1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BÀI KIỂM TRA CUỐI KÌ
HỌ VÀ TÊN: HỒ VŨ LINH PHỤNG
MSSV: 23570110995
LỚP: 2321DAI049L04
GVHD: TS. NGUYỄN THỊ THÙY DUYÊN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH- 2024
2
MỤC LỤC
NỘI DUNG THỰC HIỆN----------------------------------------------------------------4
LỜI NÓI ĐẦU------------------------------------------------------------------------------4
CHƯƠNG 1: VIỆT NAM TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN BÌNH ĐẲNG
DÂN TỘC Ý NGHĨA CỦA ĐỐI VỚI TIẾN TRÌNH QUÁ ĐỘ LÊN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY----------------------------------4
I. Vấn đề bình đẳng dân tộc được hiểu như thế nào? Chính sách của Việt
Nam trong từng lĩnh vực để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc---------------4
1. Khái niệm về bình đẳng dân tộc..................................................................4
1.1. Khái niệm:...............................................................................................4
1.2. Chứng minh Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc:............................4
2. Chính sách của Việt Nam trong từng lĩnh vực...........................................5
2.1. Kinh tế:....................................................................................................5
2.2. Chính trị:.................................................................................................6
2.3. Văn hóa:...................................................................................................7
2.4. Giáo dục:..................................................................................................8
2.5. Y tế:........................................................................................................10
II. Hoạt động chống phân biệt chủng tộc ở Việt Nam---------------------------10
1. Phân biệt chủng tộc là gì?...........................................................................10
2. Hoạt động chống phân biệt chủng tộc ở Việt Nam...................................11
III. Việt Nam phòng chống chủ nghĩa bá quyền----------------------------------11
1. Định nghĩa chủ nghĩa bá quyền.................................................................12
2. Hành động của Việt Nam............................................................................12
IV. Ý nghĩa của bình đẳng dân tộc đối với tiến trình quá độ lên Chủ nghĩa
Xã hội ở Việt Nam hiện nay----------------------------------------------------------13
1. Bình đẳng dân tộc tạo điều kiện cho sự đoàn kết dân tộc:......................13
2. Bình đẳng dân tộc đảm bảo quyền lợi và sự phát triển công bằng.........13
3. Bình đẳng dân tộc thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa.................................13
3
4. Bình đẳng dân tộc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực........................14
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ VỀ SỰ TỒN TẠI CỦA CÁC TÔN GIÁO TRONG
TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY
------------------------------------------------------------------------------------------------14
I. Quan điểm về tôn giáo trong chế độ Xã hội Chủ nghĩa----------------------14
1. Tôn giáo là gì?..............................................................................................14
2. Vai trò của tôn giáo đối với đời sống.........................................................14
3. Chính sách tôn giáo của Việt Nam.............................................................15
II. Mối quan hệ gia đình - Tôn giáo trong chế độ Xã hội Chủ nghĩa---------16
1. Tôn giáo xuất hiện trong mối quan hệ gia đình như thế nào?................16
2. Ảnh hưởng của tôn giáo tới mối quan hệ gia đình trong hội Chủ
Nghĩa.................................................................................................................16
III. Đánh giá sự tồn tại của tôn giáo trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa Xã
hội-----------------------------------------------------------------------------------------17
1. Hiện trạng tôn giáo ở Việt Nam.................................................................17
2. Vấn đề đặt ra...............................................................................................17
3. Giải pháp của Đảng và Nhà nước..............................................................18
IV. Tôn giáo có tồn tại vĩnh viễn trong Xã hội Chủ nghĩa không?------------19
1. Theo quan điểm của Mác – Lênin..............................................................19
2. Thực tế ở Việt Nam.....................................................................................20
KẾT LUẬN---------------------------------------------------------------------------------20
TÀI LIỆU THAM KHẢO---------------------------------------------------------------21
Chương 1:--------------------------------------------------------------------------------21
Chương 2:--------------------------------------------------------------------------------23
4
NỘI DUNG THỰC HIỆN
CÂU HỎI:
1. Việt Nam đã và đang làm để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc, ý nghĩa đối
với tiến trình quá độ lên CNXH Việt Nam hiện nay. (7 điểm)
2. Đánh giá v s tồn tại của các tôn giáo trong tiến trình xây dựng CNXH Việt
Nam hiện nay? (3 điểm)
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam, một quốc gia đa dạng về dân tộc tôn giáo, đã đang nỗ lực không
ngừng trong việc thúc đẩy quyền bình đẳng dân tộc và tôn giáo. Với 54 dân tộc anh
em cùng chung sống, Việt Nam đã xây dựng thực hiện nhiều chính sách nhằm
đảm bảo sự bình đẳng phát triển bền vững cho tất cả các dân tộc. Sự bình đẳng
này không chỉ một nguyên tắc bản của Hiến pháp còn một yếu tố chiến
lược quan trọng trong tiến trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Bình đẳng dân tộc không chỉ giúp xóa bỏ sự kỳ thị, phân biệt đối xử còn thúc
đẩy sự đoàn kết hòa hợp giữa các dân tộc. Điều này tạo ra một sở vững chắc
cho sự ổn định chính trị hội, đồng thời động lực quan trọng để phát triển
kinh tế - hội. Chính sách bình đẳng dân tộc của Việt Nam đã được triển khai
trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục y tế, mang lại
những kết quả đáng khích lệ.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chú trọng vào việc phòng chống chủ nghĩa quyền
các hành vi phân biệt chủng tộc, nhằm bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quyền lợi
của các dân tộc thiểu số. Những nỗ lực này không chỉ nhằm duy trì sự ổn định nội
bộ còn góp phần xây dựng hình ảnh một Việt Nam hòa bình, ổn định phát
triển trên trường quốc tế.
Tiểu luận này gồm hai chương chính, trong đó sẽ phân tích chi tiết về những nỗ
lực và thành tựu của Việt Nam trong việc thực hiện quyền bình đẳng dân tộc và tôn
5
giáo, đồng thời đánh giá ý nghĩa của những nỗ lực này đối với tiến trình xây dựng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
CHƯƠNG 1: VIỆT NAM TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN
BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI TIẾN
TRÌNH QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA HỘI VIỆT NAM HIỆN
NAY
I. Vấn đề bình đẳng dân tộc được hiểu như thế nào? Chính sách của Việt Nam
trong từng lĩnh vực để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc
1. Khái niệm về bình đẳng dân tộc
1.1. Khái niệm:
Bình đẳng dân tộc là quyền của các dân tộc trong một quốc gia đều đều được bảo
đảm các quyềnbản (quyền sống, quyền tự do, mưu cầu hạnh phúc và phát triển)
và nghĩa vụ như nhau mà không bị phân biệt theo trình độ phát triển, màu da, đa số,
thiểu số…. Quyền bình đẳng dân tộc Việt Nam được ghi trong các Hiến
pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992. [1]
1.2. Chứng minh Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc:
Ngay tại trên mảnh đất hình chữ S của Việt Nam, đây chính nơi 54 dân tộc
khác nhau (Dân tộc Kinh chiếm đại đa số, khoảng 86% trên tổng dân số, còn các
dân tộc khác chiếm 14%) đang sinh sống rải rác trên khắp mảnh đất này. Ngoài ra,
thể thấy được rằng từng dân tộc khác nhau của Việt Nam sẽ sở hữu cho mình
các văn hóa khác nhau từ trang phục (Trang phục thổ cẩm của người H’mông), âm
nhạc (Điệu múa Apsara của dân tộc Khmer), lễ hội (lễ hội Gầu Tào của dân tộc
Tày) cho đến hệ thống ngôn ngữ riêng (tiếng Kinh, tiếng Tày, tiếng Mường,...). Từ
tất cả những yếu tố đã kể trên, chúng đã chứng minh được độ phong phú về mặt
dân tộc của Việt Nam. [2], [3]
6
2. Chính sách của Việt Nam trong từng lĩnh vực
2.1. Kinh tế:
- Việt Nam đã tổ chức nhiều hội nghị đề ra nhiều chính sách khác nhau để giải
quyết tình trạng nghèo đói, giảm thiểu khoảng cách phát triển kinh tế giữa các
vùng. Có thể thấy điều đó thông qua các chương trình xóa đói giảm nghèo tiêu biểu
được ban hành và thực hiện như sau:
+ Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012 -2015,
được phê duyệt theo Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 8/10/2012 của Thủ
tướng chính phủ, tập trung vào việc hỗ trợ các xã, các thôn, các bản đặc biệt khó
khăn. Đồng thời họ còn nhân rộng hình giảm nghèo tăng cường đẩy
mạnh việc truyền thông, giám sát đánh giá thực hiện Chương trình. Chương
trình này thậm chí còn được thực hiện tiếp tục vào giai đoạn 2016-2020. [4]
+ Thủ tướng Chính phủ còn ban hành Chính sách 755 – Chính sách hỗ trợ đất ở,
đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ dân tộc thiểu số nghèo hộ nghèo xã,
thôn, bản đặc biệt khó khăn, nhằm trực tiếp hỗ trợ dân tộc thiểu số nghèo các
khu vực đặc biệt khó khăn chưa đất ở, đất sản xuất theo mức quy định của
địa phương, khó khăn về nước sinh hoạt. [4]
+ Ngoài ra một chính sách nội dung tương tự như chương trình 134
chương trình 755 đã được thực hiện trước đây, đó chính sách đặc thù hỗ trợ
phát triển kinh tế - hội vùng dân tộc thiểu số miền núi giai đoạn 2017
2020. Nhờ nó, các thôn, bản đặc biệt khó khăn ngoài được việc hỗ trợ đất ở,
đất sinh hoạt, nước sinh hoạt ra thì còn giúp bố trí sắp xếp ổn định dân
cho các hộ gia đình dân tộc thiểu số còn du canh du và hỗ trợ vốn vay ưu đãi
có thời hạn lên đến 10 năm với lãi suất thấp hơn 50% cho hộ nghèo. [4]
+ Ngoài những chính sách hỗ trợ vùng sâu vùng xa kia, còn những chính
sách khác vốn được thực hiện từ năm 2010 lại được tiếp tục thực hiện trong giai
7
đoạn 2010 2020, nhằm hỗ trợ tín dụng, giáo dục, đào tạo nghề giới thiệu
việc làm cho người nghèo. [4]
- Để phát triển kinh tế của các khu vực nơi các dân tộc thiểu số đang sinh số,
Việt Nam cũng đã chú trọng trong việc phát triển giao thông nhằm đáp ứng tốt nhu
cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân. Ví dụ như:
+ Tại huyện Cẩm Thủy huyện Như Thanh (Thanh Hóa), Nhà nước đã cho
xây dựng hệ thống đường huyện kết nối với các đường tỉnh trên địa bàn nhằm
hỗ trợ phát triển vùng liên huyện. Trong đó, huyện Cẩm Thủy nằm về phía Tây
của vùng liên huyện số 5, giáp trung tâm tiểu vùng huyện Ngọc Lặc, gần các
hành lang kinh tế quan trọng của tỉnhđường Hồ Chí Minh quốc lộ 217 kết
nối với các vùng lân cận, do đó làm tăng lợi thế phát triển kinh tế - hội của
huyện. [5]
2.2. Chính trị:
- Việt Nam đã tạo điều kiện cho người dân tộc thiểu số được tham gia bầu cử.
