










Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH KHOA Y
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ:
SINH LÝ THẦN KINH CƠ MODULE VẬN ĐỘNG GV: Đỗ Minh Trí Nhóm : 5 Lớp: 21DYK1B
Thành phố Hồ Chí Minh, 2023 THÀNH VIÊN NHÓM 5 STT Họ và tên MSSV 1 Uông Sĩ Quốc Anh 2100012338 2 Trần Hùng Dinh 2100011578 3 Nguyễn Linh Đan 2100012558 4 Nguyễn Thị Hồng Linh 2100002625 5 Võ Hữu Trí 2100011575
I.CẤU TẠO TẾ BÀO THẦN KINH
Tế bào thần kinh, còn được gọi là neuron, là những tế bào có chức năng chính là dẫn
truyền các xung điện trong cơ thể. Chúng là những tế bào dài nhất (có thể dài từ 1- 2
m tùy cơ địa)và được biệt hóa cao, không có khả năng phân chia nhưng có thể tái sinh
một phần nếu bị tổn thương
(Các tế bào thần kinh cũng tương tác với các tế bào thần
kinh đệm, giúp hỗ trợ và bảo vệ các tế bào thần kinh)
Cấu trúc của một tế bào thần kinh bao gồm:
1.Thân tế bào (Soma): Đây là phần lớn và chứa nhân tế bào cùng với các bào quan
khác như lưới nội chất, ti thể, v.v. Nó đảm nhận chức năng chính trong việc duy trì sự
sống của tế bào thần kinh (có thể phát sinh xung động thần kinh và có thể tiếp nhận
xung động thần kinh từ nơi khác truyền tới neuron).
2.Dendrit (Tiếp nhận): Là những phần nhánh ra từ thân tế bào, có chức năng tiếp nhận
thông tin từ các tế bào thần kinh khác qua synapses.
3.Sợi trục (Axon): Đường kính của các sợi trục thường có kích thước khác nhau, dao
động từ từ 0,5 μm – 22 μm. Là một cấu trúc giống như sợi dài mà qua đó tín hiệu điện
được dẫn truyền đi xa, từ thân tế bào đến các tế bào khác hoặc đến các mô.
4.Bao mielin: Là lớp cách điện được tạo ra từ các tế bào Schwann, giúp tăng tốc độ
dẫn truyền xung điện và bảo vệ sợi trục.
5.Nút Ranvier: Là những vùng không có bao myelin trên sợi trục, giúp tốc độ dẫn
truyền xung điện nhanh hơn thông qua hiện tượng nhảy cảm (saltatory conduction).
6.Đuôi sợi trục (Axon terminal): Là phần cuối của sợi trục, nơi xung điện được truyền
từ tế bào thần kinh này sang tế bào thần kinh khác hoặc các cơ quan đích qua các điểm tiếp hợp thần kinh.
- Phân loại các tế bào thần kinh dựa trên chức năng và hình thái bao gồm các tế
bào cảm giác, tế bào vận động và tế bào liên kết (interneurons). Chức năng của
tế bào thần kinh là tiếp nhận, xử lý và truyền đạt thông tin trong cơ thể thông
qua quá trình dẫn truyền xung điện và phóng thích các chất hóa học tại
synapses.Ví dụ, tế bào thần kinh cảm giác phát hiện các kích thích từ môi
trường và gửi thông tin đến hệ thần kinh trung ương (CNS), bao gồm não và
tủy sống. Tế bào thần kinh vận động truyền lệnh từ hệ thần kinh trung ương
đến các cơ hoặc tuyến tạo ra chuyển động hoặc bài tiết. Các tế bào thần kinh
kết nối các tế bào thần kinh khác nhau trong CNS và xử lý thông tin.
II. CƠ CHẾ DẪN TRUYỀN THẦN KINH
Cơ chế dẫn truyền thần kinh:
Tín hiệu thần kinh từ não bộ sẽ hình thành xung thần kinh chính là điện thế hoạt động
lan truyền dọc theo sợi trục của nơron. Điện thế hoạt động gây ra bởi sự trao đổi ion
Na+ và K+ qua màng sợi trục. Tốc độ dẫn truyền xung thần kinh nhanh hơn trên các nơ-ron có bao myelin.
