập nên nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà và sau đó tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, hoàn thành sự nghiệp cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói trong bức thư gửi Trần Tam Tỉnh rằng:
“Mục đích của Chính phủ ta theo đuổi là chiến đấu vì nền độc lập và đem lại
hạnh phúc cho nhân dân. Song để đạt tới hạnh phúc đó cho mọi người cần phải
xây dựng CNXH. Nếu Đức Giêsu sinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặt mình
vào nỗi khổ đau của người đương thời, chắc ngài sẽ là
một người XHCN đi tìm đường cứu khổ loài người”. Người cũng nêu rõ những
giá trị đạo đức và văn hóa nhất định của tôn giáo, và tìm thấy trong đó điểm
chung của các vị hiền nhân là mưu cầu hạnh phúc cho loài người.
Có lẽ chính những năm tháng đầy gian khổ hi sinh ấy đã giúp chúng ta nhìn
thấy rõ nét một con người có tâm từ bi của nhà Phật – Bác Hồ. Người đã gạn
lọc, kế thừa những giá trị cốt lõi về triết lý nhân sinh quan, thế giới quan, trung
tâm là con người hướng đến cái “chân, thiện, mỹ”, “từ, bi, hỷ, xả”, “vô thường,
vô ngã vị tha”, cứu khổ cứu nạn, để sống tốt đời đẹp đạo mà hạt nhân tư tưởng
của Phật giáo là một trong những tư tưởng văn hóa ảnh hưởng nhiều đến quá
trình hình thành tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh. Đượm nỗi đau dân tộc và
xã hội loài người, xuất phát từ tấm lòng từ bi, hỷ xả, quên mình, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã mang lại niềm vui, luôn kêu gọi chúng sinh đoàn kết, Người viết
Tuyên Ngôn Độc Lập - một áng hùng văn tuyệt bút hiếm hoi trong hàng nghìn
năm dựng nước, giữ nước của dân tộc. Người luôn chân thành, muốn hòa hợp
với tất cả, kể cả kẻ thù của đất nước. Thấm đượm lời dạy của Đức Phật, Người
không ghét bỏ, hãm hại mà tìm mọi cách thu phục nhân tâm, mời vào vị trí lãnh
đạo cao để giúp dân, phụng sự Tổ quốc. Bác đối xử với tù binh giặc ngoại xâm
rất tốt, bị thương thì Bác chữa trị, về nước được Bác chu cấp lương thực, tiền
bạc để trở về quê hương. Bác đã đối xử rất tốt với chính kẻ thù của mình, trong
khi các binh sĩ của ta trong tay kẻ thù bị đối xử rất tàn nhẫn, tra tấn đánh đập dã
man. Người làm theo lòng đại từ, đại bi của Đức Phật, không phân biệt kẻ bị áp
bức và người đi áp bức, chia các thành phần giai cấp mà tiêu diệt xóa bỏ lẫn
nhau, gieo rắc hận thù, Người đau lòng đến da diết: “Than ôi, trước lòng bác ái,
thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng
đều là Người... vì lẽ gì... mà đem máu quí báu của thanh niên Pháp đổ trên non
nước Việt Nam... cần phải bắt tay nhau... gây dựng hạnh phúc chung”. Trước
khi đi vào cõi vĩnh hằng, Bác đã căn dặn chúng ta phải sống có tình có nghĩa
“phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Tâm từ bi của Bác như Đức Phật
có dạy: “Lấy ân trả oán, tăng ân giảm oán - Lấy oán trả oán, oán oán chất
