










Preview text:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TPHCM
Cơ sở văn hóa Việt Nam Nhật Bản Học K23
Nhóm “Những chiến binh nụ cười”
Bài thuyết trình giữa kì Chủ đề
PHƯƠNG TÂY VỚI VĂN HÓA VIỆT NAM A. Thành viên ST Thành viên MSSV Nhiệm vụ T 1 Nguyễn Thị Như Ý
235619011 Soạn nội dung (I-3,4; II-1), tổng hợp nội 1 dung 2 Lê Như Khanh
235619003 Soạn nội dung (II-2,3), hỗ trợ thuyết trình 3 3
Nguyễn Nhật Mỹ 235619010 Soạn nội dung (I-1,2), hỗ trợ PowerPoint Uyên 2 4 Võ Thị Xuân Hạnh
235619002 PowerPoint, thuyết trình 2 5
Mạc Thị Thùy Dương 235619001 PowerPoint, thuyết trình 9 B. Nội dung
PHƯƠNG TÂY VỚI VĂN HÓA VIỆT NAM
I. Ki tô giáo với Việt Nam:
1. Bước đầu hội nhập vào Việt Nam ta:
- Lớp giao lưu văn hóa với phương Tây được hình thành từ khoảng thế kỷ XVI-
XVII, song những người phương Tây đầu tiên đã đến Việt Nam và Đông Nam Á
sớm hơn nhiều, vào khoảng những năm đầu công nguyên.
- Ban đầu họ chỉ đến giao thương, trao đổi nhưng đồ quý hiếm, trang sức, pha lê, áo
giáp,…để đổi lấy những thứ quý hiếm ở Đông Nam Á như trầm hương, nam kỳ,
vàng, đá quý,yến sào, đồi mồi, ngà voi, tế giác,..và đặc biệt là tiêu và các loại gia vị
bảo quả thịt. Dựa vào căn cứ đó mà giới nghien cứu đã gọi tuyến đuogừ từ Địa
Trung Hải tới Ấn Độ và Đông Nam Á là “Đường hồ tiêu”.
- Sau thời Trung Cổ nặng nề khiến cho sự giao lưu văn hóa bị gián đoạn. Vào đời
vua Lê Trang Tông (1533) có một người Tây tên là Ignatio, theo đường biển lẻn
vào giảng đạo Gia Tô( đạo Kitô giáo), đây là cột mốc đánh dấu đạo Kitô giáo vào nước ta.
- Từ đó, các giáo sĩ Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đến Việt Nam ngày càng đông.
Ban đầu không thông thạo ngôn ngữ nên việc truyền giáo ít thu được kết quả.
Nhưng dần dần việc truyền giáo tiến triển ngày càng khá hơn.
- Theo tài liệu của Giáo hội thì đến năm 1593, ở Nghệ An đã có 12 làng công giáo
toàn tòng. Từ đó Ki tô giáo đã mở đầu cho sự giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và phương Tây.
2. Quá trình phát triển của đạo Kitô giáo:
- Kitô giáo( hay Cơ- đốc giáo, Thiên Chúa giáo) là tên gọi chung cho tất cả các
tông phái cùng thờ phượng chúa Jesus. Kitô giáo ra đời từ một nhánh của Do Thái
giáo ở vùng Palestin rồi nhanh chóng phát triển thành một tôn giáo độc lập- vốn là
tôn giáo của những người bị áp bức.
- Ban đầu Ki tô giáo bị các chủ nô La Mã ngăn cản và bức hại. Đến thế kỉ IV, thì
hoàng đế Costantin đệ nhất ra chỉ dụ tha đạo và công nhận Kitô giáo là quốc đạo.
Trong quá trình phát triển năm 1054, giáo hội Ki tô giáo được tách làm hai, một
bên là phương Tây, một bên là phương Đông. Giáo hội phương Tây được goi là
“Công Giáo”, có nghĩa là” chung cho toàn thế giới” tập trung quyền lực vào Roma(
còn gọi là chính quyền La Mã). Còn giáo hội phía Đông cam kết bảo vệ truyền
thống được gọi là “Chính thống giáo”.
- Đến năm 1520, khối Công giáo La Mã đã tách ra một dòng đạo mới gọi là Tin
Lành. Do mục sư người Đức tên là M.Luther cầm đầu, đạo Tin Lành chịu ảnh
hưởng đậm nét của tư tưởng dân chủ tư sản và khuynh hướng cá nhân, phủ nhận
quyền lực của Tòa Thánh và Công đồng chung, chỉ tin vào Chúa Jesus và Kinh
Thánh cho rằng Đức Mẹ chỉ đồng trinh khi khi ra chúa Jesus.
