





Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM KHOA : LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ -----o0o----- BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Môn Học : LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Giảng viên : Phạm Thành Tâm Mã LHP : 22CHIS51002604
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Tường Linh MSSV : 88224020314
TP. Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 12 năm 2022 I. ĐỀ BÀI
Bằng những kiến thức đã học môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, anh/chị
hãy trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1 : Trình bày những thành tựu, ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước (từ năm1986 đến nay).
Câu 2 : Phân tích nhân tố quyết định đưa đến thắng lợi của công cuộc đổi mới
(1986-nay). Từ vấn đề lịch sử trên, bạn có thể rút ra bài học gì cho cuộc sống và
công việc của bản thân? II. BÀI LÀM
Câu 1 : Những thành tựu, ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước (từ năm 1986 đến nay) : Thành tựu :
- Về kinh tế, nổi bật nhất là kinh tế tăng trưởng khá, thực lực của nề kinh tế tăng
lên; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng kinh tế
được duy trì hợp lý và được đánh giá là thuộc nhóm nước có mức tăng trưởng
khá cao trên thế giới. Đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào
nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Mặc dù năm cuối nhiệm kỳ
khoá XII, đại dịch Covid-19 và thiên tai, bão lũ nghiêm trọng liên tiếp xảy ra ở
các tỉnh miền Trung, tác động nặng nề tới mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội,
nhưng tốc độ tăng GDP bình quân giai đoạn 2016-2020 vẫn đạt 6%/năm; quy mô
nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên. Năm 2020, GDP đạt 271,2
tỉ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779 USD. Chất lượng tăng trưởng
được cải thiện, năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011-2015 lên
khoảng 6%/năm giai đoạn 2016-2020.
- Văn hoá, xã hội đạt được nhiều kết quả quan trọng; bảo đảm cơ bản an sinh xã
hội, tiếp tục cải thiện chính sách tiền lương, mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế đạt trên 90%. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều còn dưới 3%, hoàn
thành các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc.
- Chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường;
quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi
bật. Chủ động tham gia xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa
phương, khu vực và toàn cầu; xử lý đúng đắn, hiệu quả quan hệ với các nước
láng giềng, các nước lớn, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và đối tác khác.
- Đặc biệt, năm 2020, Việt Nam đã hoàn thành tốt cùng lúc cả ba trọng trách: Ủy
viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và
Chủ tịch AIPA. điều này góp phần nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam trong khu
vực và trên thế giới. Việc Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bỏ phiếu bầu 5 nước ủy
viên không thường trực của Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2020 - 2021, ngày
7/6/2020, tại trụ sở Liên hợp quốc tại New York (Mỹ), với số phiếu kỷ lục chưa
từng có (192/193 phiếu) trong 75 năm phát triển của Liên Hợp quốc đã tiếp tục
khẳng định vị thế và uy tín của Việt Nam. Có thể khẳng định, Việt Nam đã thực
sự chủ động, tích cực tham gia hội nhập quốc tế với một vị thế mới, bắt kịp với xu thế của thời đại. 2 Ý nghĩa :
Những thành tựu của công cuộc đổi mới kể trên là kết quả của quá trình phấn đấu
liên tục, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Những thành tựu đó là sản phẩm kết
tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục
qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật
khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối
đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng
đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị của
Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục
đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn
thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong
giai đoạn mới”. Trong bài phát biểu nhân kỷ niệm 90 năm thành lập Đảng Cộng
sản Việt Nam (1930 – 2020), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã
nhấn mạnh: “Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong 90
năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố
hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”.
Một số bài học kinh nghiệm :
- Một là, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn
diện, đồng bộ, thường xuyên cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán
bộ. Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của
Đảng; thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính
trị; thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng. Xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong
sạch, vững mạnh, toàn diện; hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực; kiên
quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”
trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Công tác
cán bộ phải thực hiện là “then chốt của then chốt”, tập trung xây dựng đội ngũ
cán bộ, đảng viên phải thực hiện trách nhiệm nêu gương theo phương châm chức
vụ càng cao càng phải gương mẫu, nhất là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí
thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương.
- Hai là, trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc,
thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thực sự tin tưởng, tôn trọng và
phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
- Ba là, trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện phải có quyết tâm
chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, năng động, sáng tạo, tích cực, có
bước đi phù hợp, phát huy mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ
XHCN; kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn; đề cao trách nhiệm người đứng đầu gắn
liền với phát huy sức mạnh đồng bộ của hệ thống chính trị, phát huy dân chủ đi
đôi với giữ vững kỷ cương; coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; coi
trọng chất lượng và hiệu quả thực tế; tạo đột phá để phát triển. 3
- Bốn là, tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, bảo đảm hài hoà
giữa kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị, văn hoá, xã hội; giữa tuân theo các quy luật thị trường và đảm bảo định
hướng XHCN; giữa phát triển kinh tế, xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh;
giữa độc lập tự chủ với hội nhập quốc tế.