Chúng ta thể thấy điều đó thông qua kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV,
99,57% cử tri cả nước đã đi bầu cử. Một trong những lí do mà nước ta đạt được kết
quả này nhờ việc bảo đảm quyền bình trên lĩnh vực chính trị đối với phụ nữ dân
tộc thiểu số, các nữ cử tri thuộc dân tộc thiểu số cũng dần ý thức hơn hơn về
trách nhiệm của mình trong việc bầu cử Quốc hội. [6]
- Ngoài ra, Việt Nam còn khuyến khích các người dân tộc thiểu số tham gia vào bộ
máy chính trị nhà nước. Như trong những năm qua, Quốc hội khóa XIII 39/500
đại biểu phụ nữ dân tộc thiểu số, chiếm tỷ lệ 7,8% so với tổng số Đại biểu Quốc
Hội; Quốc hội khóa XIV 41/496 đại biểu phụ nữ dân tộc thiểu số, chiếm tỷ lệ
8,27% so với tổng số Đại biểu Quốc Hội. Từ những số liệu trên, chúng ta thể
thấy số đại biểu Quốc hội người dân tộc ít người, đặc biệt phụ nữ, đang xu
hướng tăng dần qua từng năm. [6]
8
2.3. Văn hóa:
- Nhiều chương trình đã được triển khai bởi chính phủ Việt Nam nhằm bảo tồn
phát huy các giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số. Một số dụ nổi bật của việc
này có thể nhắc đến việc Đảng và Nhà nước đã cho ra những chính sách đặc biệt để
giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Khmer, bao gồm những hành động cụ
thể như sau:
+ Đặc biệt quan tâm, đầu nhiều nguồn nhân lực để phát triển kinh tế - hội
như: Đầu tư, khôi phục, phát triển một số ngành nghề truyền thống, hướng dẫn
kỹ thuật, mặt bằng nhà xưởng, giới thiệu bao tiêu sản phẩm; gắn phát triển
làng nghề truyền thống với phát triển văn hóa du lịch theo hình làng văn
hóa – du lịch của đồng bào Khmer. [7]
+ Đưa các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Khmer vào trong các sản
phẩm du lịch như: dựng các tiết mục văn nghệ phục vụ khách du lịch dựa trên
kho tàng văn hóa truyền thống dân tộc Khmer, sản xuất đồ thủ công lưu niệm từ
các vật liệu truyền thống, phục vụ du khách những món ăn đặc trưng của đồng
bào, tạo ra văn hóa ẩm thực độc đáo [7]
- Ngoài việc bảo tồn giữ gìn, Nhà nước cũng tập trung vào việc giáo dục, nâng
cao nhận thức cho người dân đây chính nền tảng cho việc bảo tồn bản sắc văn
hóa của một dân tộc, đặc biệt đối với dân tộc thiểu số. Đã nhiều phương thức
được thực hiện đối văn hóa của người Khmer, như là:
+ Tổ chức học tập, triển khai các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về văn hóa; tập
huấn kiến thức, cung cấp các ấn phẩm, tờ rơi nội dung về giữ gìn, phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc Khmer; tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa - thể
thao…[7]
9
+ Đẩy mạnh các hoạt động văn hóa thông tin, tập trung tuyên truyền hướng tại
cơ sở, thực hiện tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, giữ gìn và phát huy các giá trị
truyền thống tốt đẹp trong văn dân tộc Khmer…[7]
2.4. Giáo dục:
Để tạo điều kiện cho tất cả mọi vùng miền đều được hội tiếp cận giáo dục
như nhau, Nhà nước đã dành những hỗ trợ đặc biệt cho vùng dân tộc thiểu số
sinh sống, như là:
- Mở rộng trường, lớp đặc biệt để người dân tộc vùng sâu vùng xa được hưởng
chính sách ưu đãi về giáo dục như các trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT),
Dự bị đại học Dân tộc (DBĐHDT) và phổ thông dân tộc bán trú (PTDTBT). [8]
- Triển khai chính sách miễn, giảm học phí trợ cấp cho người dân tộc thiểu số,
cụ thể theo Nghị định số 57/2017/NĐ-CP, ban hành ngày 09/05/2017 về “Quy định
chính sách ưu tiên tuyển sinh hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh
viên dân tộc thiểu số rất ít người” như sau:
+ Trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số rất ít người học tại cácsở giáo dục mầm non
được hưởng mức hỗ trợ học tập bằng 30% mức lương cơ sở/trẻ/tháng.
+ Học sinh dân tộc thiểu số rất ít người học tại các trường tiểu học (TiH), trường
trung học cơ sở (THCS), trường trung học phổ thông (THPT) được hưởng mức
hỗ trợ học tập bằng 40% mức lương cơ sở/học sinh/tháng.
+ Học sinh dân tộc thiểu số rất ít người học tại các trường PTDTBT hoặc học
sinh bán trú học tại trường phổ thông công lập học sinh bán trú được hưởng
mức hỗ trợ học tập bằng 60% mức lương cơ sở/học sinh/tháng.
+ Học sinh dân tộc thiểu số rất ít người học tại các trường PTDTNT được hưởng
mức hỗ trợ học tập bằng 100% mức lương cơ sở/học sinh/tháng.
10
+ Học sinh sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người học tại các trường, khoa dự bị
đại học, các sở giáo dục đại học, sở giáo dục nghề nghiệp được được
hưởng mức hỗ trợ học tập bằng 100% mức lương cơ sở/người/tháng.
- Đội ngũ lao động, cán bộ thuộc dân tộc ít người lực lượng cùng tiềm năng
cho đất nước, song lại có không ít trường hợp vì hoàn cảnh kinh tế mà không
hội được lên cao học. Chính vì thế, Nhà nước Việt Nam đã triển khai chính sách ưu
tiên xét tuyển đại học, cao đẳng cho đội ngũ này. Chúng ta thể thấy thông qua
minh chứng sau đây:
+ Đối với học sinh người dân tộc thiểu số, khi xét tuyển Đại học, Cao đẳng,
chính phủ sẽ sử dụng chế độ tính điểm ưu tiên như là một biện pháp để đảm bảo
cho họ thể tiếp xúc với các bậc học cao một cách dễ dàng hơn. Điều này đã
thể hiện rằng ngành giáo dục đang hướng đến sự công bằng về hội học tập
sau khi đã xem xét kĩ càng đến điều kiện đời sống của những địa bàn đặc thù. [8]
+ Đảng và Nhà nước ta ngoài sử dụng chế độ tính điểm ưu tiên thì còn dùng chế
độ cử tuyển, tức là: Con em dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp Đại học, Trung
cấp chuyên nghiệp,… sẽ được ưu tiên sắp xếp vị trí công tác tại quê hương
nhằm tăng cường đội ngũ lao động, cán bộ trình độ chuyên môn cao cho các
vùng dân tộc nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục lẫn giảm tình trạng mất cân bằng
số lượng đội ngũ chuyên môn. Bên cạnh đó, chế độ này còn giúp khắc phục vấn
đề các con em vùng sâu vùng xa chưa đáp ứng được yêu cầu thi tuyển vào các
trường Đại học, Cao đẳng theo quy chế tuyển sinh hiện hành. [8]
2.5. Y tế:
Một trong những nhân tố giúp một đất nước phát triển hùng mạnh đó việc nhân
dân được đảm bảo sức khỏe. Việt Nam do nhận thức ràng điều này đã chú trọng
vào lĩnh vực y tế rất nhiều, đặc biệt ngành y tế tại các vùng dân tộc. Ta thể
11
thấy điều đó thông qua các chính sách phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng
đồng bào dân tộc Khmer sau đây :[9]
- Thứ nhất: Xây dựng phân công rõ trách nhiệm và kiểm tra hoạt động của trạm y tế
sở, tổ chức hội trong công tác bảo vệ, chăm sóc nâng cao sức khỏe đồng
bào dân tộc Khmer; thường xuyên chỉ đạo trạm y tế cấp sở phối hợp với bệnh
viện, trung tâm y tế tuyến trên thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe lưu
động, nhằm tạo thuận lợi cho chữa trị cho người dân.
- Thứ hai: Nghiên cứu bổ sung luật pháp để bảo vệ sinh mạng, sức khỏe, nhân
phẩm của người bệnh của cán bộ y tế trong lúc làm nhiệm vụ: Thực hiện bảo
hiểm rủi ro nghề nghiệp đối với cán bộ y tế và tăng cường khám chữa bệnh cho dân
tộc Khmer, đặc biệt những đối tượng yếu thế trong hội như trẻ em, người
khuyết tật, phụ nữ.
