















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC
-----˜™&™™----- Nhóm 4
BÁO CÁO THU HOẠCH BẢO TÀNG
CHỦ ĐỀ 3: Vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế ở TP. HCM xưa và nay
Môn: Kinh tế chính trị Mác Lê-nin GVHD:
Tp.Hồ Chí Minh, năm 2022 MỤC LỤC
NỘI DUNG BÁO CÁO… ............................................................... 1
CẢM NHẬN CÁ NHÂN… ........................................................... 10
CÁC NGUỒN THAM KHẢO… ................................................... 13 NỘI DUNG BÁO CÁO
Sự phát triển kinh tế là cội nguồn của mọi cuộc xung đột,tranh chấp và nó đi kèm
với những thành tựu phát triển cả nền văn minh của một nước.Đa phần ở các nước
phát triển mạnh,khu vực kinh tế tư nhân chiếm 85% GDP.Nên kinh tế tư nhân góp
phần rất quan trọng là trụ cột đảm bảo cho nền kinh tế quốc gia phát triển ổn
định,vững mạnh.Nên sự phát triển của kinh tế tư nhân là vấn đề quan trọng và cấp
thiết của Việt Nam,đặc biệt là những vùng kinh tế lớn,có nhiều điều kiện để phát
triển kinh tế,khu công nghiệp,tạo ra việc làm để đáp ứng cho việc đẩy mạnh công
nghiệp hóa,hiện đại hóa Việt Nam nói chung,thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
Kinh tế tư nhân ngày càng chiếm tỷ trọng lớn và có vai trò quan trọng trong phát
triển kinh tế đất nước. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa do
Đảng khởi xướng và lãnh đạo ngày càng hoàn thiện, theo đó kinh tế tư nhân ngày
càng phát triển mạnh về số lượng, chất lượng và quy mô.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, nước Việt Nam thống
nhất. Ngày 16 tháng 5 năm 1975, Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam Lê
Duẩn đã trực tiếp vào miền Nam nắm tình hình, gồm cả tình hình kinh tế. Ông thừa
nhận những yếu tố tích cực của kinh tế tư nhân và của thị trường tự do ở miền
Nam.Tại cuộc họp trù bị của Hội nghị lần thứ 24 Ban chấp hành Trung
ương Đảng Lao động Việt Nam khóa III, ông đã phát biểu:
Ở miền Bắc trước đây phải hợp tác hóa ngay lập tức. Nhưng miền Nam bây giờ
không thể làm như vậy... Phải có tư sản, phải cho nó phát triển phần nào đã...
Bộ Chính trị sau khi nghiên cứu thấy rằng cần phải để mấy thành phần
kinh tế là quy luật cần thiết trong giai đoạn bước đầu này... Xưa nay ở miền Bắc
chúng ta có một số sai lầm, là vì chúng ta đã đi sai quy luật. Nếu chúng ta đi sai
quy luật mà đưa vào miền Nam thì càng sai lắm.”
Tuy nhiên, đa số Ban Chấp hành Trung ương Đảng lúc ấy muốn áp dụng mô hình
kinh tế của miền Bắc cho miền Nam. Vì thế, Hội nghị cuối cùng quyết nghị: xóa
bỏ tư sản mại bản, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tư sản dân tộc, thí điểm xây
dựng hợp tác xã, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thủ công nghiệp và thương nghiệp nhỏ.
Nước ta tiến vào thời kì bao cấp.
Cơ chế quản lý kinh tế của nước ta thời đó chính là cơ chế kế hoạch hóa tập trung,
thể hiện qua những khía cạnh sau:
Nền kinh tế do nhà nước quản lý hành chính dựa trên chỉ tiêu pháp lệnh từ trên
xuống dưới. Theo đó, doanh nghiệp hoạt động theo quyết định của cơ quan nhà
nước liên quan với các pháp lệnh theo quy định từ vật liệu cung cấp, hình thức sản
xuất, tiền vốn, sản phẩm cùng tổ chức nhân sự, tiền lương và bộ máy hoạt động…
Các doanh nghiệp sẽ có chỉ tiêu cần đạt theo kế hoạch cấp vốn của nhà nước, giao
nộp sản phẩm. Lỗ lãi sẽ do nhà nước quản lý.