chồng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhiều lần chủ động gặp gỡ, viết thư gửi
Tổng thống, lãnh đạo cao cấp, tướng lĩnh, binh sĩ và tù binh hai nước Pháp, Mỹ
tỏ lòng thiện cảm, ứng xử văn hóa, không hằn thù, oán hận, mong muốn các dân
tộc cùng hưởng độc lập, tự do và bình đẳng, giúp đỡ nhau trao đổi kinh tế, văn
hoá như những người anh em. Người mở lòng: “Vì trong bốn biển đều là anh
em”. Người luôn ấp ủ trong lòng với những giá trị cao đẹp: “Một ngày mà Tổ
quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon,
ngủ không yên”; điều này giống với “Hạnh vô ngã” của Đạo Phật, không nghĩ
đến bản thân mình, luôn quên mình vì mọi người. Khi ở cương vị là Chủ tịch
Nước, Hồ Chí Minh luôn dành nhiều thời gian đi thăm nhiều chùa, nhiều cơ sở
Phật giáo, tiếp xúc với nhiều tăng ni, phật tử. Với một giác quan chính trị nhạy
bén và sự mẫn cảm kiệt xuất, Hồ Chí Minh sớm nhìn thấy Phật giáo là một điểm
tựa vững chắc cho quần chúng nhân dân, họ sẽ tạo thành khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, đấu tranh giải phóng dân tộc, đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho
con người. Hồ Chí Minh đã đến với giáo lý nhà Phật không chỉ là nhu cầu tinh
thần của nhân dân, mà Người còn tiếp thu giáo lý Phật giáo với tính cách là
những giá trị đạo đức của nhân loại. Người cũng nhìn thấy ở Phật giáo những
giá trị tốt đẹp phù hợp với đạo đức con người mới và phục vụ cho sự phát triển
của thời đại, của đất nước.
Trong giáo lý Thiên Chúa giáo, Người có sự bao dung của Chúa Giê-su.
Chúa Giê-su dạy: “Đạo đức là bác ái” mà Người đã phát hiện ra những giá trị
đạo đức văn hóa nhất định của tôn giáo. Trong khi đó, để đối phó với tội nhân,
Thiên Chúa không muốn trừng phạt mà chỉ muốn giúp tội nhân ăn năn hối cải
quay về đường lành. Từ ngàn xưa, Thiên Chúa phán qua miệng ngôn sứ Ê-dê-
kiên: “Ta không muốn kẻ gian ác phải chết nhưng muốn nó ăn năn
sám hối mà được sống”. Đối với Ngài, mỗi một người đều có giá trị rất cao nên
cần phải được trân trọng và yêu thương. Dù con người có đắm chìm trong lầm
lạc và tội lỗi, Ngài không bỏ rơi, không hủy diệt họ, nhưng tìm mọi cách đưa họ
trở về đàng lành. Và ở Chủ tịch Hồ Chí Minh nơi Người sự bao dung ấy là tràn
ngập là phủ đầy bởi trong tâm Người vì tình yêu thương dân tộc Tổ Quốc,
không phải lấy sự thù hận làm đầu để đánh bại kẻ thù mà là một sự bao dung sự
bao dung ấy là một sức mạnh một tinh thần vĩ đại vượt trên tất cả những nhỏ
nhen ích kỉ của bản thân, của một con người. Người biết được điều gì là quan
trọng điều gì là sức mạnh cốt lõi nơi Người. Hồ Chí Minh đã tìm ra nơi tận sâu
trong con người mình tiềm tàng của sức mạnh tình yêu thương, sự bao dung và
chính sự bao dung lớn lao và cao đẹp ấy đã giúp Người sẵn sàng chiến đấu vì Tổ
Quốc nhưng chiến đấu trong sự thật trong niềm tin đích thực trong con đường
đúng đắn bảo vệ Tổ Quốc và với tất cả khát khao tột cùng Người đã làm được.