- Thứ ba: Khuyến khích nhân đầu xây dựng hệ thống phòng khám vùng sâu
vùng xa, đông đồng bào Khmer sinh sống, đồng thời Nhà nước cũng chú trọng hơn
việc quản lý và kiểm tra thường xuyên nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn của các nhà
đầu tư, cũng như phát hiện và xử lý những vẫn đề sai phạm trong lĩnh vực Y tế.
II. Hoạt động chống phân biệt chủng tộc ở Việt Nam
1. Phân biệt chủng tộc là gì?
Phân biệt chủng tộc niềm tin rằng các nhóm người những đặc điểm hành vi
khác nhau dựa trên ngoại hình, những đặc điểm này khiến một chủng tộc vượt
trội hơn chủng tộc khác. Phân biệt chủng tộc cũng thể biểu hiện dưới dạng định
kiến, phân biệt đối xử hoặc sự đối kháng nhằm vào người khác họ thuộc về một
chủng tộc hoặc sắc tộc khác. [10]
2. Hoạt động chống phân biệt chủng tộc ở Việt Nam
12
- Chính phủ đã ban hành luật pháp nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử dựa
trên chủng tộc và dân tộc. “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau
cùng nhau phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi thị, chia rẽ dân tộc.” (Trích từ
Khoản 2 điều 5 Hiến pháp năm 2013)
- Tích cực phòng chống thù trong giặc ngoài, ngăn chặn các thế lực phản động thực
hiện âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. thể thấy điều này
thông qua việc kiểm soát thông tin trên mạng cùng gắt gao của Việt Nam, như
vào năm 2020, Chính phủ Việt Nam đã yêu cầu các mạng hội như Facebook,
YouTube và Twitter xóa bỏ các tài khoản (Việt Tân), bài viết lẫn video có nội dung
phản động hoặc kích động phân biệt chủng tộc.
- Tích cực phối hợp chặt chẽ để bảo vệ sự an toàn, quyền lợi ích công dân Việt
Nam tại nước ngoài. Thị Thu Hằng phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao đã
từng nhấn mạnh: “Người Việt Nam bị xâm hại hoặc bị ảnh hưởng bởi tình trạng
phân biệt chủng tộc, thể liên hệ thông báo thông qua tổng đài bảo hộ công
dân của Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao Việt Nam và đường dây nóng của các cơ quan
đại diện Việt Nam tại nước ngoài.” [11]
- Ngoài ra, Việt Nam còn tích cực tham gia phê phán, đẩy lùi nạn phân biệt chủng
tộc tầm quy quốc tế. Vào ngày 31/3 vừa qua, Đại sứ Việt Nam Kim Ngọc
cùng các đại sứ khác thuộc khối ASEAN đã lên án các hành động phân biệt chủng
tộc nhắm vào người gốc Á tại Mỹ bằng cách gửi thư đến Ngoại trưởng Mỹ
Anthony Blinken và Hội đồng An ninh quốc gia. [11]
III. Việt Nam phòng chống chủ nghĩa bá quyền
1. Định nghĩa chủ nghĩa bá quyền
Chủ nghĩa quyền (tiếng Anh: hegemony) một khái niệm trong quan hệ quốc
tế, thường được định nghĩa là sự lãnh đạo hay thống trị của một cường quốc đối với
một nhóm các quốc gia khác, thường trong một khu vực. Các quốc gia quyền
13
thường sở hữu quản một tập hợp các tài nguyên quyền lực đa dạng. Đặc biệt,
họ thích “quyền lực cấu trúc,” tức khả năng tạo lập các “luật chơi” chung cho các
thành viên của hệ thống. Trong lịch sử, chủ nghĩa quyền đã đóng vai trò quan
trọng trong các mô hình quan hệ quốc tế và tổ chức xã hội. [12], [13]
2. Hành động của Việt Nam
- Trong việc tranh chấp các lãnh thổ, cụ thể Biển Đông, việc quân sự hóagây
chiến tranh trên các đảo quần đảo thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ
sinh thái biển, hủy hoại các rạn san các nguồn tài nguyên biển. Chính vậy,
Việt Nam đã tăng cường hợp tác với các nước ASEAN các đối tác quốc tế để
giải quyết các vấn đề về môi trường biển tranh chấp lãnh thổ một cách hòa bình
và bền vững (đề ra “Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông”(COC) nhằm giải quyết các
vấn đề phức tạp nảy sinh ở Biển Đông thông qua thương lượng.). [14]
- John Mearsheinmer một giáo Hoa Kỳ về khoa học chính trị tại đại học
Chicago đã từng nhận định rằng: "Nếu một nước khả năng làm quyền xuất
hiện, các nước lớn khác trong khu vực đó sẽ tìm cách kiềm chế". để không trở
thành quốc gia “nạn nhân” của tham vọng trở thành bá quyền của Trung Quốc, Việt
Nam đã tăng cường quan hệ ngoại giao với các cường quốc khác trên thế giới, nhất
là Nhật Băn, Nga, Đức, Hoa Kì,… nhằm gây rào cản đối với Trung Quốc. [13]
- Tuy việc tận dụng các mối quan hệ ngoại giao giữa các nước với nhau có thể giúp
ngăn chặn tham vọng quyền của các quốc gia lớn bằng cách để các nước lớn tự
kiềm chế lẫn nhau, song bản thân Việt Nam vẫn phải nâng năng lực cạnh tranh của
quốc gia, giảm bớt sự phụ thuộc vào các nền kinh tế lớn, từ đó giảm bớt khả năng
bị áp đặt các chính sách kinh tế hoặc chính trị bất lợi trong tương lai, như là:
+ Ưu tiên thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn như sản xuất chip
bán dẫn, khai thác chế biến khoáng sản,…[16]
14
+ Đẩy mạnh hội nhập kinh tế, tích cực tham gia các hiệp định thương mại tự do
như CPTPP, EVFTA để mở rộng thị trường xuất khẩu; tăng cường hợp tác kinh tế
trong khu vực ASEAN để xây dựng khối kinh tế vững mạnh. [17]
IV. Ý nghĩa của bình đẳng dân tộc đối với tiến trình quá độ lên Chủ nghĩa
hội ở Việt Nam hiện nay
1. Bình đẳng dân tộc tạo điều kiện cho sự đoàn kết dân tộc:
- Bình đẳng dân tộc giúp xóa bỏ sự kỳ thị, phân biệt đối xử, từ đó thúc đẩy sự đoàn
kết, hòa hợp giữa các dân tộc. Điều này là cơ sở vững chắc cho sự ổn định chính trị
và xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế và xã hội.
- Ngoài ra, khi một đất nước khối đoàn kết dân tộc vững chắc, sức mạnh của
toàn quốc gia cũng từ đó được gia tăng phát triển, tạo điều kiện đối phó với các
thách thức đến từ trong lẫn ngoài nước.
2. Bình đẳng dân tộc đảm bảo quyền lợi và sự phát triển công bằng
Bình đẳng dân tộc đảm bảo quyền lợi và cơ hội phát triển kinh tế - xã hội cho tất cả
các dân tộc, giúp giảm thiểu sự chênh lệch giàu nghèo và bất công xã hội. Điều này
yếu tố quan trọng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa hội, nơi mọi người đều
được hưởng các thành quả phát triển.
3. Bình đẳng dân tộc thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa
- Bình đẳng dân tộc đảm bảo quyền tham gia của các dân tộc thiểu số vào quá trình
ra quyết định, từ cấp sở đến cấp quốc gia. Điều này góp phần vào tiến trình dân
chủ hóa, một trong những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
- Bình đẳng dân tộc giúp giảm bớt các xung đột căng thẳng hội do sự phân
biệt đối xử và bất công, tạo môi trường ổn định và hòa bình cho sự phát triển.
4. Bình đẳng dân tộc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
- Bình đẳng dân tộc đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục đào tạo cho tất cả các dân
tộc, giúp nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng lao động. Điều này là nền tảng quan
15
trọng để xây dựng một lực lượng lao động chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát
triển của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
- Đảm bảo các dịch vụ y tế phúc lợi hội đến được tất cả các dân tộc, giúp cải
thiện chất lượng cuộc sống sức khỏe cộng đồng, tạo điều kiện để mọi người đều
có thể đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.
- Đảm bảo các dịch vụ y tế phúc lợi hội đến được tất cả các dân tộc, giúp cải
thiện chất lượng cuộc sống sức khỏe cộng đồng, tạo điều kiện để mọi người đều
có thể đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ VỀ SỰ TỒN TẠI CỦA CÁC TÔN GIÁO TRONG
TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I. Quan điểm về tôn giáo trong chế độ Xã hội Chủ nghĩa
1. Tôn giáo là gì?
Tôn giáo niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên hình, tính thiêng liêng.
Những niềm tin này được chấp nhận dựa trên trực giác sự tác động qua lại
một cách huyền bí, nhằm giải thích những vấn đề trên thế gian cũng như thế giới
bên kia. Niềm tin tôn giáo được thể hiện rất đa dạng, thay đổi theo từng thời kỳ lịch
sử và tùy thuộc vào các hoàn cảnh địa lý và văn hóa khác nhau. Mỗi tôn giáo có nội
dung riêng biệt được thực hành qua các nghi lễ hành vi tôn giáo khác nhau,
phù hợp với từng cộng đồng xã hội tôn giáo. [17]
2. Vai trò của tôn giáo đối với đời sống
Tôn giáo đóng vai trò cùng quan trọng trong đời sống hội, Nhà nước cũng
từng nhận định rằng điều không thể thiếu trong đời sống của người dân, do
cho việc này là vì:
16
- Tôn giáo không chỉ đơn thuần một phương tiện truyền tải niềm tin của con
người, mà nó còn là một phần trong việc hòa nhập và văn minh, góp phần xây dựng
đạo đức tốt đẹp cho con người, hướng họ đến Chân – Thiện – Mỹ.
- Tôn giáo cung cấp cho con người ý nghĩa mục đích cho cuộc sống của họ.
