



















Preview text:
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LUẬT ĐỀ TÀI
TÌM HIỂU VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG Thành viên : Nguyễn Thị Hồng Nhung 25A4022188 Nguyễn Thị Diệu Linh 25A4021435 Bùi Lan Anh 25A4023326 Đào Nhật Quỳnh Anh 25A4022438 Phạm Thị Phượng 25A4022210 Triệu Thị Khánh Linh 25A4021441 Đỗ Thảo Vân 25A4021134 HÀ NỘI T6/2023 MỤC LỤC
II. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng............................................3
III. Nguyên tắc và năng lực bồi thường thiệt hại.......................................................................................9
1)Nguyên tắc bồi thường thiệt hại...........................................................................................................9
2) năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại:...............................................................................10
a)Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân.........................................................11
b)Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra...........................................................................12
1 Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm:......................................................................................................16
2 Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm:...................................................................................................18
3 Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm:.............................................................................................21
4.Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm:......................................................................24
V .Sơ lược về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong pháp luật Dân sự Việt Nam.25 2
II. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định tại Điều 584 – Bộ luật dân sự năm
2015 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định như sau:
1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài
sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường,
trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp
thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại,
trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. 3
3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.
Xuất phát từ những quy định, những nguyên tắc của pháp luật nói chung và luật dân sự
nói riêng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có điều kiện sau:
Thứ nhất, có thiệt hại xảy ra:
Nếu như trong Bộ luật Dân sự 2005, yếu tố lỗi (kể cả lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý) được sử dụng
như là căn cứ đầu tiên để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì
trong Bộ luật Dân sự 2015 lại là hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại. Theo đó,
người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài
sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Rõ ràng, BLDS 2015 đã thay đổi quy định theo hướng người bị thiệt hại không có nghĩa
vụ chứng minh lỗi của bên gây thiệt hại nữa, họ chỉ cần xác định được hành vi xâm phạm
của người gây thiệt hại là đã có thể yêu cầu bồi thường. Trách nhiệm chứng minh lỗi giờ
đây sẽ thuộc về người gây thiệt hại trong trường hợp muốn được miễn trách nhiệm bồi
thường thiệt hại hoặc được giảm mức bồi thường.
- Thiệt hại về tài sản là những tổn thất vật chất thực tế được tính thành tiền mà người có
hành vi trái pháp luật đã gây ra cho người khác; thiệt hại về thể chất là sự giảm sút về sức
khoẻ, mất mát về tính mạng, hình thể của người bị thiệt hại; thiệt hại về tinh thần là sự
ảnh hưởng xẩu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc suy sụp về tâm lý, tình cảm của
người bị thiệt hại. Để có cơ sở cho việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại, các
thiệt hại do xâm phạm đến sức khoẻ, tính mạng, danh dự, uy tín, nhân phẩm cũng phải
được xác định thành một khoản tiền cụ thể. Vì vậy, thiệt hại là những tổn thất xảy ra
được tính thành tiền bao gồm những mất mát, hư hỏng, huỷ hoại về tài sản, nguồn thu
nhập bị mất, chi phí nhàm ngăn chặn, khắc phục những hậu quả xấu về tài sản, sức khoẻ,
tính mạng, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tinh thần.
Ví dụ: A gây thương tích cho B mà B phải điều trị dài ngày. Tại thời điểm Tòa án giải
quyết bồi thường thì tổng thiệt hại là X đồng, bao gồm: chi phí điều trị; mức thu nhập bị 4
mất hoặc giảm sút; chi phí cho người chăm sóc, tổn thất tinh thần. Sau đó, B vẫn phải
tiếp tục điều trị thì các chi phí sau thời điểm Tòa án giải quyết sẽ được giải quyết trong
vụ án khác nếu có yêu cầu của người bị thiệt hại.
- Có thể chia thành hai loại thiệt hại sau đây:
+ Thiệt hại trực tiếp: Là những thiệt hại đã xảy ra một cách khách quan, thực tế và có cơ
sở chắc chắn để xác định, bao gồm mất mát, hư hỏng về tài sản, các chi phí cho việc ngăn
chặn, khắc phục các thiệt hại.
+ Thiệt hại gián tiếp: Là những thiệt hại mà phải dựa trên sự suy đoán khoa học mới có
thể xác định được thiệt hại. Thiệt hại này còn được gọi là thu nhập thực tế bị mất, bị giảm
sút, lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất. Đổi với loại thiệt hại này
nếu chỉ mang tính giả định, không có cơ sở khoa học chắc chắn để xác định thì không
được đưa vào khoản thiệt hại để áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Thứ hai, hành vi gây thiệt hại trái pháp luật
Quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản là một quyền tuyệt
đối của mọi công dân, tổ chức. Mọi người đều phải tôn trọng những quyền đó của chủ thể
khác, không được thực hiện bất cứ hành vi nào “xâm phạm" đến các quyền tuyệt đối đó.