Đối dây thần kinh có myelin bao bọc ( một chất cách điện tốt) thì nơron chỉ tiếp xúc
với môi trường ngoài ra eo ranvie. Khi đó nơron chỉ tiếp nhận kícht hích qua eo ranvie
và dòng điện hung phấn cũng chỉ truyền điện ra bên ngoài qua eo ranvie.
Đối với dây thần kinh không có myelin bao bọc, khi kích thích một vùng nào đó thì tại
vùng đó màng mất phân cực rồi đảo cực nên có diện tích trái dấu với vùng xung quanh
còn đang ở trạng tháo tĩnh (Myelin có ở nhiều loại tế bào khác nhau và khác nhau về
thành phần hóa học và cấu hình ở mỗi loại, nhưng chức năng cách điện thì tương tự
nhau) => Thần kinh không có bao myelin sẽ không dẫn truyền “ nhảy cóc” được, vậy
nên tốc độ dẫn truyền thường chậm và tiều hao năng lượng.
Cơ chế dẫn truyền hưng phấn qua synap:
Synap được hiểu là diện tích tiếp xúc giữa tế bào thần kinh này với tế bào thần
kinh kia , hoặc giữa tế bào thần kinh với những tế bào ở khu vực khác như tế
bào cơ, tế bào tuyến. tế bào khác, … Chính vì thế, cấu tạo của synap rất mỏng và nhỏ.
Cấu trúc một synap gồm màng trước synap, kh synap và màng sau synap
Cúc synap là phần phình to của mút các nhánh của sợi trục nơron trước.
Trong cúc synap chứa thành phần quan trọng, đó là các bóng synap. Bên trong
các bóng synap chứa chất truyền đạt thần kinh.
Giữa màng trước synap và màng sau synap là khe synap.
Màng sau synap có những thụ thể (receptor) chuyển biệt để nhận biết chất truyền đạt thần kinh.
- Hai dạng dẫn truyền qua synap: một là qua chất trung gian dẫn truyền , hai là nhờ dẫn truyền điện
- Đại đa số sự dẫn truyền trong hệ TKTW thông qua chất truyền đạt thần kinh
Các chất này được tổng hợp và chứa trong các bọc nhỏ tại tận cùng đầu thần kinh và
được giải phóng vào khe synap khi có điện thế hoạt động lan tới cúc tận cùng
Quá trình thông tin qua synap gồm đưa các bọc nhỏ xuống→ màng bọc hòa với màng
của cúc tận cùng→chất truyền đạt được giải phóng→ khuếch tán trong khe
synap→chất truyền đạt gắn vào receptor→ các kênh mở để các dòng ion vận
chuyển→khử cực màng synap
Chất truyền đạt khuếch tán và gắn vào các receptor đặc hiệu màng sau synap. Có 2
loại receptor là ức chế và kích thích
Sự giải phóng chất truyền đạt tại cúc tận cùng: điện thế hoạt động đến cúc tận
cùng→mở kênh Ca→Ca vào tế bào đạt nồng độ cao→làm các bọc nhỏ gắn vào vị trí
hòa màng tại màng trước synap→chất dẫn truyền đc giải phóng gắn vào receptor đặc hiệu màng sau synap.
Lượng chất truyền đạt được giải phóng tỷ lệ thuận với lương ion Canxi vào tế bào
Tác dụng của chất truyền đạt lên nơ ron sau synap :
Các receptor màng sau synap là protein xuyên màng có một đầu chìa ra ngoài màng
phía khe synap, một đầu bên trong nơron.