Thậm chí, tôn giáo còn giúp con người trở nên gắn với nhau hơn trong những
thời điểm khủng hoảng hay hỗn loạn.[18]
- Tôn giáo còn ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại của con người, gắn chặt
chẽ với đời sống văn hóa của mỗi dân tộc, cộng đồng, nhóm hội mỗi quốc
gia.[17]
3. Chính sách tôn giáo của Việt Nam
Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (số 162/2017/NĐ-CP) nội dung bản về quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật hiện hành của Việt Nam cụ thể như sau:
- Nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng quyền tự do không tín ngưỡng của
mọi người, nghiêm cấm sự phân biệt đối xử về tín ngưỡng, tôn giáo hoặc do
tín ngưỡng, tôn giáo.
- Bất kể công dân nào dù có theo đạo hay không đều bình đẳng trước pháp luật; đều
được hưởng mọi quyền công dân trách nhiệm thực hiện mọi nghĩa vụ công
dân.
- Mọi hoạt động của các tôn giáo phải tuân thủ theo Hiến pháp pháp luật của
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Các hoạt động tôn giáo lợi ích chính đáng hợp pháp của tín đồ sẽ luôn được
Nhà nước đảm bảo. Nếu những hoạt động tôn giáo lợi ích của Tổ quốc nhân
dân thì sẽ càng được khuyến khích.
- Mọi hoạt độngtín đều được bài trừ, mọi hành vi lợi dụng tôn giáo để phá hoại
độc lập dân tộc, chống lại Nhà nước Việt Nam, phá hoại chính sách đại đoàn kết
17
toàn dân tộc, làm tổn hại đến các giá trị văn hóa dân tộc, ngăn cản tín đồ làm nghĩa
vụ công dân đều bị xử lý theo quy định của pháp luật
II. Mối quan hệ gia đình - Tôn giáo trong chế độ Xã hội Chủ nghĩa
1. Tôn giáo xuất hiện trong mối quan hệ gia đình như thế nào?
- Trong quan điểm về hôn nhân gia đình: Một số tôn giáo thể quy định các quy
tắc giá trị của hôn nhân đối với gia đình. dụ như đối với Phật giáo, hôn nhân
không phải một nghĩa vụ tôn giáo nhưng được xem như một phần quan
trọng của đời sống gia đình và xã hội.
- Trong các nghi lễ nghi thức gia đình: Tôn giáo thường các nghi lễ nghi
thức gia đình như lễ cưới, lễ cúng, lễ tế... Ví dụ: Trong Phật giáo thì có lễ Phật Đản,
lễ Vu Lan; trong Thiên Chúa giáo thì có lễ Giáng Sinh, lễ Phục Sinh;…
- Trong giáo dục, giá trị đạo đức phương pháp giải quyết mâu thuẫn: Tôn giáo
thường cung cấp khung nhìn đạo đức giáo dục cho các thành viên gia đình
(Trong Kinh Pháp chứa các lời dạy của Đức Phật về cách sống đạo đức, phát
triển tâm linh đạt được giác ngộ). Bên cạnh đó, tôn giáo cũng cung cấp hướng
dẫn và quy tắc về cách giải quyết mâu thuẫn trong gia đình. Như trong Phật giáo đề
cao sự tự nhận thức, thiền định và thực hành lòng từ bi để giải quyết mâu thuẫn một
cách ôn hòa và không bạo lực. (Nội dung trong “Kinh Pháp Cú”, câu 5)
2. Ảnh hưởng của tôn giáo tới mối quan hệ gia đình trong Xã hội Chủ Nghĩa
- Tôn giáo giúp mối quan hệ gia đình thống nhất ổn định: Tôn giáo thường
khuyến khích sự thống nhất ổn định trong gia đình như một phần của giá trị đạo
đức và tâm linh. Cho nên, việc tuân thủ các nguyên tắc và nghi thức tôn giáo có thể
giúp gia đình duy trì sự hòa hợp và tránh các mâu thuẫn.
- Tôn giáo quy định hôn nhân vai trò gia đình: Tôn giáo thườngcác quy định
quan điểm riêng về hôn nhân, vai trò của mỗi thành viên trong gia đình các
18
mối quan hệ hội. Điều này thể ảnh hưởng đến cách thức các gia đình hiểu
thực hiện các vai trò gia đình, như vai trò của cha mẹ, con cái các quyền lợi
hội.
- Tôn giáo hỗ trợ giáo dục và giá trị đạo đức Tôn giáo thường cung cấp một khung:
nhìn về giáo dục và giá trị đạo đức cho các thành viên trong gia đình. Qua việc giáo
dục về lòng biết ơn, trách nhiệm gia đình nhân ái, tôn giáo thể đóng vai trò
quan trọng trong việc hình thành tính cách và hành vi của các thành viên gia đình.
III. Đánh giá sự tồn tại của tôn giáo trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa
hội
1. Hiện trạng tôn giáo ở Việt Nam
Hiện trạng tôn giáo Việt Nam rất đa dạng phong phú, phản ánh một bức tranh
tôn giáo đa chiều trong hội. Việt Nam hiện có 43 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn
giáo khác nhau được nhà nước công nhận, trong đó các tôn giáo lớn như Phật
giáo, Công giáo, Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài. Ngoài ra, còn nhiều nhóm tôn
giáo khác, cả bản địa du nhập từ nước ngoài, hoạt động các địa phương khác
nhau. Tín ngưỡng dân gian, như thờ cúng tổ tiên, vẫn đóng vai trò quan trọng trong
đời sống của người dân Việt Nam, mặc dù nhiều người có thể không chính thức ghi
nhận mình theo một tôn giáo nào. Sự đa dạng tôn giáo này đòi hỏi các chính sách
tôn giáo phải linh hoạt phù hợp để đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân,
đồng thời đảm bảo an toàn hội. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, bao gồm cả người nước ngoài
trú hợp pháp tại Việt Nam.[19]
2. Vấn đề đặt ra
Không thể phủ nhận được việc những giá trị văn hóa tốt đẹp, tiến bộ của tôn giáo
đã góp phần tạo nên cái đặc sắc cho nền văn hóa dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, bất
19
điều cũng mặt trái của tôn giáo cũng không phải ngoại lệ. Hiện
nay, nước ta đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, như là:
- Việc con cái cha mẹ thuộc hai tôn giáo khác nhau sẽ dễ gây mâu thuẫn trong
việc dạy dỗ giáo dục, bởi mỗi tôn giáo sẽ cách thức nội dung giáo dục
khác nhau, đặc biệt là trong các hệ thống giáo dục công cộng.
- Các tổ chức tôn giáo đẩy mạnh xây dựng sở hạ tầng phục vụ cho việc thờ
cúng, cầu nguyện, điều này dẫn đến việc khiếu kiện, trong đó chủ yếukhiếu kiện
về đất đai ở nhiều địa phương... [20]
- Một số hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng đến
sức khỏe, thời gian, tiền bạc của nhân dân. Một số nơi còn xuất hiện hiện tượng
thương mại hóa các tôn giáo, tín ngưỡng. [20]
- Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền để
can thiệp, gây sức ép, làm mất ổn định chính trị - hội như tạo “điểm nóng” về
tôn giáo, kích động tín đồ, gây áp lực với chính quyền, làm bất ổn về an ninh trật
tự... [20]
3. Giải pháp của Đảng và Nhà nước
Nhằm giải quyết những vấn đề tôn giáo đang gây nhức nhối hoặc tiềm ẩn gây mất
trật tự quốc gia, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều giải pháp cho nhiều khía cạnh
lĩnh vực, như là:
- Tích cực cập nhật những vấn đề liên quan đến tôn giáo, nhằm nghiên cứu, cải
thiện luật pháp Việt Nam nhằm giúp hoàn thiện hơn, xác định trách nhiệm
của từng chính quyền các cấp, đặc biệt là đối với các các bộ đang quản lý nhà nước
về mặt tôn giáo.
- Tích cực phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp và nguồn lực của các tôn
giáo. Động viên, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để chức sắc và tín đồ các tôn
giáo tự nguyện tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
20
- Chú trọng tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo hiến chương
điều lệ đã được Nhà nước công nhận, tuân thủ đúng các quy định pháp luật.
Đảm bảo cho các chức sắc và tín đồ các tôn giáo có thể sinh hoạt tín ngưỡng và tôn
giáo một cách bình thường và hợp pháp.
- Thực hiện chính sách “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, tức chủ động phòng
ngừa, ngăn chặn việc lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch lẫn phản động
chống phá nước ta, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tự giác phối hợp đấu
tranh ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền đạo, hoạt động
mê tín, gây mất ổn định chính trị - xã hội, xâm hại an ninh quốc gia.
- Tăng cường lòng tin của người dân, đặc biệt của người dân vùng sâu vùng xa, với
Đảng và Nhà nước phòng tránh để kẻ xấu lợi dụng lôi kéo, kích động người dân
bằng cách đầu hơn vào việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng
bào,…
- Tăng cường đẩy mạnh việc tuyên truyền, thực hiện các hoạt động đối ngoại tôn
giáo, hướng dẫn tạo điều kiện cho các tôn giáo tham gia hoạt động đối ngoại
nhân dân, làm cho cộng đồng người Việt Nam nước ngoàicác nước hiểu đúng
chính sách tôn giáo của Việt Nam.