- Trong thế kỉ XVI còn diễn ra cuộc li khai thứ ba, đạo Anh giáo ra đời tách từ
Công giáo La Mã. Như vậy Kitô giáo bao gồm Công Giáo, Chính thống giáo, Tin Lành và Anh giáo.
* Sự hội nhập Kitô giáo khi vào Việt Nam:
- Sự tiếp xúc văn hóa giai đoạn đầu diễn ra trên phương diện “tôn giáo và thương
mại”, đạo Kitô giáo xem việc truyền giáo là sứ mạng thiêng liêng và thường trực
nên việc vươn ra phương Đông xa xôi này, các nhà truyền giáo và các nhà tư bản
tất yếu có nhu cầu liên kết chặt chẽ với nhau. Nhà truyền giáo muốn mở rộng nước
Chúa cần phương tiện đi xa.
- Nhà tư bản muốn kiếm lời cần người am hiểu thị trường nên sẵn sàng giúp đỡ tài
chính cho các giáo sĩ và chở họ đi bất cứ đâu nếu họ cần. Bù lại, các giáo sĩ sẽ vừa
truyền đạo vừa tìm hiểu thêm thị trường và các mặt hàng quý hiếm. Nhiều giáo sĩ
đã giúp các nhà buôn bằng cách can thiệp vào chính quyền của nhiều đại phương
xin phép cho họ buôn bán. Trong khoảng thời gian này việc truyền đạo và buôn bán
của các giáo sĩ và các thương nhân thường phục tùng nghiêm chỉnh các quy định
của nhà nước phong kiến. Bên cạnh đó các chính quyền phong kiến cũng rất niềm
nở đón tiếp họ. Cả chúa Trịnh, chúa Nguyễn, chúa Trịnh, vua Lê đều tranh thủ lực
lượng này để củng cố thế lực, phát triển kinh tế và tăng cường tiềm năng quân sự
để kiềm chế và chống lại đối phương. Trong khi đó thì ở Châu Âu chủ nghĩa tư bản
phát triển và đi vào con đường thực dân, chi phối mọi hoạt độc xã hội.
- Giai đoạn đầu quá trình truyền giáo ở đàng trong diễn ra rất thuận lợi vì người
đàng trong rất cởi mở và hòa nhã, một mặt khác chúa Nguyễn đang muốn thúc đẩy
mối quan hệ với Bồ Đào Nha. Năm 1615 một ngôi nhà thờ đầu tiên đã được xây
dựng đầu tiên ở Đàng trong, đưa số người theo đạo thời điểm này lên 300 người.
Những năm sau, số người theo đạo ngày càng tăng.
- Công cuộc truyền giáo ở Đàng ngoài diễn ra muộn hơn so với Đàng trong. Năm
1626, linh mục Guiliano cùng với một số người Nhật đến Đàng ngoài trên một con
tàu buôn của người Bồ Đào Nha để truyền đạo, tuy nhiên do sự khác biệt về ngôn
ngữ nên linh mục Giuliano đã phải trở về Ma Cao. Một thời gian sau, linh mục
Giuliano đã quay trở lại Đàng ngoài cùng một số nhà thừa sai, trong đó nổi là vai
trò Alexandre De Rhodes thuộc giáo hội Bồ Đào Nha.
- Lúc này Chúa Trịnh mặc dù không hiểu về đạo Kitô giáo song có cảm tình với
người Bồ Đào Nha muốn giao thương với họ; có thời điểm Chúa Trịnh còn cho các
giáo sĩ được giảng đạo trong phủ Chúa, lúc này các giáo sĩ Dòng Tên thông thạo
tiếng Việt nên đã làm công tác truyền giáo rất thành công.
Theo tài liệu Giáo Hội ở Đàng ngoài sau 37 năm truyền giáo đã có 25 linh mục, 5
thầy giảng; ở Đàng trong sau 50 năm truyền giáo đã có 39 linh mục, số người theo
đạo Ki tô giáo khoảng thời gian này gần 100.000 người (trong đó khoảng 20.000
người ở Đàng ngoài và Đàng trong khoảng 80.000 người).