Sự bao dung của Người đã lan tỏa khắp thế giới này là cảm hứng của biết bao
con người thế hệ trẻ giờ đây. Trong thời chiến Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến
đồng bào tôn giáo, tôn trọng quyền tự do tôn giáo của các giáo dân và thực hiện
đoàn kết tôn giáo. Trong tư tưởng của Người, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc, trong đó có đoàn kết với đồng bào thiên chúa giáo là vấn đề sống còn, là
một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng,
quyết định sự tồn vong của dân tộc. Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Việt Nam -
nơi có nhiều cộng đồng cư dân cùng sinh sống, nơi tín ngưỡng giữa đạo và đời
luôn đồng hành ngự trị trong đời sống tâm linh của người dân, Hồ Chí Minh đã
sớm nhìn thấy và biết gạn lọc những tinh hoa trong kho tàng giá trị của đạo
Thiên chúa những điều cần thiết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Và cũng
chính Người đã không chỉ giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, thực hiện sự tôn
trọng tự do tôn giáo, mà còn luôn thực hiện đoàn kết với đồng bào đồng bào
Thiên chúa giáo trong hành trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng một
nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh. Là lãnh tụ
của cách mạng, hơn ai hết Hồ Chí Minh hiểu rằng: đoàn kết thì sống, chia rẽ thì
chết, nên muốn huy động sức mạnh toàn dân đoàn kết, muốn toàn thể đồng bào
ta đồng tâm, hiệp lực chống kẻ thù chung thì không thể không quan tâm đến vai
trò của đồng bào Thiên Chúa giáo. Ngay từ những năm lãnh đạo nhân dân đấu
tranh giành chính quyền, Hồ Chí Minh đã luôn quan tâm đến Thiên chúa giáo,
đến các giáo dân và động viên họ góp sức mình vào sự nghiệp giải phóng. Vượt
không gian và thời gian, tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào
Thiên chúa giáo như càng sâu đậm hơn, bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa,
song những bức thư Người chúc mừng các giáo dân nhân dịp Lễ Thiên chúa
Giáng sinh trong suốt 24 năm ở cương vị Chủ tịch nước vẫn có ý nghĩa tinh thần
to lớn đối với các con chiên của Chúa. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói trong bức
thư gửi Trần Tam Tỉnh rằng: “Mục đích của Chính phủ ta theo đuổi là chiến đấu
vì nền độc lập và đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Song để đạt tới hạnh phúc đó
cho mọi người cần phải xây dựng CNXH. Nếu đức Giêsu sinh ra vào thời đại
chúng ta và phải đặt mình vào nỗi khổ đau của người đương thời, chắc ngài sẽ là
một người XHCN đi tìm đường cứu khổ loài người”. Người cũng nêu rõ những
giá trị đạo đức và văn hóa nhất định của tôn giáo, và tìm thấy trong đó điểm
chung của các vị hiền nhân là mưu cầu hạnh phúc cho loài người.
Ở chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn, Hồ Chí Minh đã hết sức quan
tâm là ba nguyên tắc: “Dân tộc độc lập; Dân quyền tự do; Dân sinh hạnh phúc”
và chính sách “thân Nga, liên Cộng, phù trợ công nông”. Những tư tưởng tiến
bộ, tích cực và có thể vận dụng vào cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh đã tìm
thấy và kế thừa ở Tôn Trung Sơn nhiều tư tưởng tiến bộ phù hợp với điều kiện
cách mạng nước ta, nhưng đây là một sự tiếp biến đặc biệt, sự tiếp biến vượt gộp
để tạo ra một giá trị tư tưởng độc đáo, mới mẻ, cách mạng. Nghĩa là, không
dừng lại ở những chủ trương của Quốc dân Đảng mà Hồ Chí Minh đã phát triển
khái niệm “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” lên một trình độ mới, mang tính giai cấp,
tính nhân dân, tính dân tộc và tính cách mạng sâu sắc, triệt để của một cuộc cách
mạng dân tộc dân chủ dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa
Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng.
Toàn thế giới công nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà lãnh đạo xuất sắc của
cách mạng giải phóng dân tộc. Trong suốt thế kỷ XX, cách mạng và kháng chiến
Việt Nam là cuộc chiến tranh giải phóng bi hùng nhất, là chiến thắng vang dội
nhất, một cuộc cách mạng và kháng chiến đã góp phần lớn vào sự tan rã của các
đế quốc thực dân, vào sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức. Cụ Hồ Chí
Minh là người tổ chức thắng lợi đó. Cụ là nhà cách mạng đặc biệt tài năng.