Doanh nghiệp được các cơ quan hành chính liên quan tham gia nhiều vào việc kinh
doanh, sản xuất nhưng không phải chịu trách nhiệm về lãi lỗ và pháp lý đối với các
quyết định của mình. Ngân sách nhà nước sẽ là cơ quan thu lãi và lỗi cho các hoạt động của doanh nghiệp.
Quan hệ tiền tệ – hàng hóa không được coi trọng hầu như chỉ là hình thức. Trong
đó, quan hệ hiện vật chiếm vị thế chủ đạo. Nền kinh tế sẽ được nhà nước quản lý
theo chế độ “cấp phát – giao nộp”. Do đó, sức lao động, tư liệu sản xuất hay phát
minh sáng chế không được coi là hàng hóa trên pháp luật.
Bộ máy quản lý qua nhiều cấp từ trung ương tới địa phương. Do có nhiều cấp
trung gian nên hoạt động không năng động, kịp thời, thậm chí dẫn tới nhiều tiêu
cực ảnh hưởng tới quyền lợi của người lao động, người dân.
Thời kì bao cấp kéo dài trong 10 năm từ 1976 – 1986 trước khi thực hiện Đổi mới.
Nước ta đã thực hiện 2 kế hoạch 5 năm trong giai đoạn này bao gồm: Kế hoạch 5
năm lần thứ 2 (1976 – 1980) và kế hoạch 5 năm lần thứ 3 (1981 – 1986). Theo
quan điểm của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa mô hình Liên Xô, kinh tế kế hoạch hóa
là điểm nổi bật quan trọng nhất với kế hoạch phân bổ mọi nguồn lực, không thừa
nhận cơ chế thị trường và sản xuất hàng hóa, xem kinh tế thị trường là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản.
Nền kinh tế nhiều thành phần không được thừa nhận mà chỉ có kinh tế quốc doanh
và tập thể là chủ đạo, để tiến hành xóa bỏ kinh tế tư nhân, cá thể và sở hữu tư nhân
khỏi xã hội. Do đó, kinh tế Việt Nam thời kì này lâm vào tình trạng khủng hoảng,
trì trệ với nhiều tiêu cực.
Nhận ra những bất cập của cơ chế kinh tế hiện hành, Nhà nước bắt đầu có một số
thay đổi trong chính sách quản lý kinh tế. Trong thời kỳ này, nước ta đã thực hiện
đường lối đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự
quản lý của Nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa. Đường lối đổi mới của
Đảng nhanh chóng được sự hưởng ứng rộng rãi của quần chúng nhân dân, khơi
dậy tiềm năng và sức sáng tạo của các loại hình kinh tế để phát triển sản xuất, tạo
thêm nhiều việc làm cho người lao động, tăng sản phẩm cho xã hội.
Thực tiễn 35 năm đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, kinh tế tư nhân đã
phát triển rộng khắp trong cả nước; đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế,
huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, 3
cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định
chính trị, an sinh xã hội của đất nước.
Kinh tế tư nhân đã và đang lớn mạnh từng ngày và có những đóng góp lớn nền
kinh tế. Cùng với đó là sự phấn đấu, sáng tạo không ngừng trong những lĩch vực
tưởng chừng Việt Nam không thể làm được. Điều này góp phần đưa tên tuổi của
Việt Nam vươn ra trường quốc tế.
Vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng được nhận thức rõ hơn và đánh giá đúng
hơn, càng đóng góp lớn hơn trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát
triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, tăng thu ngân
sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội,
giải quyết các vấn đề xã hội.
Kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỉ trọng 39 - 40%
GDP; thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh tế, góp phần quan
trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh
doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà
nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội. Bước đầu
đã hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa
ngành, có khả năng cạnh tranh tốt hơn trên thị trường trong nước và quốc tế; đội
ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh. Số lượng DN của tư nhân tăng nhanh với
nhiều loại hình đa dạng; phong trào khởi nghiệp được đẩy mạnh…
Mức độ đóng góp vào tổng sản phẩm trong nước của kinh tế tư nhân luôn chiếm tỷ
trọng lớn và tăng liên tục trong những năm qua. Tính đến nay, cả nước có khoảng
trên 500.000 DN tư nhân đang hoạt động và mỗi năm có thêm hàng vạn DN được
thành lập mới; Thu hút khoảng 51% lực lượng lao động cả nước và tạo khoảng 1,2
triệu việc làm cho người lao động mỗi năm, góp phần quan trọng 4
vào quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, tăng thu nhập cho người dân… Trong đó,
nhiều doanh nghiệp đã đạt tầm cỡ quốc tế như Vingroup, T&T Group, Thaco,
Vietjet, FLC, Vinamilk,… và có ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng toàn cầu.
Hiện nay, các doanh nghiệp tư nhân đã có thể làm được những việc mà trước đây
chỉ Nhà nước mới được làm như: xây dựng sân bay, cảng biển quốc tế trị giá hàng
nghìn tỷ đồng; sản xuất ô tô, tham gia vào lĩnh vực hàng không…
Theo PGS.TS Võ Văn Sen (Đại học Quốc gia TPHCM), trong những thế kỷ 17-
18, giống như nhiều khu vực tập trung đông cư dân ở Đàng Trong, Sài Gòn đóng
vai trò là một trung tâm chính trị, quân sự (thành trì) hơn là một trung tâm kinh tế -
xã hội (thành thị). Yếu tố “thành” là khởi đầu của các đô thị ở Đàng Trong nhưng
yếu tố “thị” mới là luồng sinh khí hình thành nên các trung tâm kinh tế, xã hội.
Từ nửa đầu thế kỷ 19, Sài Gòn đã định hình được vị trí là trung tâm kinh tế hàng
đầu ở Nam bộ. Sài Gòn - Gia Định thời kỳ 1954-1975, quy mô dân số tăng nhanh
từ 1,6 lên 3,6 triệu dân, trở thành đầu mối giao lưu giữa các vùng miền và cửa ngõ
quốc tế, là thành phố động lực mạnh nhất của chủ nghĩa tư bản ở miền Nam.
Theo thống kê, hiện nay TP.HCM có hơn 300.000 DNTN. Thành phố đang đặt
mục tiêu phấn đấu có khoảng 500.000 DN đến năm 2020, trong đó những DN quy
mô lớn và khu vực KTTN sẽ đóng góp khoảng 65% GDP, 64% tổng vốn đầu tư
toàn xã hội, năng suất lao động tăng 6,5%/năm, hằng năm có từ 30 đến 35% số DN
có đổi mới sáng tạo. Theo UBND TP.HCM, tỷ trọng KTTN trong tổng cơ cấu kinh
tế Thành phố giai đoạn 2006 - 2010 trung bình đạt 50,6%, đến năm 2016 đạt
58,83%, tỷ trọng đóng góp vào ngân sách của KTTN trong tổng thu các khu vực
kinh tế tăng từ 30% trong năm 2006 lên 34% trong năm 2016. 5
Theo số liệu từ Viện Nghiên cứu Phát triển TP.HCM, giai đoạn 2011-2015, vốn
đầu tư từ thành phần kinh tế ngoài nhà nước chiếm khoảng 61% tổng vốn đầu tư cả
giai đoạn, thành phần kinh tế nhà nước chiếm 21% và thành phần kinh tế có vốn
nước ngoài chiếm 18%. Thông qua số liệu thống kê, có thể khẳng định khu vực
KTTN đang ngày càng thể hiện vai trò là động lực trong phát triển kinh tế - xã hội,
giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng thu ngân sách.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đó thì khu vực KTTN tại TP.HCM đang