- Sau mấy năm phát triển đạo KI tô giáo ở Đàng Trong và Đàng Ngoài các giáo sĩ
dòng Tên nghĩ đến việc cần có Giám mục phụ trách Đàng Trong và Đàng Ngoài để
thúc đẩy phát triển công cuộc truền giáo. Do đó, năm 1645, Alexandre Rhode đã
trở về Châu Âu kêu gọi các giáo sĩ sang truyền giáo ở Việt Nam. Tuy nhiên
Alexandre Rhode đã không chọn giáo sĩ Dòng Tên người Bồ Đào Nha để làm giám
mục ở Việt Nam mà đã vận động tòa thánh Roma giao cho Pháp truyền đạo ở Viễn
Đông. Kết quả là Francois Pallu và Lambert de la Motte làm giám mục cai quản hai
địa phận Đàng Trong và Đàng Ngoài.
- Năm 1664, Hội thừa sai Paris thường được gọi là Hội truyền giáo nước ngoài của
Pháp được thành lập. Cuộc nội chiến giữa Nguyễn Ánh và nhà Tây Sơn và thế kỉ
XVIII là cơ hội tốt cho sự bành trướng của Hội truyền giáo nước ngoài và sự can
thiệp của thực dân Pháp.
- Giám mục Pigneaux de Beshaine (1741-1799), thường được phiên aamlaf Bá-đa-
lộc, còn gọi là cha Cả, đại diện cho Tòa Thánh Đàng Trong, đã trở thành người đỡ
đầu tích cực cho Nguyễn Ánh. Ông đã đưa hoàng tử Cảnh đi Pháp vào năm 1787
đã đại diện cho Nguyễn Ánh ký với Pháp hiệp ước Versailles. Sau đó, do cuộc cách
mạn Pháp năm 1789 nổ ra, hiệp ước không còn được thực hiện. Bá-đa-lộc đã tự
mình mộ quân và sắm vũ khí giúp Nguyễn Ánh đánh nhà Tây Sơn. Hoạt động của
Đa-ba-lộc đã giúp cho nước Pháp môt chỗ đúng vững chắc về mặt tôn giáo và chính trị.
3. Nhà Nguyễn hạn chế sự phát triển của Thiên Chúa Giáo (1802-1884)
- Chủ trương “bế quan tỏa cảng” trong giao lưu và giữ nguyên trạng đạo Ki-tô + Dưới thời Gia Long:
Không khuyến khích phát triển đạo: Trong chiếu ban hành tháng Giêng năm 1804,
vua Gia Long đã tuyên bố: "dân các tổng xã nào cónhà thờ Gia Tô đổ nát thì phải
đưa đơn trình quan trấn mới được tu bổ, dựng nhà thờ mới thì đều cấm"
Để bảo tồn văn hóa và tạo điều kiện giữ ổn định về chính trị, nhà Nguyễn đã khôi
phục Nho giáo làm quốc giáo
+ Dưới thời Minh Mạng (1820-1840): Bắt đầu cấm đạo và sát đạo => gây rối loạn
trong xã hội, mâu thuẫn dâng lên cao
+ Dưới thời Thiệu Trị: Tiếp tục chỉ dụ cấm đạo + Dưới thời Tự Đức:
Đến năm 1851, sau sự kiện Hồng Bảo lật đổ vua không thành, nghi có liên quan
đến Thiên chúa giáo, cấm đạo và sát đạo ngày càng gay gắt
Tháng 5/1862 Hòa ước Nhâm Tuất được ký kết, triều đình phải nhượng cho Pháp 3
tỉnh miền Đông Nam Bộ và bỏ cấm đạo =>
Như vậy, khác với ba tôn giáo truyền thống Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo,
Ki-tô giáo đến đầu thế kỉ XIX cũng không được các vua đầu triều Nguyễn tin
tưởng, thường xuyên bị gây khó khăn. Những ý thức hệ và mâu thuẫn đến quyền
lợi, văn hóa dân tộc bị đảo lộn nên lệnh cấm đạo luôn được ban ra. Do mức độ sát
đạo gay gắt, những phần tử phản động, gián điệp, lợi dụng tôn giáo để hoạt động
chính trị đã tạo điều kiện cho Thiên chúa giáo trở thành công cụ cho kẻ xâm lược.
Đến năm 1874, cơ bản Thiên chúa giáo đã được hoạt động công khai và từng bước phát triển.
4. Kết quả của quá trình phát triển đạo Ki-tô giáo với văn hóa Việt Nam
- Đến nay, đạo Ki-tô giáo đã có chỗ đứng vững chắc: Việt Nam hiện nay có khoảng
7 triệu người Công giáo, chiếm 7% tổng dân số, với 4.000 linh mục, 4.500 giáo xứ,
22.000 tu sĩ với hơn 240 dòng tu, hơn 2400 đại chủng sinh cùng khoảng 10.000 nhà
thờ. Tỉnh có số tín đồ Công giáo đông nhất cả nước là Đồng Nai với 1.035.015 người.