Có hai loại Protein xuyên màng là kênh được hoạt hóa hóa học và enzym thay đổi chuyển hóa tế bào
Kênh được hoạt hóa hóa học gồm loại kênh Na+: khi kênh này mở gây hưng phấn nơ
ron →chất truyền đạt làm mở kênh này là chất truyền đạt kích thích( acetylcholin,
noradrenalin) và loại kênh K+ , kênh Cl- : khi các kênh này mở gây ức chế nơ ron→
các chất truyền đạt thần làm mở 2 kênh trên hay làm đóng kênh Na+ là chất truyền đạt ức chế( glycin, GABA)
Enzym thay đổi chuyển hóa tế bào : các enzym này được hoạt hóa khi chất truyền đạt
gắn vào receptor. Khi enzym hoạt hóa, AMP vòng và các chất xúc tác các phản ứng
trong nơ ron được tăng tổng hợp hoặc hoạt hóa hệ gen làm tăng tổng hợp receptor
hoặc hoát hóa protein kinase làm giảm tổng hợp receptor→ các chất truyền đạt gây
hoạt hóa enzym gọi là các chất điều hòa.
Cuối cùng, chất trung gian hoá học sẽ được phân giải thành các sản phẩm. được đưa
tới chuỳ synap, qua đó tái tạo các hợp chất hoá học trung gian cho quá trình truyền
thông tin và thực hiện những quá trình truyền tin tiếp theo.
III. NGUYÊN LÝ ĐO ĐIỆN CƠ
Khi co cơ sẽ sinh ra dòng điện ( hiệu điện thế động), khi đặt 2 điện cực ở 2 đầu cơ,
hiện tượng khử cực sẽ xảy ra tạo sự thay đổi về điện, ghi nhận lại những thay đổi về
điện, khuếch đại dòng điện lên thành sóng và ghi nhận được bằng mắt thường.
IV: THỰC HÀNH MỘT PHÉP ĐO ĐIỆN CƠ CƠ BẢN
Đo điện cơ (Electromyography, viết tắt: EMG) là phương pháp đo hoạt động điện
của cơ và các dây thần kinh chi phối cơ, từ đó giúp chẩn đoán rối loạn chức năng cơ,
rối loạn chức năng thần kinh hoặc các vấn đề dẫn truyền thần kinh đến cơ. -
Thiết bị đo điện cơ -
Chỉ định đo điện cơ:
Có các triệu chứng rối loạn TK cơ:
+ Cảm giác châm chích ở da + Cảm giác tê cứng + Yếu cơ + Đau cơ hay chuột rút
+ Một số kiểu đau ở tay hay chân Giúp chẩn đoán
+ Bệnh lý cơ: loạn dưỡng cơ hoặc viêm đa cơ
+ Bệnh ảnh hưởng tiếp nối TK cơ (nhược cơ)
+ Rối loạn TK ngoài tủy sống (HC ống cổ tay)
+ Rối loạn của rễ thần kinh (thoát vị đĩa đệm)
- Có 2 phương pháp đo điện cơ:
+ Cách 1: Điện cực trong cơ: Cắm 1 kim điện cực xuyên qua da vào bên
trong cơ để đo hoạt động điện của cơ
+ Cách 2: Điện cực bề mặt: Đặt 1 điện cực lên bề mặt da (không cắm điện
cực vào sâu bên trong cơ) để đo hoạt động điện của cơ *Cách thực hiện:
Bước 1: Mắc điện cực
Để tránh hiện tượng dẫn truyền bị ức chế do cực dương, nên để cực âm hướng về phía
cặp điện cực ghi, và cực dương ở phía xa so với cặp điện cực ghi hoặc điện cực dương
nằm lệch ra ngoài thân dây thần kinh.
Dây đất được đặt giữa điện cực ghi và điện cực kích thích. Bước 2: Đo
Thường dùng xung điện một chiều kéo dài 0,2 - 0,5ms. Cường độ kích thích là cường
độ trên cực đại, thường 120% - 130% của chính nó. *Tiến hành
Đo độ dẫn truyền vận động:
-Điện cực ghi bề mặt bao gồm:
+ Điện cực hoạt động: Đặt trên bụng cơ khảo sát;
+ Điện cực tham chiếu: Đặt trên gân cơ ở vị trí xa cần khảo sát.