Bởi vậy, khoản 1 điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“Người nào... xâm phạm ... mà gây thiệt hại thì phải bồi thường".
Điều luật này xuất phát từ nguyên tắc chung của pháp luật dân sự được quy định tại Điều
3 Bộ luật dân sự năm 2015:
“Không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích
hợp pháp của người khác". 5
Việc “xâm phạm" mà gây thiệt hại có thể là hành vi vi phạm pháp luật hình sự, hành
chính, dân sự, kể cả những hành vi vi phạm đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước,
vi phạm các quy tắc sinh hoạt trong từng cộng đồng dân cư...
Hành vi gây thiệt hại thông thường thể hiện dưới dạng hành động. Chủ thể đã thực hiện
hành vi mà đáng ra không được thực hiện các hành vi đó. Vấn đề hành vi trái pháp luật
thể hiện dưới dạng không hành động có phải bồi thường thiệt hại không và sẽ áp dụng
như thế nào là vấn đề phức tạp hiện đang còn có nhiều tranh luận, về phương diện lí luận,
hành vi này vẫn coi là hành vi trái pháp luật và có khi phải chịu trách nhiệm hình sự
(không cứu giúp người bị nạn...) nhưng khó có thể buộc người đó bồi thường thiệt hại.
Lỗi trong trách nhiệm dân sự là điều kiện để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại,
tuy nhiên mức độ lỗi, hình thức lỗi không có ý nghĩa nhiều trong việc xác định trách nhiệm bồi thường.
Hành vi gây thiệt hại có thể là hành vi hợp pháp nếu người thực hiện hành vi theo nghĩa
vụ mà pháp luật hoặc nghề nghiệp buộc họ phải thực hiện các hành vi đó.Ví dụ: nhân viên
phòng chữa cháy có thể phá huỷ nhà dễ cháy xung quanh đám cháy; bác sĩ cắt bỏ các bộ
phận hoặc làm các phẫu thuật khác... Trong trường hợp này, người gây thiệt hại không
phải bồi thường. Người gây thiệt hại cũng không phải bồi thường trong Trường hợp
phòng vệ chính đáng, trong tình thế cấp thiết hoặc có sự đồng ý của người bị thiệt hại
(Điều 594; khoản 1 Điều 595 Bộ luật dân sự năm 2015); tuy nhiên, nếu vượt quá giới hạn
của phòng vệ chính đáng, vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây ra thiệt
hại vẫn phải bồi thường thiệt hại.
Ba là, có lỗi của người gây ra thiệt hại
Lỗi là quan hệ giữa chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật với xã hội mà nội dung của
nó là sự phủ định những yêu cầu của xã hội đã được thể hiện thông qua các quy định của
pháp luật. Khi một người có đủ nhận thức và điều kiện để lựa chọn cách xử sự sao cho xử
sự đó phù hợp với pháp luật, tránh thiệt hại cho chủ thể khác nhưng vẫn thực hiện hành vi
gây thiệt hại thì người đó bị coi là có lỗi. Như vậy, lỗi là thái độ tâm lý của người có hành 6
vi gây thiệt hại, phản ánh nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả của hành vi
mà họ đã thực hiện. Bao gồm hai hình thức lỗi sau đây:
- Lỗi cố ý: Một người bị coi là có lỗi cố ý nếu họ đã nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây
thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện hành vi đó. Nếu người này mong muốn thiệt
hại xảy ra từ việc thực hiện hành vi thì lỗi của họ là lỗi cố ý trực tiếp. Nếu họ không
mong muốn thiệt hại xảy ra nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra thì lỗi của họ là lỗi cố ý
gián tiếp. “Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vỉ của mình sẽ
gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muon hoặc không mong muốn,
nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra”. Ví dụ:
+ Do thiếu tiền ăn tiêu, không có tiền trả nợ, lợi dụng đêm tối vắng vẻ, Nguyễn
Văn A đã đột nhập vào tiệm vàng T.Đ lấy đi 350 cây vàng. Một tuần sau A bị bắt giữ . (Lỗi cố ý trực tiếp)
+ Nhà Toàn có vườn ổi lớn, đến mùa ổi nhà Toàn hay bị người vào hái trộm ổi.
Rất tức giận vì bị trộm ổi nên Toàn đã giăng dây điện trần để bẫy trộm. Tâm đi qua vườn
ổi nhà Toàn liền vào hái trộm ổi không may bị điện giật chết.(Lỗi cố ý gián tiếp)
- Lỗi vô ý: người có hành vi gây thiệt hại được xác định là có lỗi vô ý nếu họ không thấy
trước được hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại mặc dù họ phải biết hoặc có thể
biết trước thiệt hại sẽ xảy ra khi họ thực hiện hành vi đó. Nếu người này cho rằng thiệt
hại không xảy ra thì lỗi của họ được xác định là lỗi vô ý cẩu thả; nếu họ cho rằng có thể
ngăn chặn được thiệt hại thì lỗi của họ là lỗi vô ý vì quá tự tin. “Vô ý gây thiệt hại là
trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc
dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình
có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được”. Ví dụ:
+ Vàng A Lý là y tá ở trạm xá Mèo Vạc. Lý được mời đến tiêm thuốc trị bệnh cho
một bệnh nhân trong bản. Do không để ý nên Lý đã tiêm nhầm thuốc cho bệnh nhân, dẫn
đến hậu quả bệnh nhân đã chết.(Lỗi vô ý cẩu thả) 7
+ Hoàng rủ An đi bơi ở hồ, Hoàng không biết bơi nên An dạy cho Hoàng bơi.