Phần đóng góp quan trọng của Bác vào chủ nghĩa Mác - Lênin là ở vấn đề
dân tộc và thuộc địa. Về vấn đề dân tộc thì Lênin có nhiều tác phẩm lý luận, về
vấn đề thuộc địa thì Quốc tế Cộng sản đã có nhiều văn kiện, đặc biệt là Luận
cương về vấn đề thuộc địa của Đại hội lần thứ VI Quốc tế Cộng sản. Bản Luận
cương chính trị của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 10 năm
1930, căn bản là tóm lược ứng dụng Luận cương về thuộc địa của Quốc tế Cộng
sản năm 1928. Tư tưởng đặc sắc của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và thuộc
địa là ở chỗ khác. Chỗ nào là chính? Ngay trong mối tương quan giữa cách
mạng tại xứ đế quốc thực dân và cách mạng ở thuộc địa của đế quốc ấy. Nguyễn
Ái Quốc quan niệm đế quốc chủ nghĩa như một con đỉa có hai vòi hút máu của
vô sản chính quốc và của dân tộc thuộc địa, phải cùng lúc cắt cả hai vòi thì nó
mới chết, cầm bằng nó còn một vòi thì vòi kia sẽ mọc lại. Hình tượng chính xác
nói lên tương quan gắn bó giữa hai bên. Sâu sắc hơn nữa, Người nhận định rằng
trong nhiều điều kiện cụ thể cách mạng ở thuộc địa có thể thành công trước cách
mạng ở chính quốc và như thế góp phần đẩy cách mạng ở chính quốc lên. Thế là
Nguyễn Ái Quốc cho cách mạng thuộc địa một thứ độc lập tính và cho đảng
cách mạng ở thuộc địa một thế chủ động rộng lớn, một trách nhiệm quốc gia và
quốc tế lớn hơn trước. Nói thì hóa ra bất kính, chứ lối nhìn của Nguyễn Ái Quôc
đúng hơn lối nhìn của cả Xtalin. Xtalin xem vấn đề thuộc địa như là phụ thuộc
vào cách mạng vô sản. Điều ấy không đúng lắm và nó có thể có tác dụng tiêu
cực là hạn chế sự hoạt động độc lập của lực lượng cách mạng ở xứ thuộc địa.
Xtalin cũng cho rằng vấn đề dân tộc chủ yếu là vấn đề nông dân, điều ấy cũng
không đúng lắm, vấn đề nông dân rất quan trọng, nhưng không dễ đơn giản hóa
vấn đề dân tộc, vấn đề dân tộc phức tạp hơn vấn đề nông dân rất nhiều. Tư
tưởng lêninnít của Nguyễn Ái Quốc dẫn đến việc Người vận động độc lập Đảng
Cộng sản Việt Nam thành phân bộ độc lập của Quốc tế Cộng sản mà không phải
trải qua thời kỳ thuộc Đảng Cộng sản Pháp như hầu hết các tổ chức cộng sản
khác ở châu Phi thuộc Pháp trước đây. Trên cơ sở tư tưởng (mới mẻ so với tư
tưởng đã thấm nhuần nghị quyết Đại hội Quốc tế Cộng sản) vừa trình bày, qua
đầu những năm 40, Đảng Cộng sản Việt Nam đã biết tạm thời rút lui khẩu hiệu
cách mạng điền địa, không đặt vấn đề liên bang Đông Dương. Nhờ đó, Đảng tập
hợp được xung quanh cái trục công nông liên minh một lực lượng đoàn kết dân
tộc Việt Nam và đoàn kết các dân tộc Dông Dương ngày càng lớn mạnh, cô lập
được các thế lực phản động các loại, tiêu diệt được các đế quốc thực dân. Nếu
đó không phải là lý luận cách mạng thì là gì? Đó là một ngọn đèn pha soi rọi
đường giải phóng, đó là một bước phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn
đề dân tộc và thuộc địa. Đó là sự nhìn xa, trông rộng của Người, biểu hiện sự
vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.