Tìm thời gian tiềm tàng ngoại vi: dùng thước dây để đo khoảng cách giữa hai điểm, từ
đó tính được tốc độ dẫn truyền vận động, biên độ của các sóng.
Thời gian tiềm vận động ngoại vi (Distal Motor Latency – DML) và tốc độ dẫn
truyền vận động( Motor Conduction Velocity – MCV) và điện thế hoạt động cơ
toàn phần (Compound Muscle Action Potetial - CMAP): .
+ Khi kích thích một dây thần kinh vận động bằng một xung điện, dây thần kinh sẽ bị
khử cực tại điểm kích thích, tạo thành một xung thần kinh. Xung này di chuyển dọc
theo dây thần kinh vận động, gây co cơ.
+ Điện cực ghi (đặt trên bắp cơ) ghi được hoạt động điện do co cơ sinh ra, khi tăng
dần cường độ kích thích, thì làn sóng ghi được do co cơ trên màn hình máy cũng tăng
biên độ. Tới một giới hạn nào đó, khi tăng cường độ kích thích thì biên độ sóng co cơ
cũng không tăng theo, chứng tỏ tất cả các sợi thần kinh vận động của dây thần kinh đó
đều đã bị kích thích. Sóng co cơ khi đó được gọi là hay điện thế hoạt động cơ toàn phần (CMAP).
Thời gian tính từ khi kích thích dây thần kinh đến khởi điểm của CMAP, được gọi là
thời gian tiềm vận động (motor latency). Thời gian tiềm này bao gồm 3 thành phần:
1) Thời gian dẫn truyền dọc theo dây thần kinh;
2) Thời gian dẫn truyền qua synap;
3) Thời gian lan tỏa khử cực dọc theo sợi cơ.
*Nếu muốn tính được tốc độ dẫn truyền xung của riêng dây thần kinh vận động, ta
phải kích thích tại 2 điểm khác nhau.
+ Khi kích thích thân dây thần kinh tại điểm ngoại vi của nó (dây giữa và trụ tại cổ
tay, dây chày ở ngay sau mắt cá trong, dây mác ở cổ chân) thì ta có được thời gian
tiềm vận động ngoại vi (ms). Ta đặt ký hiệu là L1.
+ Sau đó nếu kích thích chính dây thần kinh ấy ở phía trên (dây giữa và dây trụ ở
khuỷu tay, dây chày và mác ở đầu gối), ta lại được một đáp ứng co cơ (CMAP) khác,
có thời gian tiềm dài hơn, vì xung điện kích thích phải di chuyển dọc theo thân dây
thần kinh trên một quãng đường dài hơn, ta gọi nó là L2.
+ Hiệu số t=(L2-L1) là thời gian xung kích thích đi giữa 2 điểm kích thích điện.
+ Dùng thước dây để đo khoảng cách d (mm) giữa 2 điểm.
+ Tốc độ dẫn truyền vận động (MCV): Tốc độ v = d/t (m/s).
Ngoài tốc độ, chúng ta còn quan tâm tới biên độ và hình dạng của CMAP. Biên độ là
chiều cao của đường ghi đáp ứng co cơ, tính từ đường đẳng điện tới đỉnh của nó, biên
độ tính bằng mV. Người ta còn tính diện tích của phần nằm giữa đường ghi đáp ứng
co cơ và đường đẳng điện.
Hình : Đo dẫn truyền thần kinh vận động dây thần kinh giữa, ghi đáp ứng co cơ ở
ô mô cái, kích thích điện vào dây giữa ở 2 điểm: S1 là kích thích điện ở cổ tay, S2 là
kích thích điện ở khuỷu tay. Tương ứng trên màn hình và giấy ghi ta có đáp ứng co cơ
R1 và R2. Thời gian tiềm là khoảng thời gian từ lúc có kích thích tới lúc có đáp ứng
co cơ, ta có tương ứng là L1 và L2, trong đó L1 chính DML. Hiệu số l = L2-L1 (tính
bằng ms) là khoảng thời gian xung điện đi từ khuỷu (điểm S2) tới cổ tay (điểm S1).