Hoàng sợ không dám xuống nước nên An đã kéo Hoàng ra chỗ sâu để Hoàng tập bơi với
suy nghĩ sẽ không sao vì An bơi rất giỏi. Không may Hoàng bị đuối nước, An không cứu
được, dẫn đến Hoàng bị chết đuối.(Lỗi vô ý vì quá tự tin)
Bốn là, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.
Thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật hay ngược lại hành vi trái pháp luật
là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra. Điều này được quy định tại khoản 1 điều 584 Bộ luật
dân sự năm 2015 dưới dạng: “Người nào... xâm phạm... mà gây thiệt hại thì phải bồi
thường". Ở đây có thể thấy hành vi “xâm phạm” đến tính mạng, tài sản... là nguyên nhân
và thiệt hại là hậu quả của hành vi đó. Tuy nhiên, xác định mối tương quan nhân quả là
vấn đề rất phức tạp. Phạm trù nguyên nhân và kết quả là cặp phạm trù trong triết học.
Nhân quả là mối liên hệ nội tại, khách quan và tất yếu giữa các hiện tượng tự nhiên cũng
như xã hội, trong đó một là nguyên nhân và sau nó là kết quả. Việc xác định mối quan hệ
nhân quả chính là sự liên hệ khách quan đó. Nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả
và kết quả là hậu quả của nguyên nhân. Xem xét mối liên hệ nhân quả giữa các hiện
tượng xã hội, trong đó con người sinh sống và hoạt động phức tạp hơn nhiều so với các
hiện tượng tự nhiên khác. Vì vậy, việc xem xét chỉ có ý nghĩa khi hành vi của con người
và hậu quả của hành vi đó được đánh giá dưới góc độ xã hội, trong đó đặc biệt chú trọng
đến hành vi của con người, liên quan đến con người vào thời điểm có hành vi và hậu quả xảy ra.
Việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra trong
nhiều trường hợp rẩt khó khăn. Do đó, cần phải xem xét, phân tích, đánh giá tất cả các sự
kiện liên quan một cách thận trọng, khách quan và toàn diện. Từ đó mới có thể rút ra
được kết luận chính xác về nguyên nhân, xác định đúng trách nhiệm của người gây ra
thiệt hại. Lí thuyết về quan hệ nhân quả có nhiều quan điểm khác nhau trong giới luật học
nhưng nhìn trung có hai quan điểm chính trong giới luật gia tư bản cũng như XHCN.
Thứ nhất, thuyết điều kiện cần thiết, theo đó nguyên nhân được coi là hành vi trái pháp
luật đầu tiên làm nảy sinh những hậu quả tiếp sau và kết quả không thể xảy ra nếu không có hành vi ban đầu. 8
Thứ hai, nguyên nhân phổ biến, theo đó trong những điều kiện thông thường hành vi có
thể làm phát sinh hậu quả.
III. Nguyên tắc và năng lực bồi thường thiệt hại
1)Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
Các nguyên tắc cần tuân thủ trong xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại( BTTH)
ngoài hợp đồng được quy đinh cụ thể tại Điều 585 BLDS 2015. Cụ thể như sau:
Khi có thiệt hại thực tế xảy ra thì bên bồi thường và bên bị thiệt hại có thể thỏa
thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường. Nếu các bên
không thỏa thuận được thì việc giải quyết bồi thường sẽ được thực hiện theo nguyên tắc sau đây:
- Thứ nhất, thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời
Bồi thường toàn bộ được hiểu là trên thực tế xảy ra những thiệt hại nào thì người chịu
trách nhiệm bồi thường phải bồi thường toàn bộ thiệt hại đó. Bồi thường kịp thời là việc
bồi thường được tiến hành một cách khẩn trương, nhanh chóng ngay
sau khi có thiệt hại xảy ra nhằm khắc phục tổn thất cho người bị thiệt hại.
- Thứ hai, người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức
bồi thường, nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
Theo nguyên tắc của việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì thiệt hại bao
nhiêu phải bồi thường bấy nhiêu. Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp nếu
áp dụng nguyên tắc trên sẽ không mang lại hiệu quả trong việc áp dụng pháp luật vì
người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không thể bồi thường toàn bộ thiệt hại.