- Người theo Thiên chúa giáo đã được tự do dự các kì thi do triều đình tổ chức và
tham gia vào bộ máy nhà nước các cấp, tham dự vào các hoạt động chính trị xã hội
của đất nước như một công dân bình thường như mọi công dân khác.
- Tuy nhiên, Ki-tô giáo đã không nắm bắt được cơ hội trở thành đạo số đông của
nước ta với 2 nguyên nhân chính
+ Hoạt động truyền giáo có dính líu và thỏa hiệp với hoạt động thực dân
+ Do mang đậm truyền thống văn hóa phương Tây nên khó hòa đồng được với văn hóa Việt Nam
II. Văn hóa Việt Nam giao lưu với phương Tây
1. Sự hòa nhập văn hóa trong đạo Ki-tô giáo
- Vẫn giữ lại truyền thống thờ tổ tiên bên cạnh việc thờ đạo
- Kết hợp trong kiến trúc: Nếu các nhà thờ của Kitô giáo ở phương Tây theo lối
kiến trúc cao vút có đỉnh tháp nhọn hoắt thì ở Việt Nam, với sự tiếp thu linh hoạt
thì kiến trúc nhà thờ của ta là kiến trúc dân tộc thấp trải rộng có mái nghiêng cong.
- Dân tộc hóa hình ảnh thờ phượng: Việt Nam ta có tín ngưỡng thờ Mẫu và truyền
thống trọng phụ nữ vì thế với Kitô giáo, người Việt ta đã đưa đức Mẹ Maria lên
một vị trí sùng kính đặc biệt
2. Văn hoá vật chất ( phát triển đô thị, công nghiệp, giao thông-các lĩnh vực phương Tây mạnh.) ⁃ Đô : thị
Việt Nam từ mô hình cổ truyền với chức năng trung tâm chính trị chuyển
sang phát triển đô thị công-thương nghiệp chú trọng chức năng kinh tế
+Hình thành tầng lớp tư sản dân tộc
+Nhiều ngành công nghiệp khác nhau ra đời ( khai mỏ, chế biến nông lâm sản,…)
+Các đô thị và thị trấn nhỏ dần phát triển. =>
Ảnh hưởng văn hóa Pháp và các nước phương Tây khác góp phần không nhỏ
vào việc hình thành nếp sống, lối sống văn minh đô thị/nếp sống công nghiệp là
yếu tố rất cần thiết cho Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Kiến trúc đô thị:
⁃ sự kết hợp tài tình giữa phong cách phương Tây và tính cách dân
tộc, phù hợp với điều kiện tự nhiên nước ta. Chẳng hạn như Trường Đại Học Đông
Dương (nay là Đại Học Quốc Gia Hà Nội), Bộ Ngoại giao, Viện Viễn Đông Bác cổ
(nay là bảo tàng Lịch sử Hà Nội). Với hệ thống mái ngói, bố cục kiểu tam quan, lầu
hình bát giác….làm nổi bật tính dân tộc, đưa mái hiên, mái che cửa sổ ra xa để
tránh nắng chiếu và mưa hắt (hình ảnh minh hoạ)
Lĩnh vực giao thông: ⁃
+ Hàng chục vạn dân đinh đã được huy động để xây dựng hệ thống đường bộ đến
các đồn điền, hầm mỏ…Hệ thống đường sắt với những đường hầm xuyên núi,
những cây cầu lớn được càng được kéo dài với nổi bật là cây cầu bắc qua sông
Hồng mang tên Doumer, nay là cầu Long Biên.(hình ảnh minh hoạ) 3. Văn hoá tinh thần
- Văn tự - ngôn ngữ:
Khi tôn giáo phương tây du nhập vào Việt Nam, điều khó khăn nhất khi truyền đạo
chính là rào cản ngôn ngữ do sự khác biệt về ngôn cữ và văn tự do đó các giáo sĩ
truyền đạo dùng chữ La tinh thêm các dấu phụ âm để ghi tiếng Việt, tạo nên chữ
Quốc ngữ ( một thành quả tập thể của nhiều giáo sĩ Bồ Đào Nha, Ý, Pháp,…Và
những người Việt Nam đã giúp đỡ họ học tiếng Việt.)
+ Tuy chữ Quốc Ngữ ban đầu là công cụ truyền đạo của các giáo sĩ, nhưng do sự
dễ học của nó nên đã được các nhà Nho tiến bộ truyền bá để phổ cập và nâng cao dân trí.