Tốc độ dẫn truyền cảm giác ( Sensory Conduction Velocity -SCV)
Sóng ghi được khi kích thích dây thần kinh cảm giác, gọi là điện thế hoạt động của
dây thần kinh cảm giác (SNAP). Thời gian tiềm cảm giác là thời gian tính từ lúc kích
thích điện cho tới lúc thu được sóng đáp ứng.
S1 là kích thích điện ở cổ tay, S2 là kích thích điện ở khuỷu tay (tương ứng trên màn
hình và giấy ghi có đáp ứng co cơ R1, R2). Thời gian tiềm là khoảng thời gian từ lúc
có kích thích tới lúc có đáp ứng co cơ (L1, L2). Hiệu số L2-L1 (ms) là khoảng thời
gian xung điện từ S2 tới S1
Hình: Điện thế hoạt động cảm giác (SNAP) và thời gian tiềm cảm giác.
Có 2 phương pháp nghiên cứu dẫn truyền thần kinh cảm giác:
-Thuận chiều (orthodromic): Kích thích điện vào thụ thể cảm giắc ở ngoài da và đáp
ứng trên dây thần kinh, xung điện xuôi theo chiều sinh lý của dẫn truyền cảm giác.
-Ngược chiều (antidromic): Kích thích điện trên thân dây thần kinh và ghi đáp ứng ở
vùng chi phối cảm giác da- dermatoma của nó, xung động điện đi ngược chiều sinh lý
của dẫn truyền cảm giác.
Hai điện cực ghi (điện cực đo và điện cực tham chiếu) được đặt trên vùng da chi phối của thần kinh đó.
Hình: Đo độ dẫn truyền cảm giác của dây thần kinh giữa ở cổ tay. Các điện cực ghi
được đặt tại ngón II. G1 là điện cực hoạt động. G2 là điện cực tham chiếu. V . KẾT QUẢ PHÉP ĐO:
1. Dẫn truyền cảm giác
- Thời gian tiềm cảm giác (ms): Thời gian từ khi kích thích dây thần kinh cho đến khi nhận
được điện thế động thần kinh cảm giác. Bình thường ≤ 3.7 ms.
- Biên độ điện thế động cảm giác (μV): từ đỉnh pha âm đến đỉnh pha dương. Bình thường ≥17 ( μV).
- Vận tốc dẫn truyền cảm giác (m/s): v=d/t với d là khoảng cách từ điện cực kích thích âm
đến điện cực ghi âm (mm) và t là thời gian tiềm của điện thế động cảm giác (ms). Bình thường ≥50 m/s.
2. Dẫn truyền vận động
- Thời gian tiềm vận động (ms): từ dấu kích thích đến bắt đầu pha âm của đường điện thế co
cơ. Bình thường ≤ 4.2 ms.
- Biên độ điện thế động co cơ (mV): từ đường đẳng điện đến đỉnh pha âm. Bình thường ≥ 5 mV.
- Vận tốc dẫn truyền vận động (m/s): v=d/t với d (mm) là khoảng cách giữa 2 điểm kích
thích và t (ms) là sự khác biệt về thời gian tiềm của 2 lần kích thích ở cổ tay và khuỷu tay. Bình thường ≥ 50m/s.
DL=3.0 ms < 4,2 ms; CV=59 m/s>50m/s
Không tổn thương bao myelin Biên độ không bất thường
Không tổn thương sợi trục
=>Không tổn thương bao myelin và sợi trục
DL = 4.4 ms > 4.2 ms, CV=51 m/s>50 m/s Tổn thương bao myelin Biên độ bất thường
Tổn thương sợi trục
=>Tổn thương bao myelin và sợi trục
DL=12,7 ms > 4,2 ms; CV=12 m/s < 50m/s
Có tổn thương bao myelin
Biên độ không bất thường
Không có tổn thương sợi trục
=>Tổn thương bao myelin và không tổn thương sợi trục
DL=12,7 ms > 4,2 ms; CV=12 m/s < 50m/s
Có tổn thương bao myelin Biên độ bất thường
Tổn thương sợi trục
=>Tổn thương bao myelin và sợi trục