Cho nên, pháp luật dự liệu các trường hợp giảm mức bồi thường cho người chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại. Để được giảm mức bồi thường thiệt hại cần có hai điều kiện sau:
+ Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không có lỗi hoặc có lỗi vô ý.Tức là người
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không lường trước được hành vi
của mình sẽ gây ra thiệt hại cho chủ thể khác.
+ Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế của người chịu trách nhiệm
bồi thường. Điều này có nghĩa là xét tại thời điểm bồi thường cũng như trong tương 9
lai thì người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không có khả năng kinh tế để bồi
thường phần lớn hay toàn bộ thiệt hại mà mình đã gây ra. Đây là một quy định mang
tính nhân văn cũng như mang tính hỗ trợ cao cho việc thực thi pháp luật (Điểm c
mục số 2 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP).
- Thứ ba, khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt
hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm
quyền khác thay đổi mức bồi thường.
Bên gây thiệt hại hoặc bên bị thiệt hại có thể yêu cầu thay đổi mức bồi thường
khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế. Nghĩa là do có thay đổi về tình
hình kinh tế, xã hội, sự biến động về giá cả hoặc do có sự thay đổi về tình trạng
thương tật, khả năng lao động của người bị thiệt hại hoặc do có sự thay đổi về khả
năng kinh tế của người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại... mà mức bồi thường
đang được thực hiện không còn phù hợp trong điều kiện thực tế. Khi xảy ra những
điều kiện trên, thì người bị thiệt hại hoặc người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt
hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
- Thứ tư, khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi
thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra. Đây là trường hợp người bị thiệt hại
cũng có lỗi trong việc gây ra thiệt hại xảy ra với chính họ. Do đó, với những thiệt
hại xảy ra tương ứng với mức độ lỗi của họ thì không được bồi thường.
- Thứ năm, bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu
thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn
chế thiệt hại cho chính mình. Nguyên tắc này nâng cao trách nhiệm của bên bị thiệt
hại, nhằm hạn chế thấp nhất các trường hợp bên bị thiệt hại để mặc cho thiệt hại xảy ra
nhằm được hưởng bồi thường
2) năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì trách nhiệm BTTH được BLDS
2015 quy định tại Điều 360 về trách nhiệm BTTH nói chung và chương XX về trách
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái
niệm trách nhiệm BTTH mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi
thường, năng lực chịu trách nhiệm, Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra, ...
Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗi người sống
trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của 10
mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một người
vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó
phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng
việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là BTTH.
Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm Dân sự mà
theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người
khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.
a)Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân
Theo nguyên tắc chung, một người chỉ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi
của mình khi họ có nhận thức để làm chủ và điều khiển được hành vi đó. “Chỉ đề
cập đến vấn đề trách nhiệm cá nhân trong trường hợp con người, một mặt, có năng
lực tự định hướng và chủ động lựa chọn xử sự của mình”.
Trách nhiệm bồi thường của cá nhân. Theo quy định tại Điều 586 - BLDS năm
2015 về Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân như sau:
Cá nhân phải tự chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại khi họ có năng
lực hành vi dân sự đầy đủ. Đây là những người có khă năng nhận thức và làm chủ
hành vi của mình nên phải chịu trách nhiệm về hành vi gây thiệt hại do mình gây ra.
Đối với cá nhân là người chưa thành niên gây thiệt hại thì việc xác định năng
lực bồi thường theo hai khả năng sau:
- Nếu người gây thiệt hại dưới mười lăm tuổi thì người chịu trách nhiệm bồi
thường là cha, mẹ của người đó; trong trường hợp tài sản của cha, mẹ không đủ để
bồi thường mà người con đã gây ra thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản của con
để bồi thường phần còn thiếu. Nếu người con không có tài sản riêng thì cha, mẹ của
người gây thiệt hại phải tiếp tục thực hiện việc bồi thường khi có tài sản;
- Nếu người gây thiệt hại đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi thì
người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình. Nếu tài sản
không đủ để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu. Theo quy định
của pháp luật lao động, người từ đủ mười lăm tuổi tới chưa đủ mười tám tuổi có thể
tham gia vào quan hệ lao động trong một số lĩnh vực, cho nên lứa tuổi này có thể tạo ra
thu nhập cho bản thân, vì vậy phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu có tài sản.
Pháp luật hiện hành chưa có quy định về phương thức lấy tài sản của cha, mẹ
đã ly hôn để bồi thường thay cho con chưa thành niên. Tuy nhiên theo nguyên tắc 11
bình đẳng, tự do thỏa thuận thì phần tài sản mà cha, mẹ phải bồi thường thay cho
người chưa thành niên sẽ được phân chia theo sự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được
thì phần bồi thường sẽ được lấy theo tỷ lệ bằng nhau, có tính đến khả năng kinh tế của mỗi người.
Đối với trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,
người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám
hộ thì việc xác định trách nhiệm bồi thường được tiến hành như sau:
- Nếu người gây thiệt hại có đủ tài sản để bồi thường toàn bộ thiệt hại thì người
giám hộ lấy tài sản của họ để bồi thường;
- Nếu người gây thiệt hại không có tài sản hoặc tài sản không đủ để bồi thường
thì người giám hộ phải lấy tài sản của mình để bồi thường trừ trường hợp họ chứng
minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ.