gặp rất nhiều khó khăn và bộc lộ những mặt yếu kém. DNTN chủ yếu là DN nhỏ
và vừa (chiếm gần 99%), trong đó DN siêu nhỏ (vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng)
chiếm hơn 89%. Số DN tham gia đầu tư, sản xuất không nhiều, chủ yếu là kinh
doanh thương mại, sửa chữa nhỏ. Cùng với đó, trình độ công nghệ thấp, chậm đổi
mới, năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh thấp, trình độ quản trị, tính liên kết không cao, khả năng
tham gia chuỗi giá trị trong nước và quốc tế thấp, cho nên khả năng cạnh tranh còn
yếu, việc tiếp cận các chính sách ưu đãi của Thành phố còn chậm, khó cạnh tranh với doanh nghiệp FDI…
Qua các biểu đồ trên ta cũng có thể thấy sự tăng trưởng về kinh tế ở TP.HCM sau
thời kỳ Đổi Mới
Tuy vậy, hiện tượng vi phạm pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh trong khu
vực KTTN tại TP.HCM còn khá phổ biến. Tình trạng sản xuất, kinh doanh gây ô
nhiễm môi trường, không bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, gian lận thương
mại diễn ra nghiêm trọng, phức tạp. Nhiều DNTN không bảo đảm lợi ích của người
lao động, nợ bảo hiểm xã hội, báo cáo tài chính không trung thực, trốn thuế và nợ
thuế kéo dài. Xuất hiện những quan hệ không lành mạnh giữa một số DNTN và
công chức, can thiệp vào quá trình xây dựng, thực thi chính sách để có đặc quyền,
đặc lợi, hình thành lợi ích nhóm. Thể chế về phát triển DN, doanh nhân còn nhiều
bất cập. Công tác phổ biến, quán triệt và tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển KTTN chưa được thực hiện thường
xuyên, đầy đủ, sâu rộng. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng yêu cầu
phát triển KTTN, nhất là hạ tầng giao thông và nguồn nhân lực.
Bên cạnh những thành tựu “rất quan trọng” về kinh tế, vị thế của kinh tế tư nhân
ngày càng được nâng cao trong đời sống chính trị, xã hội. Hiện nay, các văn bản
pháp luật liên quan đến kinh tế đều được Quốc hội, Chính phủ yêu cầu phải có ý
kiến cộng đồng doanh nghiệp tư nhân thông qua Phòng Công nghiệp và Thương
mại Việt Nam (VCCI) trước khi ban hành.
Xét ở khía cạnh quốc phòng, sự phát triển của kinh tế tư nhân những năm qua đã
trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, ổn định môi trường
chính trị - xã hội, tăng cường các tiềm lực chính trị - tinh thần, tiềm lực kinh tế,
tiềm lực khoa học - công nghệ của nền quốc phòng toàn dân. Sự phát triển rộng
khắp của kinh tế tư nhân, đặc biệt ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới,
hải đảo đã trực tiếp góp phần hoàn thiện thế trận quốc phòng toàn dân; từng bước
đáp ứng tốt nhu cầu thường xuyên và đột xuất của lực lượng vũ trang. Các chủ hộ
kinh tế cá thể, tiểu chủ và doanh nghiệp tư nhân trên mọi miền Tổ quốc đã tham
gia thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách hậu phương quân đội, 9
“đền ơn đáp nghĩa” các gia đình thương binh, liệt sỹ, gia đình có công với cách
mạng; hỗ trợ các hoạt động của dân quân, tự vệ... Điều đó cho thấy tiềm lực, vai
trò, giá trị đóng góp của kinh tế tư nhân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
là vô cùng to lớn. Và, quan điểm kinh tế tư nhân là “động lực quan trọng của nền
kinh tế” được Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định là khách quan, khoa học, hợp lòng dân.