- Năm là, chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, không để bị
động, bất ngờ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hoà bình,
ổn định để phát triển đất nước; chủ động tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và
sâu rộng; xử lý đúng đắn, linh hoạt mối quan hệ với các nước lớn và nước láng
giềng; khai thác sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Câu 2:
Nhân tố quyết định đưa đến thắng lợi của công cuộc đổi mới (1986-nay) đó
chính là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng : Thứ nhất :
Đảng không ngừng nâng cao trình độ lý luận, trí tuệ, trung thành và bảo vệ
nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh kết
hợp theo sát thực tiễn phát triển toàn diện của đất nước.
Sau ngày thống nhất, cả nước bước vào công cuộc xây dựng CNXH, phải đối
diện với những thách thức, khó khăn gay gắt cả trong nước, khu vực và trên
trường quốc tế. Sự nghiệp xây dựng CNXH là nhiệm vụ nặng nề của Đảng.
Trong quá trình lãnh đạo, tuy đã có được những thành tựu quan trọng, song cũng
bộc lộ những hạn chế, yếu kém, thậm chí sai lầm, khuyết điểm. Thực tế đó đòi
hỏi Đảng phải chú trọng nắm bắt đặc điểm, thực tiễn của đất nước, đổi mới tư
duy lý luận, khắc phục bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, nóng vội để nhận
thức và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan, những đặc trưng của thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đường lối đổi mới của Đảng tại Đại hội VI (12-
1986) đã được hoạch định trên cơ sở đó.
Trong đại hội VI, Đảng đã thảo luận và thông qua các văn kiện: Báo cáo
chính trị, Báo cáo về phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội
trong 5 năm 1986 - 1990, Báo cáo bổ sung, sửa đổi điều lệ Đảng. Sau đại hội
ĐCSVN đã rút ra được 4 kinh nghiệm như sau:
- Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”.
- Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.
- Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.
- Bốn là, chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một Đảng cầm quyền lãnh đạo
nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Từ cơ sở trên Đảng đã đưa ra được các nhiệm vụ cấp thiết trong thời kỳ đổi mới
đất nước phù hợp với tầm nhìn hiện đại và lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 4 Thứ hai :
Đảng đề ra cương lĩnh, đường lối đúng đắn, không ngừng bổ sung, phát
triển, bảo đảm tính hiện thực của đường lối.
Quay lại những năm 90 của thế kỷ XX, khi mà toàn bộ khối xã hội chủ
nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ. Với vai trò lãnh đạo của mình, ĐCSVN đã
kiên trì lãnh đạo và từng bước bổ sung, hoàn thiện đường lối đổi mới, thông qua
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Đại
hội VII (6-1991) với phương châm: Đổi mới chỉnh đốn Đảng phải gắn với đổi
mới các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, có bước đi và phương thức phù hợp.
Báo cáo đã đề ra các chủ trương và giải pháp đối với 4 nhiệm vụ quan trọng:
- Xây dựng Đảng về chính trị - tư tưởng.
- Chỉnh đốn Đảng về tổ chức
- Tạo bước chuyển biến quan trọng về công tác cán bộ
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Đặc biệt Đảng đã hoàn thiện đường lối đổi mới, thông qua Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Mở đường cho nền kinh
tế - chính trị Việt Nam phát triển vượt bậc.
Từ những vấn đề lịch sử trên, em đã rút ra cho bản thân mình rất nhiều bài
học sâu sắc trong cuộc sống :
- Sống và làm việc theo pháp luật, có nguyên tắc để gia tăng được hiệu suất trong
học tập, công việc và tránh được những phiền toái không đáng có.
- Trong công việc với cương vị là vị trí quản lý cần phải đặt lợi ích của tập thể
lên hàng đầu, công tư phân mình, thưởng phạt đúng lúc và đúng người. Luôn
nâng cấp bản thân để có thể trao giá trị cho những người xung quanh nhiều hơn.
- Đoàn kết trong những việc làm lớn, mang tính quan trọng vì phải có sự đoàn
kết nên nhân dân và Đảng và nhà nước ta đã thành công trong việc thực hiện
công cuộc đổi mới và đạt được những thành tựu lớn lao và to lớn.
- Xã hội luôn phát triển vì thế bản thân luôn cần phải tiếp thu những kiến thức
mới, tránh tư duy bảo thủ, biết lắng nghe và học hỏi từ những người đi trước,
những người thành công trong lĩnh vực mình đang theo đuổi để đạt được mục
tiêu của bản thân sớm hơn.
- Bản thân cần có những mục tiêu cụ thể để thôi thúc sự hành động có kỷ luật và
đo lường được tính hiệu quả trong cách bản thân sử dụng thời gian. Giúp bản
thân có động lực phát triển hơn qua mỗi người, không bị giậm chân tại chỗ. Từ
đó giúp bản thân trở thành một người có giá trị hơn trong tổ chức mình làm việc,
một công dân tốt góp phần lan toả giá trị tích cực xây dựng xã hội ngày càng phát triển. 5 TÀI LIỆU THAM KHẢO
o Bộ Giáo dục và Đào tạo: Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (sử
dụng trong các trường đại học - hệ không chuyên lý luận chính trị). Nxb
Chính trị quốc gia Sự thật. Hà nội. 2021.
o Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh-Khoa Lý luận chính trị: Tài liệu
hướng dẫn ôn tập môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (lưu hành nội bộ). TP. HCM, 2022.
o Các trang web: tapchicongsan.org.vn; cpv.org.vn; tuyengiao.vn; tulieuvankien.dangcongsan.vn