Xuất phát từ năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia vào quan hệ dân sự,
BLDS quy định năng lực chịu trách nhiệm của cá nhân phụ thuộc vào mức độ năng
lực hành vi, tình trạng tài sản và khả năng bồi thường của cá nhân.
Trường hợp người gây thiệt hại là người chưa đủ 15 tuổi theo quy định tại BLDS 2015 Điều 599:
“1. Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản
lý mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
2. Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời
gian bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý thì bệnh viện, pháp nhân khác
phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
3. Trường học, bệnh viện, pháp nhân khác quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều này không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi trong
quản lý; trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm
tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường”.
b)Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra
Căn cứ theo Điều 587 Bộ luật dân sự 2015: “Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại
thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi
thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của
mỗi người; Nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.” 12
Chế định trách nhiệm dân sự luôn là một chế định lớn được sự quan tâm của các nhà làm
luật, các luật gia trong mỗi thời kỳ phát triển của xã hội. Dựa vào tính chất và nguồn gốc
của nghĩa vụ được tạo lập mà các vi phạm trách nhiệm được phân thành TNDS do vi
phạm nghĩa vụ phát sinh từ các cam kết, thỏa thuận (TNDS trong hợp đồng - TNDS do vi
phạm hợp đồng) và TNDS do vi phạm các nghĩa vụ pháp lý do pháp luật quy định chung
(TNDS ngoài hợp đồng). Nhưng không phải trong giai đoạn lịch sử nào hay pháp luật
nước nào cũng có sự phân định rõ ràng hai loại TNDS này. Với mong muốn mang đến
một cái nhìn toàn diện hơn về TNDS, tác giả xin sơ lược về các quy định này trong các
giai đoạn lịch sử với một số điểm nhấn như sau:
Ở các bộ luật cổ như Quốc triều Hình luật, chế định TNDS đã được hình thành tuy
chưa đúng với bản chất của trách nhiệm BTTH theo cách hiểu của luật hiện hành, nhưng
qua những quy định cụ thể có thể thấy TNDS được áp dụng chung trong trường hợp vi
phạm nghĩa vụ trong khế ước hoặc vi phạm các nghĩa vụ khác ngoài khế ước. Các quy
định này có liên quan đến những yếu tố của TNDS như hành vi vi phạm, lỗi nhưng lại
không có sự tách biệt giữa trách nhiệm trong hay ngoài khế ước. Ví dụ như: Điều 455
Quốc triều Hình luật quy định cấm không được chứa chấp quân trộm cướp mà người chủ
trang trại lại chứa chấp, thì ngoài việc bị phạt 500 quan tiền và tịch thu cả trang trại,
người đó còn phải bồi thường cả tang vật nếu có; hay Điều 111 Hoàng Việt luật lệ quy
định người giữ kho thu thuế lương mà không đúng bằng dấu của quan thì bị phạt, số
lượng dư ấy được trả về cho chủ, quan lại biết mà không tố cáo thì đồng tội với người giữ
kho, không biết thì không có tội (thể hiện dấu hiệu lỗi).... Qua các ví dụ trên, có thể nhận
ra các nhà làm luật thời kỳ phong kiến cũng chú trọng phân biệt lỗi cố ý và vô ý trong
việc gây thiệt hại để ấn định mức bồi thường, tuy không phân định nghĩa vụ theo khế ước hay ngoài khế ước.
Đến thời kỳ đất nước ta bị thực dân Pháp đô hộ, TNDS cũng được Bộ Dân luật Bắc Kỳ
và Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật quy định, và đã được tách bạch ra khỏi trách nhiệm hình
sự, nhưng TNDS vẫn chỉ được tiếp cận một cách chung, khái quát, chưa được phân định
thành TNDS do vi phạm nghĩa vụ trong hay ngoài khế ước/hợp đồng. Điều này thể hiện
qua quy định sau của hai Bộ luật: "Người nào làm bất cứ việc gì gây thiệt hại cho người
khác do lỗi của mình đều phải bồi thường thiệt hại" 13
Pháp luật dân sự của nước ta sau khi giải phóng đất nước, giành độc lập, với xu hướng
pháp luật xã hội chủ nghĩa đã có sự phân biệt rành mạch giữa TNDS trong hợp đồng và
ngoài hợp đồng. Trước tiên, hai loại TNDS này đều mang tính chất của TNDS là:
Căn cứ phát sinh trách nhiệm là hành vi vi phạm pháp luật dân sự và chỉ áp dụng
với người thực hiện hành vi vi phạm đó;
Tính chất của chế tài là hậu quả pháp lý bất lợi mang tính tài sản dành cho người
thực hiện hành vi vi phạm
Là một biện pháp cưỡng chế mang tính chất pháp lý, do đó được đảm bảo thi hành
bởi pháp luật và bộ máy cưỡng chế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Bên cạnh những điểm chung cơ bản đó, TNDS do vi phạm hợp đồng và TNDS ngoài
hợp đồng còn có những điểm khác nhau như sau: Về nguồn gốc phát sinh:
Quy định về TNDS do vi phạm hợp đồng được xây dựng nên bởi các quy phạm điều
chỉnh chế định hợp đồng. Nói cách khác, quy định về TNDS trong hợp đồng có thể coi là
một phần của chế định hợp đồng trong pháp luật Dân sự. Theo đó, TNDS do vi phạm hợp
đồng chỉ tồn tại khi một hợp đồng tồn tại, trách nhiệm này chỉ phát sinh khi xuất hiện sự
vi phạm một hay nhiều nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng. Trong khi đó, TNDS
ngoài hợp đồng là các loại TNDS phát sinh bên ngoài, không phụ thuộc vào hợp đồng,
mà chỉ cần tồn tại một hành vi vi phạm pháp luật dân sự, cố ý hay vô ý, gây thiệt hại cho
người khác và hành vi này cũng không liên quan đến bất cứ một hợp đồng nào có thể có
giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại.