Một sáng tạo lớn khác của Bác đã có tác dụng quyết định đến thắng lợi của
cách mạng Việt Nam thuộc về vấn đề Đảng. Ai cũng biết, vấn đề Đảng là một
bộ phận trọng yếu trong chủ nghĩa Mác - Lênin. Không có Đảng cách mạng thì
học thuyết nào cũng là chuyện để nói cho sướng miệng, vui tai. Về vấn đề xây
dựng Đảng thì Lênin và Quốc tế Cộng sản trình bày rõ các nguyên lý cơ bản rồi,
đã dạy phải làm tất cả những gì để bảo đảm tính chất tiên phong,
tính chất giai cấp, tính chất quần chúng cho một đảng cộng sản có đủ sức làm bộ
tham mưu đắc lực của cách mạng. Vậy thì, ở Việt Nam, Hồ Chí Minh còn có
những chỗ nào để mà sáng tạo?
Các Đảng cộng sản tự định nghĩa là đội tiên phong của giai cấp công nhân;
giai cấp công nhân được nhận định là động lực đóng vai lãnh đạo ngay cả trong
cách mạng 'tư sản dân chủ", tức phản đế và phản phong. Thế nhưng, cho tới sau
Chiến tranh thế giới thứ nhất, ở Việt Nam, giai cấp công nhân chỉ chiếm vài
phần trăm trong toàn dân, vả lại chưa có truyền thống đấu tranh dài. Trong điều
kiện đó, làm sao để có một đảng cách mạng tiên phong của giai cấp công nhân?
Phải quan niệm đội tiên phong cách mạng đó như thế nào để hòng xây dựng nó?
Nếu quan niệm một cách giáo điều, nếu tập trung nghị lực chú tâm vào xưởng
máy hơn hết, thì sẽ có môt đảng trong đó số đông là công nhân, nhưng sẽ là một
đảng rất nhỏ, bất lực, cô lập, đảng như thế để làm gì? Có thể làm gì? Còn nếu
hoạt động rộng khắp thì Đảng sẽ gồm đại đa số là tiểu tư sản trí thức, nông dân,
có nguy cơ trượt dài trên đường băng chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi, xa rời chủ
nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin còn là cả một triết học về sự xây
dựng con người. Cho nên, những năm 1928. 1929, 1930, hàng trăm, thậm chí
hàng ngàn thanh niên trí thức, nhà có ăn, dư để rời ghế nhà trường, công sở, rời
gia đình đầm ấm, rời cuộc sống lắm phong lưu, lăn lộn vào chỗ khốn cùng, nước
độc, gọi là đi "vô sản hóa” nghãi là đi vào quần chúng lao động, vô sản gây cơ
sở cách mạng, phát động phong trào đấu tranh, bị bắt, bị tù đày, nhưng hết tù rồi
lại đi hoạt động nữa, không mệt mỏi. Cũng có không ít người bỏ gánh giữa
dường, càng ít người "ôm cầm thuyền khác”. Đủ biết, quan niệm của Hồ Chí
Minh về việc giáo dục đảng viên bằng lý luận và bằng công tác là quan trọng
nhường nào. Năm 1936, 1937, hàng ngàn đảng viên Quốc dân Đảng cùng gốc
tiểu tư sản trí thức được ân xá, trở về nhà, hầu hết họ bỏ cuộc, còn đảng viên
Đảng Cụ Hồ hầu hết tiếp tục hoạt động đến khởi nghĩa. Người quả là bậc thầy
sáng tạo lương tri, không phải bất cứ thời nào, ở đâu, người ta dễ tìm một bộ óc,
một tâm hồn, một chủ trương như vậy.
Hồ Chí Minh, nhà cách mạng cũng là một nhà giáo dục, chẳng những chăm
lo đào tạo cán bộ mà còn chăm lo xây dựng con người. Khi Hồ Chí Minh lúc
còn là Nguyễn Sinh Cung ở làng Sen, tỉnh Nghệ An đã bắt đầu 10 năm đèn sách
bằng bài vỡ lòng "Nhân chi sơ tính bản thiện”. Thuyết "tính thiện" này, Nguyễn
Ái Quốc sẽ gặp mãi trong các sách Nho và ở các thầy Nho. Nói cho đúng, cũng
có phái Nho chủ trương "tính ác", họ không được xem là chính thống. Chính
thống theo mạch Khổng Mạnh là người sinh ra tính vốn lành: tính thiện là thiên
phú, Nho gia Việt Nam không ai nói khác.