IV. Tôn giáo có tồn tại vĩnh viễn trong Xã hội Chủ nghĩa không?
1. Theo quan điểm của Mác – Lênin
Theo Karl Marx, tôn giáo "tiếng thở dài của sinh vật bị áp bức, trái tim của một
thế giới không trái tim, linh hồn của những hoàn cảnh không linh hồn. Đó
thuốc phiện của quần chúng" (Marx, 1844). Tức là, Marx cho rằng tôn giáo xuất
phát từ sự khốn khổ và bất lực của con người trước tự nhiên và xã hội, nên tôn giáo
không phải một yếu tố vĩnh viễn tất yếu trong hội chủ nghĩa. Khi một
hội bước vào giai đoạn phát triển cao nhất định của chủ nghĩa cộng sản điều
kiện vật chất, thì tôn giáo sẽ dần mất đi vai trò của nó, bởi vì mọi người khi ấy đã

Preview text:

1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BÀI KIỂM TRA CUỐI KÌ
HỌ VÀ TÊN: HỒ VŨ LINH PHỤNG MSSV: 23570110995 LỚP: 2321DAI049L04
GVHD: TS. NGUYỄN THỊ THÙY DUYÊN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH- 2024 2 MỤC LỤC
NỘI DUNG THỰC HIỆN----------------------------------------------------------------4
LỜI NÓI ĐẦU------------------------------------------------------------------------------4
CHƯƠNG 1: VIỆT NAM TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN BÌNH ĐẲNG
DÂN TỘC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI TIẾN TRÌNH QUÁ ĐỘ LÊN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY----------------------------------4

I. Vấn đề bình đẳng dân tộc được hiểu như thế nào? Chính sách của Việt
Nam trong từng lĩnh vực để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc---------------4

1. Khái niệm về bình đẳng dân tộc..................................................................4
1.1. Khái niệm:...............................................................................................4
1.2. Chứng minh Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc:............................4
2. Chính sách của Việt Nam trong từng lĩnh vực...........................................5
2.1. Kinh tế:....................................................................................................5
2.2. Chính trị:.................................................................................................6
2.3. Văn hóa:...................................................................................................7
2.4. Giáo dục:..................................................................................................8
2.5. Y tế:........................................................................................................10
II. Hoạt động chống phân biệt chủng tộc ở Việt Nam---------------------------10
1. Phân biệt chủng tộc là gì?...........................................................................10
2. Hoạt động chống phân biệt chủng tộc ở Việt Nam...................................11
III. Việt Nam phòng chống chủ nghĩa bá quyền----------------------------------11
1. Định nghĩa chủ nghĩa bá quyền.................................................................12
2. Hành động của Việt Nam............................................................................12
IV. Ý nghĩa của bình đẳng dân tộc đối với tiến trình quá độ lên Chủ nghĩa
Xã hội ở Việt Nam hiện nay----------------------------------------------------------13

1. Bình đẳng dân tộc tạo điều kiện cho sự đoàn kết dân tộc:......................13
2. Bình đẳng dân tộc đảm bảo quyền lợi và sự phát triển công bằng.........13
3. Bình đẳng dân tộc thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa.................................13 3
4. Bình đẳng dân tộc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực........................14
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ VỀ SỰ TỒN TẠI CỦA CÁC TÔN GIÁO TRONG
TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
------------------------------------------------------------------------------------------------14

I. Quan điểm về tôn giáo trong chế độ Xã hội Chủ nghĩa----------------------14
1. Tôn giáo là gì?..............................................................................................14
2. Vai trò của tôn giáo đối với đời sống.........................................................14
3. Chính sách tôn giáo của Việt Nam.............................................................15
II. Mối quan hệ gia đình - Tôn giáo trong chế độ Xã hội Chủ nghĩa---------16
1. Tôn giáo xuất hiện trong mối quan hệ gia đình như thế nào?................16
2. Ảnh hưởng của tôn giáo tới mối quan hệ gia đình trong Xã hội Chủ
Nghĩa.................................................................................................................16

III. Đánh giá sự tồn tại của tôn giáo trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa Xã
hội-----------------------------------------------------------------------------------------17

1. Hiện trạng tôn giáo ở Việt Nam.................................................................17
2. Vấn đề đặt ra...............................................................................................17
3. Giải pháp của Đảng và Nhà nước..............................................................18
IV. Tôn giáo có tồn tại vĩnh viễn trong Xã hội Chủ nghĩa không?------------19
1. Theo quan điểm của Mác – Lênin..............................................................19
2. Thực tế ở Việt Nam.....................................................................................20
KẾT LUẬN---------------------------------------------------------------------------------20
TÀI LIỆU THAM KHẢO---------------------------------------------------------------21
Chương 1:--------------------------------------------------------------------------------21
Chương 2:--------------------------------------------------------------------------------23 4
NỘI DUNG THỰC HIỆN CÂU HỎI:
1. Việt Nam đã và đang làm gì để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc, ý nghĩa đối
với tiến trình quá độ lên CNXH ở Việt Nam hiện nay. (7 điểm)
2. Đánh giá về sự tồn tại của các tôn giáo trong tiến trình xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay? (3 điểm) LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam, một quốc gia đa dạng về dân tộc và tôn giáo, đã và đang nỗ lực không
ngừng trong việc thúc đẩy quyền bình đẳng dân tộc và tôn giáo. Với 54 dân tộc anh
em cùng chung sống, Việt Nam đã xây dựng và thực hiện nhiều chính sách nhằm
đảm bảo sự bình đẳng và phát triển bền vững cho tất cả các dân tộc. Sự bình đẳng
này không chỉ là một nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp mà còn là một yếu tố chiến
lược quan trọng trong tiến trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Bình đẳng dân tộc không chỉ giúp xóa bỏ sự kỳ thị, phân biệt đối xử mà còn thúc
đẩy sự đoàn kết và hòa hợp giữa các dân tộc. Điều này tạo ra một cơ sở vững chắc
cho sự ổn định chính trị và xã hội, đồng thời là động lực quan trọng để phát triển
kinh tế - xã hội. Chính sách bình đẳng dân tộc của Việt Nam đã được triển khai
trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục và y tế, mang lại
những kết quả đáng khích lệ.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chú trọng vào việc phòng chống chủ nghĩa bá quyền
và các hành vi phân biệt chủng tộc, nhằm bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi
của các dân tộc thiểu số. Những nỗ lực này không chỉ nhằm duy trì sự ổn định nội
bộ mà còn góp phần xây dựng hình ảnh một Việt Nam hòa bình, ổn định và phát
triển trên trường quốc tế.
Tiểu luận này gồm hai chương chính, trong đó nó sẽ phân tích chi tiết về những nỗ
lực và thành tựu của Việt Nam trong việc thực hiện quyền bình đẳng dân tộc và tôn 5
giáo, đồng thời đánh giá ý nghĩa của những nỗ lực này đối với tiến trình xây dựng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
CHƯƠNG 1: VIỆT NAM TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN
BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI TIẾN
TRÌNH QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I. Vấn đề bình đẳng dân tộc được hiểu như thế nào? Chính sách của Việt Nam
trong từng lĩnh vực để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc
1. Khái niệm về bình đẳng dân tộc 1.1. Khái niệm:
Bình đẳng dân tộc là quyền của các dân tộc trong một quốc gia đều đều được bảo
đảm các quyền cơ bản (quyền sống, quyền tự do, mưu cầu hạnh phúc và phát triển)
và nghĩa vụ như nhau mà không bị phân biệt theo trình độ phát triển, màu da, đa số,
thiểu số…. Quyền bình đẳng dân tộc ở Việt Nam được ghi trong các Hiến
pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992. [1]
1.2. Chứng minh Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc:
Ngay tại trên mảnh đất hình chữ S của Việt Nam, đây chính là nơi mà 54 dân tộc
khác nhau (Dân tộc Kinh chiếm đại đa số, khoảng 86% trên tổng dân số, còn các
dân tộc khác chiếm 14%) đang sinh sống rải rác trên khắp mảnh đất này. Ngoài ra,
có thể thấy được rằng từng dân tộc khác nhau của Việt Nam sẽ sở hữu cho mình
các văn hóa khác nhau từ trang phục (Trang phục thổ cẩm của người H’mông), âm
nhạc (Điệu múa Apsara của dân tộc Khmer), lễ hội (lễ hội Gầu Tào của dân tộc
Tày) cho đến hệ thống ngôn ngữ riêng (tiếng Kinh, tiếng Tày, tiếng Mường,...). Từ
tất cả những yếu tố đã kể trên, chúng đã chứng minh được độ phong phú về mặt
dân tộc của Việt Nam. [2], [3] 6
2. Chính sách của Việt Nam trong từng lĩnh vực 2.1. Kinh tế:
- Việt Nam đã tổ chức nhiều hội nghị và đề ra nhiều chính sách khác nhau để giải
quyết tình trạng nghèo đói, giảm thiểu khoảng cách phát triển kinh tế giữa các
vùng. Có thể thấy điều đó thông qua các chương trình xóa đói giảm nghèo tiêu biểu
được ban hành và thực hiện như sau:
+ Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012 -2015,
được phê duyệt theo Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 8/10/2012 của Thủ
tướng chính phủ, tập trung vào việc hỗ trợ các xã, các thôn, các bản đặc biệt khó
khăn. Đồng thời họ còn nhân rộng mô hình giảm nghèo và tăng cường đẩy
mạnh việc truyền thông, giám sát đánh giá thực hiện Chương trình. Chương
trình này thậm chí còn được thực hiện tiếp tục vào giai đoạn 2016-2020. [4]
+ Thủ tướng Chính phủ còn ban hành Chính sách 755 – Chính sách hỗ trợ đất ở,
đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã,
thôn, bản đặc biệt khó khăn, nhằm trực tiếp hỗ trợ dân tộc thiểu số nghèo và các
khu vực đặc biệt khó khăn chưa có đất ở, đất sản xuất theo mức quy định của
địa phương, khó khăn về nước sinh hoạt. [4]
+ Ngoài ra có một chính sách có nội dung tương tự như chương trình 134 và
chương trình 755 đã được thực hiện trước đây, đó là chính sách đặc thù hỗ trợ
phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 –
2020. Nhờ có nó, các thôn, bản đặc biệt khó khăn ngoài được việc hỗ trợ đất ở,
đất sinh hoạt, nước sinh hoạt ra thì nó còn giúp bố trí sắp xếp ổn định dân cư
cho các hộ gia đình dân tộc thiểu số còn du canh du cư và hỗ trợ vốn vay ưu đãi
có thời hạn lên đến 10 năm với lãi suất thấp hơn 50% cho hộ nghèo. [4]
+ Ngoài những chính sách hỗ trợ vùng sâu vùng xa kia, còn có những chính
sách khác vốn được thực hiện từ năm 2010 lại được tiếp tục thực hiện trong giai 7
đoạn 2010 – 2020, nhằm hỗ trợ tín dụng, giáo dục, đào tạo nghề và giới thiệu
việc làm cho người nghèo. [4]
- Để phát triển kinh tế của các khu vực nơi mà các dân tộc thiểu số đang sinh số,
Việt Nam cũng đã chú trọng trong việc phát triển giao thông nhằm đáp ứng tốt nhu
cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân. Ví dụ như:
+ Tại huyện Cẩm Thủy và huyện Như Thanh (Thanh Hóa), Nhà nước đã cho
xây dựng hệ thống đường huyện kết nối với các đường tỉnh trên địa bàn nhằm
hỗ trợ phát triển vùng liên huyện. Trong đó, huyện Cẩm Thủy nằm về phía Tây
của vùng liên huyện số 5, giáp trung tâm tiểu vùng là huyện Ngọc Lặc, gần các
hành lang kinh tế quan trọng của tỉnh là đường Hồ Chí Minh và quốc lộ 217 kết
nối với các vùng lân cận, do đó làm tăng lợi thế phát triển kinh tế - xã hội của huyện. [5] 2.2. Chính trị:
- Việt Nam đã tạo điều kiện cho người dân tộc thiểu số được tham gia bầu cử.