Về căn cứ xác định trách nhiệm:
Thiệt hại, bao gồm thiệt hại về vật chất và tinh thần, không chỉ là nền tảng cơ bản mà còn
là điều kiện bắt buộc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; trong khi đó
thiệt hại không phải là điều kiện bắt buộc trong việc xác định TNDS trong hợp đồng, bởi
chỉ cần có hành vi vi phạm nghĩa vụ đã có thể phát sinh TNDS và khi xét đến vấn đề thiệt
hại trong hợp đồng, chỉ xét đến những tổn thất về mặt vật chất. Nói rõ hơn, bên vi phạm
vẫn phải chịu trách nhiệm dù đã có hay chưa có thiệt hại xảy ra khi bên kia bị vi phạm
hợp đồng. Bên cạnh đó, khi xem xét đến hành vi vi phạm, thì đối với TNDS trong hợp
đồng, hành vi này là hành vi vi phạm những cam kết cụ thể, những nghĩa vụ mà hai bên
tự ràng buộc nhau trong hợp đồng, tức là hành vi này chưa chắc đã vi phạm các quy định
pháp luật chung mà chỉ vi phạm “pháp luật” thiết lập giữa những người tham gia giao kết
hợp đồng; còn đối với TNDS ngoài hợp đồng, hành vi này là hành vi vi phạm những quy 14
định của pháp luật nói chung, những quy định do Nhà nước ban hành dẫn đến thiệt hại, vì
vậy đó có thể là hành vi vi phạm những quy định của pháp luật chuyên ngành khác như
hình sự, hành chính, kinh tế…
Đối với TNDS trong hợp đồng, khi hợp đồng được giao kết, các bên có nghĩa vụ thực
hiện đúng những cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu một bên không thực hiện,
thực hiện không đúng, không đầy đủ là vi phạm hợp đồng. Hai bên có thể dự liệu và thỏa
thuận trước về những trường hợp thiệt hại do vi phạm hợp đồng và cách thức chịu trách
nhiệm như bồi thường thiệt hại hay phạt vi phạm.
Trong khi đó, đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, căn cứ xác định
trách nhiệm là hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại và lỗi.
Về phương thức thực hiện trách nhiệm:
Đối với TNDS do vi phạm hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận mức bồi thường hay phạt
vi phạm kể từ khi giao kết hợp đồng (thể hiện bản chất thỏa thuận của hợp đồng). Đối với
TNDS ngoài hợp đồng thì bên gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ và kịp thời, cả thiệt
hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp, điều quan trọng là các bên trong quan hệ TNDS không
biết nhau và không biết trước việc sẽ xảy ra để làm phát sinh quan hệ TNDS, do đó
không thể thỏa thuận trước bất cứ một việc gì. Việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng thường sẽ làm chấm dứt nghĩa vụ. Các bên có thể thỏa thuận về mức
bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc,
phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về thời điểm xác định trách nhiệm:
Một trong những nội dung quan trọng để có thể xác định được đúng mức bồi thường thiệt
hại của bên vi phạm là xác định thời điểm chịu TNDS, TNDS sẽ phát sinh tại thời điểm
xảy ra thiệt hại hay tại thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên bị vi phạm, điều
này tùy thuộc vào tính chất của TNDS. Đối với TNDS trong hợp đồng, thời điểm TNDS
phát sinh kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực và có bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng; còn
với TNDS ngoài hợp đồng, TNDS phát sinh kể từ thời điểm xảy ra hành vi gây thiệt hại.