Nhưng ở sách Nhật ký trong tù, Cụ Hồ có bài tu tuyệt "Dạ bán", trong đó
tác giả viết rằng: lúc ngủ mọi người trông rất lương thiện, lúc tỉnh dậy mới phản
biệt người thiện, người ác, thiện ác vốn không phải là bản tính, phần nhiều là do giáo dục mà nên.
Ở bài thơ triết lý này, Người nói lên cái chỗ đứng của mình trong cuộc
tranh luận ngàn năm về tính ác, tính thiện ở Trung Quốc và Việt Nam và không
chỉ ở đó. Trong bài thơ, ta chú ý đến chữ "đa do" và chữ "giáo dục". Phải chăng
là khi dùng chữ "đa do", Người muốn nói rằng không phải giáo dục quyết định
tất cả tính tình người ta, còn có những yếu tố quan trọng khác can thiệp vào mà
quả có do tự nhiên hay ngẫu nhiên phức tạp làm ra: còn chữ "giáo dục" ở đây là
sự cảm hóa về hướng tốt hay hướng không tốt, hoặc tốt xấu lẫn lộn của giáo dục
gia đình khi tuổi thơ, của môi trường xã hội hoặc là sự giáo dục có ý thức của
thầy, cha, bạn bè hay sách vở, kể cả các việc làm của mình, dần đã góp phần làm ra con người của mình.
Người đòi hỏi mỗi người dân, mỗi cán bộ phải siêng học. Học thì phải có
định hướng; cán bộ học để làm công bộc giỏi cho dân: dân học để làm công dân
tốt của nước: tất cả đều học thành nhân. Học không chỉ khi còn trẻ mà già cũng
còn phải học. Với cán bộ tỉnh Nghệ
An, Cụ nói: Tôi năm nay 71 tuổi mà vẫn phải học mỗi ngày. Học không biết
mỏi. Học phải có mục đích, như một người thợ làm nhà, trước khi làm đã biết
cái nhà sẽ ra sao, không phải như con ong, làm tổ theo thói quen bản nhiên. Mục
đích của sự học là thành nhân, là chỉnh tâm, là trau dồi lý trí. Người cán bộ trước
phải biết chỉnh mình, sau mới chính người khác, mình không chỉnh thì còn
mong chỉnh ai? Đã trau dồi lý thuyết, còn phải trau dồi tình cảm nữa, phải lo xây
dựng nhân cách của mình, phải biết ăn ở xử thế có tình, có nghĩa, tình nghĩa
giữa người và người, tình nghĩa đồng bào đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà.
Như thế Chủ tịch Hồ Chí Minh không có tham vọng làm một nhà lý luận, sáng
tạo tư tưởng, sáng tạo lương tri, nhưng thực tế Cụ đã góp phần đáng kể vào việc
làm phong phú thêm học thuyết Mác-Lênin trong khi vận dụng được thành công
xuất sắc chủ nghĩa Mác-Lênin vào cuộc cách mạng và kháng chiến Việt Nam.
Đến nay dân tộc Việt Nam có ba nhân vật lịch sử được UNESCO vinh danh
là danh nhân văn hóa vĩ đại đó là Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Hồ Chí Minh.
Nguyễn Trãi cùng Hồ Chí Minh được tri ân Anh hùng dân tộc và Nguyễn Du
được người Việt kính trọng tôn xưng là Đại thi hào dân tộc.