Chúng ta có thể thấy điều đó thông qua kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV,
99,57% cử tri cả nước đã đi bầu cử. Một trong những lí do mà nước ta đạt được kết
quả này là nhờ việc bảo đảm quyền bình trên lĩnh vực chính trị đối với phụ nữ dân
tộc thiểu số, các nữ cử tri thuộc dân tộc thiểu số cũng dần ý thức rõ hơn hơn về
trách nhiệm của mình trong việc bầu cử Quốc hội. [6]
- Ngoài ra, Việt Nam còn khuyến khích các người dân tộc thiểu số tham gia vào bộ
máy chính trị nhà nước. Như trong những năm qua, Quốc hội khóa XIII có 39/500
đại biểu là phụ nữ dân tộc thiểu số, chiếm tỷ lệ 7,8% so với tổng số Đại biểu Quốc
Hội; Quốc hội khóa XIV có 41/496 đại biểu là phụ nữ dân tộc thiểu số, chiếm tỷ lệ
8,27% so với tổng số Đại biểu Quốc Hội. Từ những số liệu trên, chúng ta có thể
thấy số đại biểu Quốc hội người dân tộc ít người, đặc biệt là phụ nữ, đang có xu
hướng tăng dần qua từng năm. [6] 8 2.3. Văn hóa:
- Nhiều chương trình đã được triển khai bởi chính phủ Việt Nam nhằm bảo tồn và
phát huy các giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số. Một số ví dụ nổi bật của việc
này có thể nhắc đến việc Đảng và Nhà nước đã cho ra những chính sách đặc biệt để
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Khmer, bao gồm những hành động cụ thể như sau:
+ Đặc biệt quan tâm, đầu tư nhiều nguồn nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội
như: Đầu tư, khôi phục, phát triển một số ngành nghề truyền thống, hướng dẫn
kỹ thuật, mặt bằng nhà xưởng, giới thiệu và bao tiêu sản phẩm; gắn phát triển
làng nghề truyền thống với phát triển văn hóa và du lịch theo mô hình làng văn
hóa – du lịch của đồng bào Khmer. [7]
+ Đưa các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Khmer vào trong các sản
phẩm du lịch như: dựng các tiết mục văn nghệ phục vụ khách du lịch dựa trên
kho tàng văn hóa truyền thống dân tộc Khmer, sản xuất đồ thủ công lưu niệm từ
các vật liệu truyền thống, phục vụ du khách những món ăn đặc trưng của đồng
bào, tạo ra văn hóa ẩm thực độc đáo [7]
- Ngoài việc bảo tồn và giữ gìn, Nhà nước cũng tập trung vào việc giáo dục, nâng
cao nhận thức cho người dân vì đây chính là nền tảng cho việc bảo tồn bản sắc văn
hóa của một dân tộc, đặc biệt là đối với dân tộc thiểu số. Đã có nhiều phương thức
được thực hiện đối văn hóa của người Khmer, như là:
+ Tổ chức học tập, triển khai các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về văn hóa; tập
huấn kiến thức, cung cấp các ấn phẩm, tờ rơi có nội dung về giữ gìn, phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc Khmer; tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa - thể thao…[7] 9
+ Đẩy mạnh các hoạt động văn hóa thông tin, tập trung tuyên truyền hướng tại
cơ sở, thực hiện tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, giữ gìn và phát huy các giá trị
truyền thống tốt đẹp trong văn dân tộc Khmer…[7] 2.4. Giáo dục:
Để tạo điều kiện cho tất cả mọi vùng miền đều được có cơ hội tiếp cận giáo dục
như nhau, Nhà nước đã dành những hỗ trợ đặc biệt cho vùng có dân tộc thiểu số sinh sống, như là:
- Mở rộng trường, lớp đặc biệt để người dân tộc vùng sâu vùng xa được hưởng
chính sách ưu đãi về giáo dục như các trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT),
Dự bị đại học Dân tộc (DBĐHDT) và phổ thông dân tộc bán trú (PTDTBT). [8]
- Triển khai chính sách miễn, giảm học phí và trợ cấp cho người dân tộc thiểu số,
cụ thể theo Nghị định số 57/2017/NĐ-CP, ban hành ngày 09/05/2017 về “Quy định
chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh
viên dân tộc thiểu số rất ít người” như sau:
+ Trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số rất ít người học tại các cơ sở giáo dục mầm non
được hưởng mức hỗ trợ học tập bằng 30% mức lương cơ sở/trẻ/tháng.
+ Học sinh dân tộc thiểu số rất ít người học tại các trường tiểu học (TiH), trường
trung học cơ sở (THCS), trường trung học phổ thông (THPT) được hưởng mức
hỗ trợ học tập bằng 40% mức lương cơ sở/học sinh/tháng.
+ Học sinh dân tộc thiểu số rất ít người học tại các trường PTDTBT hoặc là học
sinh bán trú học tại trường phổ thông công lập có học sinh bán trú được hưởng
mức hỗ trợ học tập bằng 60% mức lương cơ sở/học sinh/tháng.
+ Học sinh dân tộc thiểu số rất ít người học tại các trường PTDTNT được hưởng
mức hỗ trợ học tập bằng 100% mức lương cơ sở/học sinh/tháng. 10
+ Học sinh sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người học tại các trường, khoa dự bị
đại học, các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp được được
hưởng mức hỗ trợ học tập bằng 100% mức lương cơ sở/người/tháng.
- Đội ngũ lao động, cán bộ thuộc dân tộc ít người là lực lượng vô cùng tiềm năng
cho đất nước, song lại có không ít trường hợp vì hoàn cảnh kinh tế mà không có cơ
hội được lên cao học. Chính vì thế, Nhà nước Việt Nam đã triển khai chính sách ưu
tiên xét tuyển đại học, cao đẳng cho đội ngũ này. Chúng ta có thể thấy thông qua minh chứng sau đây:
+ Đối với học sinh người dân tộc thiểu số, khi xét tuyển Đại học, Cao đẳng,
chính phủ sẽ sử dụng chế độ tính điểm ưu tiên như là một biện pháp để đảm bảo
cho họ có thể tiếp xúc với các bậc học cao một cách dễ dàng hơn. Điều này đã
thể hiện rằng ngành giáo dục đang hướng đến sự công bằng về cơ hội học tập
sau khi đã xem xét kĩ càng đến điều kiện đời sống của những địa bàn đặc thù. [8]
+ Đảng và Nhà nước ta ngoài sử dụng chế độ tính điểm ưu tiên thì còn dùng chế
độ cử tuyển, tức là: Con em dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp Đại học, Trung
cấp chuyên nghiệp,… sẽ được ưu tiên sắp xếp vị trí công tác tại quê hương
nhằm tăng cường đội ngũ lao động, cán bộ có trình độ chuyên môn cao cho các
vùng dân tộc nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục lẫn giảm tình trạng mất cân bằng
số lượng đội ngũ chuyên môn. Bên cạnh đó, chế độ này còn giúp khắc phục vấn
đề các con em vùng sâu vùng xa chưa đáp ứng được yêu cầu thi tuyển vào các
trường Đại học, Cao đẳng theo quy chế tuyển sinh hiện hành. [8] 2.5. Y tế:
Một trong những nhân tố giúp một đất nước phát triển hùng mạnh đó là việc nhân
dân được đảm bảo sức khỏe. Việt Nam do nhận thức rõ ràng điều này đã chú trọng
vào lĩnh vực y tế rất nhiều, đặc biệt là ngành y tế tại các vùng dân tộc. Ta có thể 11
thấy điều đó thông qua các chính sách phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng
đồng bào dân tộc Khmer sau đây [9]:
- Thứ nhất: Xây dựng phân công rõ trách nhiệm và kiểm tra hoạt động của trạm y tế
cơ sở, tổ chức xã hội trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe đồng
bào dân tộc Khmer; thường xuyên chỉ đạo trạm y tế cấp cơ sở phối hợp với bệnh
viện, trung tâm y tế tuyến trên thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe lưu
động, nhằm tạo thuận lợi cho chữa trị cho người dân.
- Thứ hai: Nghiên cứu và bổ sung luật pháp để bảo vệ sinh mạng, sức khỏe, nhân
phẩm của người bệnh và của cán bộ y tế trong lúc làm nhiệm vụ: Thực hiện bảo
hiểm rủi ro nghề nghiệp đối với cán bộ y tế và tăng cường khám chữa bệnh cho dân
tộc Khmer, đặc biệt là những đối tượng yếu thế trong xã hội như trẻ em, người khuyết tật, phụ nữ.
- Thứ ba: Khuyến khích tư nhân đầu tư xây dựng hệ thống phòng khám ở vùng sâu
vùng xa, đông đồng bào Khmer sinh sống, đồng thời Nhà nước cũng chú trọng hơn
việc quản lý và kiểm tra thường xuyên nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn của các nhà
đầu tư, cũng như phát hiện và xử lý những vẫn đề sai phạm trong lĩnh vực Y tế.