+ Sự tiếp xúc với ngôn ngữ của phương Tây cũng khiến cho tiếng Việt có thêm
những từ ngữ vay mượn để diễn tả khái niệm của những vật dụng hàng ngày như xà
phòng (savon), kem (crème), ga (gare,gaz),…. ( tương tác hỏi thêm lớp ở khúc này được nè)
- Báo chí: Do việc xâm nhập của văn hóa phương Tây và sự ra đời của chữ Quốc
Ngữ nên đã dẫn tới sự ra đời của báo chí, lúc đầu được sinh ra với mục đích là phục
vụ cho nhu cầu thông tin cai trị của thực dân Pháp. =>
Sự ra đời của báo chí góp phần quan trọng cho việc nâng cao dân trí, thức
tỉnh ý thức dân tộc của nhân dân ta. Nghệ thuật ⁃
+ Tranh sơn dầu, tranh bột màu, bút pháp tả thực
+ Với bút pháp tả thực của nghệ thuật phương Tây, thêm tính phân biệt rõ ràng các
thể loại bi, hài kịch cũng đã xuất hiện trên sân khấu Việt Nam với thể loại kịch nói
và tác động đến sự ra đời của nghệ thuật cải lương.
+ Văn học Việt Nam có sự ảnh hưởng của văn hoá phương Tây từ hình thức tới tư
tưởng: ngoài các thể loại văn vần, văn xuôi thì phong trào thơ mới ra đời; ảnh
hưởng tư tưởng lãng mạn, tư tưởng tự do dân chủ, tôn giáo.
=> Tuy chịu nhiều ảnh hưởng từ văn hoá Phương Tây, nhưng các tác phẩm nghệ
thuật vẫn giữ nguyên cốt lõi, cái thâm sâu của văn hoá Á Đông
Giáo dục-khoa học ⁃
+ Để đào tạo người làm việc cho mình thực dân Pháp buộc dân học tiếng Pháp,
theo hệ thống giáo dục mới theo kiểu phương Tây ( định ra 3 cấp bậc ấu học-tiểu
học-trung học thời gian sau mở thêm các cao đẳng).
+ 1908 thì mở ra Đại học Đông Dương. Theo thời gian thì Nho học bị tàn lụi dần
với kì thi Hương bị bãi bỏ (1915 tại Bắc Kì, 1918 ở Trung Kì) dẫn đến sự chấm dứt
nền Nho học tại Việt Nam.
+Tư tưởng: Hệ thống tư tưởng mới giúp người Việt Nam mở rộng tầm mắt.
+ Tiếp xúc tư tưởng tư sản, sau đó là tư tưởng Mácxít.
+ Bổ sung thêm kiểu tư duy phân tích.
+ Có sự giao lưu với hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. =>
Hệ thống giáo dục do người Pháp đưa vào Việt Nam đã góp phần đào tạo
được tầng lớp trí thức “tây học” mà nhiều người sau này trở thành những trí thức
yêu nước, tham gia cách mạng và có công đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh
giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước. Hệ thống giáo dục đó đã mang lại
nhiều yếu tố văn hóa mới (vượt trội so với Nho học) trong nhiều lĩnh vực đời sống
xã hội (văn học, nghệ thuật, hội họa, sân khấu điện ảnh, âm nhạc, kiến trúc, v.v…).
Kết luận:Có thể coi, tính thống nhất trong đa dạng văn hóa là bằng chứng thuyết
phục về sức sống văn hóa Việt qua ngàn năm lịch sử. Chúng ta đã biết chọn lọc,
tiếp thu tinh hoa văn hóa của các nước mà Việt Nam có quan hệ để làm giàu kho
tàng di sản văn hóa của mình, đồng thời, vẫn bảo lưu được bản sắc văn hóa dân tộc.
Cũng nhờ có tinh thần khoan dung văn hóa mà ở Việt Nam, về cơ bản, không có
hiện tượng xung đột về sắc tộc, tôn giáo và văn hóa là một trong những nhân tố đã
gây ra những thảm họa xã hội ở nhiều quốc gia khác trên thế giới. C. Nguồn tham khảo
1. Giáo trình Cở sở Văn hóa Việt Nam – Trần Ngọc Thêm
2.https://ditichlichsu-vanhoahanoi.com/co-so-van-hoa-viet-nam/van-hoa-ung-xu-
voi-moi-truong-xa-hoi/phuong-tay-voi-van-hoa-viet-nam/
3. https://vi.wikipedia.org/wiki/Kit%C3%B4_gi%C3%A1o
4. https://vi.wikipedia.org/wiki/Phong_tr%C3%A0o_V%C4%83n_Th%C3%A2n
5. https://giaoxudongtri.com/anh-huong-cua-cong-giao-voi-nen-van-hoa-viet-nam/