Ta nhìn thấy được điểm chung ở cả ba danh nhân đó là đều có những đóng
góp lớn lao cho nền văn hóa nhân loại. Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du
và Hồ Chí Minh cùng gặp gỡ ở một điểm chung đó là trong cuộc đời và sự
nghiệp của mình, họ đều đề cao cái Tâm. Tuy ba danh nhân sống ở những không
gian và thời gian khác nhau, có những biểu hiện cụ thể khác nhau trong hành
động, việc làm nhưng cái cốt lõi của mỗi hành động, việc làm của họ đều là cái
Tâm - là tấm lòng, gốc của đạo đức. Và, điều thú vị là cả ba danh nhân văn hóa
trong những hoàn cảnh nhất định, đã đặt sự so sánh giữa Tài và Đức, để rồi cả
ba đều đề cao Đức, tức là đề cao cái Tâm và họ cùng lập ngôn về điều đó.
Với Nguyễn Trãi, ông là một anh hùng dân tộc vĩ đại, là nhà chính trị lỗi lạc,
nhà chiến lược thiên tài, nhà ngoại giao kiệt xuất, đồng thời là một nhà văn, nhà
thơ lớn, nhà sử học, nhà địa lý học, nhà làm luật pháp và âm nhạc xuất sắc.
Nguyễn Trãi là một người tài năng nhưng ông lại là người đề cao cái Tâm, tất cả
các sự nghiệp của Nguyễn Trãi đều dựa trên cơ sở gốc là đề cao cái Tâm. Cái
Tâm đối với đất nước, đối với nhân dân xuyên suốt trong cuộc đời, sự nghiệp
Nguyễn Trãi, và luôn bàng bạc trong thơ ông. Chính Nguyễn Trãi đã hơn một
lần đề cập đến trong thơ khi đối sánh giữa Tài và Đức, lúc thì ông nói: Tài Đức thì cho lại có nhân Tài thì kém Đức một hai phần. (Bảo kính cảnh giới, bài LVII)
Cách Nguyễn Trãi gần 500 năm, Nguyễn Du – Đại thi hào dân tộc, cũng
trưởng thành từ cửa Khổng sân Trình, thấm nhuần tâm nhân nghĩa của thời đại.
Cái Tâm của Nguyễn Du còn được kết tinh từ nhân dân, cả cái Tâm của Lão –
Trang và đặc biệt là cái Tâm Phật giáo.
Trong cuộc đời của một con người xuất thân từ gia đình “đại thế gia”, Nguyễn
Du đã được học hành, được thừa hưởng từ gia đình những điều kiện nhất định.
Tài năng của Nguyễn Du được nảy nở và chí hướng theo gia đình, nhập thế lập
công danh đã thôi thúc chàng trai trẻ Nguyễn Du cùng với những con người
khác trong thời đại muốn trổ tài kinh bang tế thế. Thế nhưng công không thành,
danh không toại, lý tưởng không đạt, tài năng không có chỗ dùng, một đời thông
minh thiệt thòi, ngắm thanh gươm bên mình mà thẹn phận trai không ích gì cho
nước. Nguyễn Du đến với văn chương, ý thức được tài năng văn chương của
mình. Thế nhưng văn chương là biểu hiện của tài năng cũng chẳng mang lại gì
cho chính nhà thơ. Nguyễn Du là người từng phải nếm trải cảnh “mười năm gió
bụi”, phải trôi nổi trong cuộc đời như ngọn cỏ bồng trốc gốc, thấm thía nỗi đau
của bản thân, trở về dưới chân núi Hồng, tâm trạng của nhà thơ u uất, chán nản.
Cuộc đời bất hạnh đã đưa nhà thơ trở về gần gũi với
cuộc sống gian khổ của nhân dân và chứng kiến những biến chuyển, thay đổi
của thời đại, suy ngẫm về câu chuyện của cuộc đời mình, để Nguyễn Du có sự
thấu hiểu, xót thương và đồng cảm sâu sắc với những khốn khổ của kiếp người,
những kiếp người dưới đáy xã hội, với sự nghèo đói, khổ sở của họ, tìm ra
nguyên nhân, chỉ trích, phê phán thói phung phí, xa hoa của quan lại. Và, đặc
biệt, trong những kiếp người đau khổ, Nguyễn Du quan tâm tới những con
người tài hoa mà bạc mệnh. Từ cảnh ngộ, cuộc đời mình – một con người tài
hoa, Nguyễn Du đã đồng cảm, liên tài đối với những người đồng cảnh. Nhà thơ
nhận thấy rằng, cái “tài”, từ trong... bản thể của nó ẩn chứa nguyên nhân tai hoạ,
vì người tài khó tránh khỏi bị đố kỵ, ghen ghét.