II. Hoạt động chống phân biệt chủng tộc ở Việt Nam
1. Phân biệt chủng tộc là gì?
Phân biệt chủng tộc là niềm tin rằng các nhóm người có những đặc điểm hành vi
khác nhau dựa trên ngoại hình, và những đặc điểm này khiến một chủng tộc vượt
trội hơn chủng tộc khác. Phân biệt chủng tộc cũng có thể biểu hiện dưới dạng định
kiến, phân biệt đối xử hoặc sự đối kháng nhằm vào người khác vì họ thuộc về một
chủng tộc hoặc sắc tộc khác. [10]
2. Hoạt động chống phân biệt chủng tộc ở Việt Nam 12
- Chính phủ đã ban hành luật pháp nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử dựa
trên chủng tộc và dân tộc. “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau
cùng nhau phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kì thị, chia rẽ dân tộc.” (Trích từ
Khoản 2 điều 5 Hiến pháp năm 2013)
- Tích cực phòng chống thù trong giặc ngoài, ngăn chặn các thế lực phản động thực
hiện âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Có thể thấy điều này
thông qua việc kiểm soát thông tin trên mạng vô cùng gắt gao của Việt Nam, như
vào năm 2020, Chính phủ Việt Nam đã yêu cầu các mạng xã hội như Facebook,
YouTube và Twitter xóa bỏ các tài khoản (Việt Tân), bài viết lẫn video có nội dung
phản động hoặc kích động phân biệt chủng tộc.
- Tích cực phối hợp chặt chẽ để bảo vệ sự an toàn, quyền và lợi ích công dân Việt
Nam tại nước ngoài. Bà Lê Thị Thu Hằng – phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao đã
từng nhấn mạnh: “Người Việt Nam bị xâm hại hoặc bị ảnh hưởng bởi tình trạng
phân biệt chủng tộc, có thể liên hệ và thông báo thông qua tổng đài bảo hộ công
dân của Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao Việt Nam và đường dây nóng của các cơ quan
đại diện Việt Nam tại nước ngoài.” [11]
- Ngoài ra, Việt Nam còn tích cực tham gia phê phán, đẩy lùi nạn phân biệt chủng
tộc tầm quy mô quốc tế. Vào ngày 31/3 vừa qua, Đại sứ Việt Nam Hà Kim Ngọc
cùng các đại sứ khác thuộc khối ASEAN đã lên án các hành động phân biệt chủng
tộc nhắm vào người gốc Á tại Mỹ bằng cách gửi thư đến Ngoại trưởng Mỹ
Anthony Blinken và Hội đồng An ninh quốc gia. [11]
III. Việt Nam phòng chống chủ nghĩa bá quyền
1. Định nghĩa chủ nghĩa bá quyền
Chủ nghĩa bá quyền (tiếng Anh: hegemony) là một khái niệm trong quan hệ quốc
tế, thường được định nghĩa là sự lãnh đạo hay thống trị của một cường quốc đối với
một nhóm các quốc gia khác, thường là trong một khu vực. Các quốc gia bá quyền 13
thường sở hữu và quản lý một tập hợp các tài nguyên quyền lực đa dạng. Đặc biệt,
họ thích “quyền lực cấu trúc,” tức khả năng tạo lập các “luật chơi” chung cho các
thành viên của hệ thống. Trong lịch sử, chủ nghĩa bá quyền đã đóng vai trò quan
trọng trong các mô hình quan hệ quốc tế và tổ chức xã hội. [12], [13]
2. Hành động của Việt Nam
- Trong việc tranh chấp các lãnh thổ, cụ thể là Biển Đông, việc quân sự hóa và gây
chiến tranh trên các đảo và quần đảo có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ
sinh thái biển, hủy hoại các rạn san hô và các nguồn tài nguyên biển. Chính vì vậy,
Việt Nam đã tăng cường hợp tác với các nước ASEAN và các đối tác quốc tế để
giải quyết các vấn đề về môi trường biển và tranh chấp lãnh thổ một cách hòa bình
và bền vững (đề ra “Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông”(COC) nhằm giải quyết các
vấn đề phức tạp nảy sinh ở Biển Đông thông qua thương lượng.). [14]
- John Mearsheinmer – một giáo sư Hoa Kỳ về khoa học chính trị tại đại học
Chicago đã từng nhận định rằng: "Nếu một nước có khả năng làm bá quyền xuất
hiện, các nước lớn khác trong khu vực đó sẽ tìm cách kiềm chế". Và để không trở
thành quốc gia “nạn nhân” của tham vọng trở thành bá quyền của Trung Quốc, Việt
Nam đã tăng cường quan hệ ngoại giao với các cường quốc khác trên thế giới, nhất
là Nhật Băn, Nga, Đức, Hoa Kì,… nhằm gây rào cản đối với Trung Quốc. [13]
- Tuy việc tận dụng các mối quan hệ ngoại giao giữa các nước với nhau có thể giúp
ngăn chặn tham vọng bá quyền của các quốc gia lớn bằng cách để các nước lớn tự
kiềm chế lẫn nhau, song bản thân Việt Nam vẫn phải nâng năng lực cạnh tranh của
quốc gia, giảm bớt sự phụ thuộc vào các nền kinh tế lớn, từ đó giảm bớt khả năng
bị áp đặt các chính sách kinh tế hoặc chính trị bất lợi trong tương lai, như là:
+ Ưu tiên thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn như sản xuất chip
bán dẫn, khai thác chế biến khoáng sản,…[16] 14
+ Đẩy mạnh hội nhập kinh tế, tích cực tham gia các hiệp định thương mại tự do
như CPTPP, EVFTA để mở rộng thị trường xuất khẩu; tăng cường hợp tác kinh tế
trong khu vực ASEAN để xây dựng khối kinh tế vững mạnh. [17]
IV. Ý nghĩa của bình đẳng dân tộc đối với tiến trình quá độ lên Chủ nghĩa Xã
hội ở Việt Nam hiện nay
1. Bình đẳng dân tộc tạo điều kiện cho sự đoàn kết dân tộc:
- Bình đẳng dân tộc giúp xóa bỏ sự kỳ thị, phân biệt đối xử, từ đó thúc đẩy sự đoàn
kết, hòa hợp giữa các dân tộc. Điều này là cơ sở vững chắc cho sự ổn định chính trị
và xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế và xã hội.
- Ngoài ra, khi một đất nước có khối đoàn kết dân tộc vững chắc, sức mạnh của
toàn quốc gia cũng từ đó được gia tăng phát triển, tạo điều kiện đối phó với các
thách thức đến từ trong lẫn ngoài nước.
2. Bình đẳng dân tộc đảm bảo quyền lợi và sự phát triển công bằng
Bình đẳng dân tộc đảm bảo quyền lợi và cơ hội phát triển kinh tế - xã hội cho tất cả
các dân tộc, giúp giảm thiểu sự chênh lệch giàu nghèo và bất công xã hội. Điều này
là yếu tố quan trọng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nơi mọi người đều
được hưởng các thành quả phát triển.
3. Bình đẳng dân tộc thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa
- Bình đẳng dân tộc đảm bảo quyền tham gia của các dân tộc thiểu số vào quá trình
ra quyết định, từ cấp cơ sở đến cấp quốc gia. Điều này góp phần vào tiến trình dân
chủ hóa, một trong những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
- Bình đẳng dân tộc giúp giảm bớt các xung đột và căng thẳng xã hội do sự phân
biệt đối xử và bất công, tạo môi trường ổn định và hòa bình cho sự phát triển.
4. Bình đẳng dân tộc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
- Bình đẳng dân tộc đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục và đào tạo cho tất cả các dân
tộc, giúp nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng lao động. Điều này là nền tảng quan 15
trọng để xây dựng một lực lượng lao động chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát
triển của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
- Đảm bảo các dịch vụ y tế và phúc lợi xã hội đến được tất cả các dân tộc, giúp cải
thiện chất lượng cuộc sống và sức khỏe cộng đồng, tạo điều kiện để mọi người đều
có thể đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.
- Đảm bảo các dịch vụ y tế và phúc lợi xã hội đến được tất cả các dân tộc, giúp cải
thiện chất lượng cuộc sống và sức khỏe cộng đồng, tạo điều kiện để mọi người đều
có thể đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ VỀ SỰ TỒN TẠI CỦA CÁC TÔN GIÁO TRONG
TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I. Quan điểm về tôn giáo trong chế độ Xã hội Chủ nghĩa 1. Tôn giáo là gì?
Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên và vô hình, có tính thiêng liêng.
Những niềm tin này được chấp nhận dựa trên trực giác và có sự tác động qua lại
một cách huyền bí, nhằm giải thích những vấn đề trên thế gian cũng như ở thế giới
bên kia. Niềm tin tôn giáo được thể hiện rất đa dạng, thay đổi theo từng thời kỳ lịch
sử và tùy thuộc vào các hoàn cảnh địa lý và văn hóa khác nhau. Mỗi tôn giáo có nội
dung riêng biệt và được thực hành qua các nghi lễ và hành vi tôn giáo khác nhau,
phù hợp với từng cộng đồng xã hội tôn giáo. [17]
2. Vai trò của tôn giáo đối với đời sống
Tôn giáo đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội, Nhà nước cũng
từng nhận định rằng nó là điều không thể thiếu trong đời sống của người dân, lí do cho việc này là vì: 16
- Tôn giáo không chỉ đơn thuần là một phương tiện truyền tải niềm tin của con
người, mà nó còn là một phần trong việc hòa nhập và văn minh, góp phần xây dựng
đạo đức tốt đẹp cho con người, hướng họ đến Chân – Thiện – Mỹ.
- Tôn giáo cung cấp cho con người ý nghĩa và mục đích cho cuộc sống của họ.