Về tính liên đới trong chịu TNDS:
Với TNDS do vi phạm hợp đồng, trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì họ liên
đới chịu trách nhiệm nếu khi giao kết hợp đồng họ có thỏa thuận trước về vấn đề chịu
trách nhiệm liên đới. Còn với TNDS ngoài hợp đồng, trong trường hợp nhiều người cùng 15
gây thiệt hại thì họ đều phải chịu trách nhiệm liên đới theo các quy định cụ thể của pháp luật dân sự. IV. Xác định thiệt hại
Thiệt hại là điều kiện đầu tiên làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường. Nguyên tắc bồi thường
toàn bộ thiệt hại chỉ có thể thực hiện được đầy đủ và chính xác khi xác định toàn bộ thiệt
hại là bao nhiêu và trên cơ sở đó xác định mức bồi thường. Xác định thiệt hại là một việc
khó khăn và phức tạp. Những thiệt hại phải bồi thường là thiệt hại về tài sản, thiệt hại về
sức khoẻ, thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị
xâm phạm... Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu có giới hạn, tác giả chỉ phân tích việc xác
định thiệt hại ở một số trường hợp cụ thể sau:
1 Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm:
Quyền sở hữu tài sản của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác được pháp luật ghi
nhận và bảo vệ. Bởi vậy, khi tài sản của chủ sở hữu bị xâm phạm thì người gây ra thiệt
hại phải chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại sau: - Tài sản bị mất:
Tài sản bị mất là trường hợp tài sản rời khỏi chủ sở hữu mà không thể tìm lại được. Đây
là trường hợp tài sản bị thiệt hại hoàn toàn, không thể khắc phục được, do đó người gây
thiệt hại phải bồi thường toàn bộ giá trị tài sản. Đối với trường hợp này cần xác định giá
trị thực tế của tài sản làm căn cứ để người gây ra thiệt hại bồi thường toàn bộ. Trong
BLDS không quy định cụ thể về việc xác định giá trị của tài sản bị mất căn cứ vào thời
điểm nào: thời điểm tài sản bị mất, thời điểm giải quyết tranh chấp hay thời điểm tiến
hành bồi thường. Tuy nhiên, Điều 45 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009 có
quy định về vấn đề này như sau: "Trường hợp tài sản đã bị phát mại, bị mất thì thiệt hại
được xác định căn cứ vào giá trị thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính
năng, tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ hao mòn của tài sản bị phát mại, bị mất trên thị
trường tại thời điểm giải quyết bồi thường". Theo quy định thì giá trị của tài sản bị mất 16
được xác định theo giá của tài sản cùng loại trên thị trường tại thời điểm giải quyết bồi
thường. Quy định này chỉ áp dụng cho tài sản bị mất là tài sản cùng loại, tức là tài sản
cùng loại trên thị trường để làm căn cứ xác định giá. Tuy nhiên, nếu tài sản bị mất là vật
đặc định thì quy định trên không thể áp dụng để xác định thiệt hại, vì trên thị trường
không có loại tài sản đó. Do vậy, việc định giá tài sản là vật đặc định phải được tiến hành
bởi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc định giá tài sản... Khi giải quyết việc bồi
thường đối với tài sản bị mất thì cũng cần xem xét đến yếu tố cũ, mới, độ hao mòn của tài
sản. Nếu tài sản bị mất là tài sản mới thì thiệt hại được bồi thường là toàn bộ giá trị
tàisản; trong trường hợp tài sản đã được sử dụng thì khi xác định giá trị tài sản bị mất
phải trừ đi gía trị phần tài sản đã hao mòn.
- Tài sản bị hủy hoại hoặc bị hỏng:
Tài sản bị hủy hoại là những tài sản bị thiệt hại nặng, không thể phục hồi chức năng như
ban đầu, cho nên chủ sở hữu không thể khai thác tính năng, công dụng của điểm 2.
Khoản 1, Điều 45 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009 tài sản: Việc xác định
thiệt hại đối với tài sản bị hủy hoại giống với trường hợp tài sản bị mất. Tức là người gây
thiệt hại bồi thường toàn bộ giá trị tài sản cho người bị thiệt hại theo giá thị trường vào
thời điểm giải quyết bồi thường. Tài sản bị hư hỏng là những tài sản bị hỏng hóc một hay
nhiều bộ phận, làm giảm hay mất khả năng sử dụng tài sản. Tuy nhiên, tài sản bị hư hỏng
vẫn có khả năng sửa chữa, phục hồi lại tính năng sử dụng. Trong Luật trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước 2009 có quy định về vấn đề này. Theo Điều 45 Luật trách nhiệm
bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định như sau: "Trường hợp tài sản bị hư hỏng
thì thiệt hại được xác định là chi phí có liên quan theo giá thị trường tại thời điểm giải
quyết bồi thường để sửa chữa, khôi phục lại tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng không thể sửa
chữa, khôi phục thì thiệt hại được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều này 3. Như
vậy, đối với tài sản bị hư hỏng thì việc bồi thường được xác định theo hai trường hợp:
+ Nếu như tài sản hư hỏng có thể khôi phục, sửa chữa lại được thì thiệt hại được xác định
là chi phí cần thiết, hợp lý bỏ ra để khôi phục, sửa chữa tài sản. Nhưng chi phí này được
tính theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường;
+ Trường hợp tài sản bị hư hỏng đến mức không thể sửa chữa, khôi phục được thì thiệt
hại được xác định giống với trường hợp tài sản bị mất.
- Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản: 17
Trong khai thác, sử dụng tài sản thì chủ sở hữu có thể thu được hoa lợi, lợi tức là tài sản.
Tuy nhiên, do hành vi gây thiệt hại mà chủ sở hữu mất đi hoa lợi, lợi tức, vì vậy, người bị
thiệt hại về tài sản có quyền yêu cầu bên gây thiệt hại bồi thường những lợi ích gắn liền
với việc khai thác, sử dụng tài sản.
- Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại:
Trước nguy cơ thiệt hại xảy ra đối với tài sản thì người bị thiệt hại có thể phải bỏ ra chi
phí để ngăn chặn; khi thiệt hại đó đang xảy ra đối với tài sản thì người bị thiệt hại phải bỏ
ra chi phí để không cho thiệt hại tiếp tục xảy ra; khi đã xảy ra thiệt hại đối với tài sản thì
người bị thiệt hại phải bỏ ra chi phí để khắc phục thiệt hại. Đây cũng là những khoản mà
người bị thiệt hại có quyền yêu cầu người xâm phạm đến tài sản bồi thường nếu người bị
thiệt hại chứng minh được tính xác thực của những chi phí này.
- Các thiệt hại khác do pháp luật quy định.
Đây là một quy định mở để xác định những thiệt hại mà luật liên quan khác có quy định
thì áp dụng để tính toán và ấn định mức bồi thường thiệt hại.
2 Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm:
Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được hiểu là những tổn thất, mất mát về vật chất cũng
như tinh thần mà người có hành vi gây thiệt hại gây ra cho người bị thiệt hại. Theo quy
định tại Điều 590 BLDS, những thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị
giảm sút của người bị thiệt hại.
Đây là những chi phí hợp lý cho việc khắc phục thiệt hại về mặt sức khỏe cho người bị
thiệt hại, những chi phí này bao gồm: Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp
cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X-quang,
chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật bổ,tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục
hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết
khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả,
mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một
phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. 18
Thu nhập thực tế bị mất được hiểu là những khoản thu nhập mà người bị thiệt hại không
được hưởng trong thời gian điều trị. Còn thu nhập bị giảm sút là bị khoản thu nhập bị
giảm so với thu nhập thực tế trước đó của người bị thiệt hại. Như vậy, để xác định mức
thu nhập bị mất hay thu nhập thực tế bị giảm sút cần dựa trên việc so sánh mức thu nhập
thực tế của người bị thiệt hại trước và sau khi bị xâm phạm đến sức khỏe. Thu nhập thực
tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:
+ Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền
lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền
công của tháng liền kề trước khi người đó bị xâm phạm sức khỏe nhân với thời gian điều
trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.
+ Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có
thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau, thì lấy mức thu nhập
trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi sức
khỏe bị xâm phạm nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.
+ Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng
không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao
động cùng loại nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thức tế của người bị thiệt hại.
+ Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc và chưa có thu
nhập thực tế thì không được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hay bị giảm sút.
- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại
trong thời gian điều trị:
Nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm
sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại. Chi phí
hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị có thể là tiền tàu, xe
đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí cho
một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần
thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế. Thông thường người gây thiệt hại phải bồi thường
cho một người thân chăm sóc người bị thiệt hại. Tuy nhiên trường hợp đặc biệt cần hai
người chăm sóc theo yêu cầu của cơ sở điều trị, thì phải bồi thường cho hai người cùng 19
chăm sóc người bị thiệt hại. Trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại về sức khỏe thì
người chăm sóc có thể bị mất thu nhập thực tế, cho nên người gây thiệt hại phải bồi
thường thu nhập bị mất cho người chăm sóc người bị thiệt hại. Phương thức xác định thu
nhập thực tế bị mất như sau:
+ Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có thu nhập thực tế ổn định từ tiền lương trong
biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng
liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm
sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.
+ Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định,
nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề
(nếu chưa đủ 6 tháng thì lấy mức thu nhập trung bình của tất cả tháng) trước khi người đó
phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.
+ Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại không có làm việc hoặc có tháng làm việc, có
tháng không, do đó không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền côngchăm sóc bằng
mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú.
+ Nếu trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại, người chăm sóc vẫn được cơ quan,
người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy địnhcủa pháp luật lao
động , bảo hiểm xã hội thì họ không bị mất thu nhập thực tế, do đó không được bồi
thường. Trong trường hợp khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động (người bị
thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm
thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy
giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) và cần có người thường xuyên chăm
sóc thì người gây thiệt hại phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị
thiệt hại. Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm: chi phí hợp lý
hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người
thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại; chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm
sóc người bị thiệt hại được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc
người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú. Về nguyên tắc, chỉ tính bồi
thường thiệt hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do mất khả năng lao động. 20