Đến thời đại Hồ Chí Minh, nhiều nhà nghiên cứu đều nhận thấy: có lẽ trong
lịch sử thế giới về các danh nhân văn hóa, các nguyên thủ chưa có ai lại đặt ra
vấn đề lý luận về Tài và Đức như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính Thủ tướng
Phạm Văn Đồng, người học trò xuất sắc và người cộng sự gần gũi với Bác Hồ
đã nói: “Ở gần Bác, tôi thấy một nét nổi bật của Bác là rất coi trọng phẩm chất
con người, suốt đời chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ và nhân dân”.
Hồ Chí Minh là một lãnh tụ bàn nhiều đến đạo đức và vai trò của đạo đức
trong đấu tranh cách mạng. Người nói: “Đạo đức là cái gốc của người cách
mạng”. “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn
thành nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Vì vậy suốt đời mình Người kiên trì giáo
dục phẩm chất đạo đức cho cán bộ, đảng viên, nhấn mạnh không ngừng “nâng
cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, và bản thân Người là một
tấm gương trọn vẹn của đạo đức mới: Suốt đời phấn đấu, hy sinh vì lợi ích của
Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân”. Bác đã nói: “Có Tài mà không có Đức là
người vô dụng, có Đức mà không có Tài thì làm việc gì cũng khó”. Trong bài
nói tại lớp học chính trị của giáo viên, Người lại nói đến mối quan hệ giữa
chuyên môn và chính trị bằng sự so sánh giữa Tài và Đức: “Ta là cán bộ chuyên
môn, có chuyên môn mà không có chính trị giỏi thì dù học giỏi mấy dạy trẻ con
cũng hỏng. Chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác. Có chuyên môn mà
không có chính trị thì chỉ còn cái xác không hồn. Phải có chính trị trước rồi có
chuyên môn. Nếu thầy giáo, cô giáo bàng quan thì lại đúc ra một số công dân
không tốt, cán bộ không tốt. Nói tóm lại, chính trị là Đức, chuyên môn là Tài.
Có Tài mà không có Đức là hỏng. Có Đức mà chỉ i, tờ thì dạy thế nào? Đức phải
có trước Tài. Trước hết phải dạy trẻ yêu Tổ quốc, yêu lao động, yêu đồng bào và
yêu chủ nghĩa xã hội”. Người luôn tâm niệm: Làm bất cứ cái gì có lợi cho dân,
có lợi cho cách mạng thì làm. Theo dòng chảy thời gian, từ Nguyễn Trãi, đến
Nguyễn Du và Hồ Chí Minh cả ba danh nhân văn hóa vĩ đại đều đề cao cái Tâm,
cái đạo đức trong sự so sánh với cái Tài. Đó là điểm chung rất quan trọng của ba
danh nhân văn hóa. Thế đấy, có những điều tưởng như bình dị, ai cũng biết đến,
nhưng để thực hiện thật không phải là dễ. Phải có một thực Tâm đối với dân, với
nước, và một định hướng thường trực trong mỗi hành động, việc làm trong suốt
cuộc đời. Chính điều đó mới là cái gốc làm nên nhân cách của ba danh nhân văn
hóa vĩ đại của dân tộc Việt Nam.
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng nhận định: “Trong con người Hồ Chí
Minh có tâm từ bi của nhà Phật, có sự bao dung của Chúa Giê su, có đầu óc thiết
thực của Tôn Trung Sơn, có trí tuệ của Mac và Lenin, lại có tâm hồn thi sĩ của
Nguyễn Trãi và Nguyễn Du. Trên thực tế, Hồ Chí Minh là hình ảnh tốt đẹp nhất
của dân tộc Việt Nam” là hoàn toàn chính xác.