Thậm chí, tôn giáo còn giúp con người trở nên gắn bó với nhau hơn trong những
thời điểm khủng hoảng hay hỗn loạn.[18]
- Tôn giáo còn có ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại của con người, nó gắn bó chặt
chẽ với đời sống văn hóa của mỗi dân tộc, cộng đồng, nhóm xã hội và mỗi quốc gia.[17]
3. Chính sách tôn giáo của Việt Nam
Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (số 162/2017/NĐ-CP) nội dung cơ bản về quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật hiện hành của Việt Nam cụ thể như sau:
- Nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của
mọi người, nghiêm cấm sự phân biệt đối xử về tín ngưỡng, tôn giáo hoặc vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.
- Bất kể công dân nào dù có theo đạo hay không đều bình đẳng trước pháp luật; đều
được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện mọi nghĩa vụ công dân.
- Mọi hoạt động của các tôn giáo phải tuân thủ theo Hiến pháp và pháp luật của
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Các hoạt động tôn giáo vì lợi ích chính đáng và hợp pháp của tín đồ sẽ luôn được
Nhà nước đảm bảo. Nếu những hoạt động tôn giáo vì lợi ích của Tổ quốc và nhân
dân thì sẽ càng được khuyến khích.
- Mọi hoạt động mê tín đều được bài trừ, mọi hành vi lợi dụng tôn giáo để phá hoại
độc lập dân tộc, chống lại Nhà nước Việt Nam, phá hoại chính sách đại đoàn kết 17
toàn dân tộc, làm tổn hại đến các giá trị văn hóa dân tộc, ngăn cản tín đồ làm nghĩa
vụ công dân đều bị xử lý theo quy định của pháp luật
II. Mối quan hệ gia đình - Tôn giáo trong chế độ Xã hội Chủ nghĩa
1. Tôn giáo xuất hiện trong mối quan hệ gia đình như thế nào?
- Trong quan điểm về hôn nhân gia đình: Một số tôn giáo có thể quy định các quy
tắc và giá trị của hôn nhân đối với gia đình. Ví dụ như đối với Phật giáo, hôn nhân
không phải là một nghĩa vụ tôn giáo nhưng nó được xem như là một phần quan
trọng của đời sống gia đình và xã hội.
- Trong các nghi lễ và nghi thức gia đình: Tôn giáo thường có các nghi lễ và nghi
thức gia đình như lễ cưới, lễ cúng, lễ tế... Ví dụ: Trong Phật giáo thì có lễ Phật Đản,
lễ Vu Lan; trong Thiên Chúa giáo thì có lễ Giáng Sinh, lễ Phục Sinh;…
- Trong giáo dục, giá trị đạo đức và phương pháp giải quyết mâu thuẫn: Tôn giáo
thường cung cấp khung nhìn đạo đức và giáo dục cho các thành viên gia đình
(Trong Kinh Pháp Cú chứa các lời dạy của Đức Phật về cách sống đạo đức, phát
triển tâm linh và đạt được giác ngộ). Bên cạnh đó, tôn giáo cũng cung cấp hướng
dẫn và quy tắc về cách giải quyết mâu thuẫn trong gia đình. Như trong Phật giáo đề
cao sự tự nhận thức, thiền định và thực hành lòng từ bi để giải quyết mâu thuẫn một
cách ôn hòa và không bạo lực. (Nội dung trong “Kinh Pháp Cú”, câu 5)
2. Ảnh hưởng của tôn giáo tới mối quan hệ gia đình trong Xã hội Chủ Nghĩa
- Tôn giáo giúp mối quan hệ gia đình thống nhất và ổn định: Tôn giáo thường
khuyến khích sự thống nhất và ổn định trong gia đình như một phần của giá trị đạo
đức và tâm linh. Cho nên, việc tuân thủ các nguyên tắc và nghi thức tôn giáo có thể
giúp gia đình duy trì sự hòa hợp và tránh các mâu thuẫn.
- Tôn giáo quy định hôn nhân và vai trò gia đình: Tôn giáo thường có các quy định
và quan điểm riêng về hôn nhân, vai trò của mỗi thành viên trong gia đình và các 18
mối quan hệ xã hội. Điều này có thể ảnh hưởng đến cách thức các gia đình hiểu và
thực hiện các vai trò gia đình, như vai trò của cha mẹ, con cái và các quyền lợi xã hội.
- Tôn giáo hỗ trợ giáo dục và giá trị đạo đức: Tôn giáo thường cung cấp một khung
nhìn về giáo dục và giá trị đạo đức cho các thành viên trong gia đình. Qua việc giáo
dục về lòng biết ơn, trách nhiệm gia đình và nhân ái, tôn giáo có thể đóng vai trò
quan trọng trong việc hình thành tính cách và hành vi của các thành viên gia đình.
III. Đánh giá sự tồn tại của tôn giáo trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa Xã hội
1. Hiện trạng tôn giáo ở Việt Nam
Hiện trạng tôn giáo ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú, phản ánh một bức tranh
tôn giáo đa chiều trong xã hội. Việt Nam hiện có 43 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn
giáo khác nhau được nhà nước công nhận, trong đó có các tôn giáo lớn như Phật
giáo, Công giáo, Tin Lành, Hòa Hảo, và Cao Đài. Ngoài ra, còn có nhiều nhóm tôn
giáo khác, cả bản địa và du nhập từ nước ngoài, hoạt động ở các địa phương khác
nhau. Tín ngưỡng dân gian, như thờ cúng tổ tiên, vẫn đóng vai trò quan trọng trong
đời sống của người dân Việt Nam, mặc dù nhiều người có thể không chính thức ghi
nhận mình theo một tôn giáo nào. Sự đa dạng tôn giáo này đòi hỏi các chính sách
tôn giáo phải linh hoạt và phù hợp để đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân,
đồng thời đảm bảo an toàn xã hội. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, bao gồm cả người nước ngoài cư
trú hợp pháp tại Việt Nam.[19]
2. Vấn đề đặt ra
Không thể phủ nhận được việc những giá trị văn hóa tốt đẹp, tiến bộ của tôn giáo
đã góp phần tạo nên cái đặc sắc cho nền văn hóa dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, bất 19
kì điều gì cũng có mặt trái của nó và tôn giáo cũng không phải là ngoại lệ. Hiện
nay, nước ta đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, như là:
- Việc con cái có cha mẹ thuộc hai tôn giáo khác nhau sẽ dễ gây mâu thuẫn trong
việc dạy dỗ và giáo dục, bởi vì mỗi tôn giáo sẽ có cách thức và nội dung giáo dục
khác nhau, đặc biệt là trong các hệ thống giáo dục công cộng.
- Các tổ chức tôn giáo đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc thờ
cúng, cầu nguyện, điều này dẫn đến việc khiếu kiện, trong đó chủ yếu là khiếu kiện
về đất đai ở nhiều địa phương... [20]
- Một số hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng đến
sức khỏe, thời gian, tiền bạc của nhân dân. Một số nơi còn xuất hiện hiện tượng
thương mại hóa các tôn giáo, tín ngưỡng. [20]
- Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền để
can thiệp, gây sức ép, làm mất ổn định chính trị - xã hội như tạo “điểm nóng” về
tôn giáo, kích động tín đồ, gây áp lực với chính quyền, làm bất ổn về an ninh trật tự... [20]
3. Giải pháp của Đảng và Nhà nước
Nhằm giải quyết những vấn đề tôn giáo đang gây nhức nhối hoặc tiềm ẩn gây mất
trật tự quốc gia, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều giải pháp cho nhiều khía cạnh và lĩnh vực, như là:
- Tích cực cập nhật những vấn đề liên quan đến tôn giáo, nhằm nghiên cứu, cải
thiện luật pháp Việt Nam nhằm giúp nó hoàn thiện hơn, xác định rõ trách nhiệm
của từng chính quyền các cấp, đặc biệt là đối với các các bộ đang quản lý nhà nước về mặt tôn giáo.
- Tích cực phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp và nguồn lực của các tôn
giáo. Động viên, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để chức sắc và tín đồ các tôn
giáo tự nguyện tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 20
- Chú trọng và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo hiến chương
và điều lệ đã được Nhà nước công nhận, tuân thủ đúng các quy định pháp luật.
Đảm bảo cho các chức sắc và tín đồ các tôn giáo có thể sinh hoạt tín ngưỡng và tôn
giáo một cách bình thường và hợp pháp.
- Thực hiện chính sách “phòng bệnh hơn là chữa bệnh”, tức là chủ động phòng
ngừa, ngăn chặn việc lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch lẫn phản động
chống phá nước ta, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tự giác phối hợp đấu
tranh ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền tà đạo, hoạt động
mê tín, gây mất ổn định chính trị - xã hội, xâm hại an ninh quốc gia.
- Tăng cường lòng tin của người dân, đặc biệt của người dân vùng sâu vùng xa, với
Đảng và Nhà nước và phòng tránh để kẻ xấu lợi dụng lôi kéo, kích động người dân
bằng cách là đầu tư hơn vào việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào,…
- Tăng cường đẩy mạnh việc tuyên truyền, thực hiện các hoạt động đối ngoại tôn
giáo, hướng dẫn và tạo điều kiện cho các tôn giáo tham gia hoạt động đối ngoại
nhân dân, làm cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và các nước hiểu đúng
chính sách tôn giáo của Việt Nam.
IV. Tôn giáo có tồn tại vĩnh viễn trong Xã hội Chủ nghĩa không?
1. Theo quan điểm của Mác – Lênin
Theo Karl Marx, tôn giáo là "tiếng thở dài của sinh vật bị áp bức, trái tim của một
thế giới không có trái tim, và linh hồn của những hoàn cảnh không có linh hồn. Đó
là thuốc phiện của quần chúng" (Marx, 1844). Tức là, Marx cho rằng tôn giáo xuất
phát từ sự khốn khổ và bất lực của con người trước tự nhiên và xã hội, nên tôn giáo
không phải là một yếu tố vĩnh viễn và tất yếu trong xã hội chủ nghĩa. Khi một xã
hội bước vào giai đoạn phát triển cao nhất định của chủ nghĩa cộng sản và điều
kiện vật chất, thì tôn giáo sẽ dần mất đi vai trò của nó, bởi vì mọi người khi ấy đã