Sự phát triển của khu vực KTTN ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua là
minh chứng rõ nhất khẳng định chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng khi xác
định KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Trên tinh thần Nghị quyết
Hội nghị Trung ương 5 - Khóa XII về phát triển KTTN, thành phố
Hồ Chí Minh cần quán triệt sâu sắc những quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết này
và vận dụng linh hoạt, sáng tạo, sát với thực tế địa phương để đề ra các cơ chế, giải
pháp phù hợp nhằm kích thích, tạo động lực thúc đẩy khu vực KTTN của thành
phố phát triển, xứng đáng với vai trò “đầu tầu” kinh tế của cả nước.
Cảm nhận cá nhân đi bảo tàng ●
Khánh Toàn: khi bước vào bảo tàng TPHCM, em khá bất ngờ với kiến
trúc của bảo tàng. Toà nhà mang dáng vốc kiến trúc phục hưng hoà cùng với đó là
phong cách đông dương và những đường nét điêu khắc tinh xảo. Chính vì vậy,
mang lại cho em cảm giác hoài cổ, sang trọng khi tham quan. ●
Hồng Đăng: rất cảm ơn cô đã tạo cơ hội cho em tham quan một bảo
tàng lịch sử tuyệt vời. Từng di vật lịch sử đều được bảo quản rất kĩ tuy nhiên
không làm cho vết tích lịch sử bị phai nhoà đi, đây là điều em rất ấn tượng. ●
Xuân Phú: Chuyến tham quan bảo tàng lần này thực sự rất bổ ích và
cho em tiếp thu thêm được nhiều kiến thức. Bảo tàng thành phố HCM được thiết kế 10
rất tinh xảo với nhiều chi tiết độc đáo nhưng vẫn giữ được sự hoài cổ của năm
tháng. Sau khi tham quan hết các phòng cùng nhiều kỷ vật có giá trị em thấy nó đã
một phần nào tái hiện lịch sử hào hùng của Sài Gòn xưa cũng như cũng như khơi
dậy lòng biết ơn với sự hy sinh của những thế hệ đi trước. Cảm ơn cô đã tạo điều
kiện để chúng em có cơ hội được tham quan trải nghiệm! ●
Vĩ Dân: Cảm ơn cô đã tạo điều kiện cho em và các bạn đi tham quan
bảo tàng lần này, em đã được một lần mở mang được tầm nhìn của mình về xã
hội ngày xưa, nào là vũ khí, nào là các trang phục truyền thống, nào là các
nghi lễ nhưng cái em thấy thú vị nhất chính là cách mà tiền đã tiến hóa theo từng
giai đoạn, từ tiền được làm bằng kim loại cho đến tiền giấy thời hiện đại. Lần nữa
cảm ơn cô đã cho bọn em có cơ hội được tiếp thu những kiến thức bổ ích này ! ●
Đoàn Minh Trí: Ngay khi còn nhỏ em đã rất thích và muốn biết thật
nhiều về lịch sử của nước ta đã trải qua như thế nào,dòng thời gian đi qua ra
sao.Khi bước lên giảng đường đại học em rất hào hứng và muốn tiếp thu kiến thức
của từng môn học chính trị,tư tưởng.Mỗi môn em đi qua đều có những nội dung
riêng biệt và kết nối với nhau,quan trọng hơn hết còn được trải nghiệm các bảo
tàng của thành phố.Ngay từ buổi đầu học môn Kinh tế chính trị Mác-Lênin được
cô Nguyễn Thị Điệp dạy những kiến thức bổ ích về hình thái kinh tế,chính
trị.Những kiến thức ấy được bổ sung thêm cho em và cô đã cho chúng em có dịp
ghé thăm Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh ở 65 Lý Tự Trọng, Q.1.Khi đi vào
bảng tàng em nhận thấy được kiến trúc của Pháp và những kiến thức lịch sử Việt
Nam thời Pháp thuộc của nước ta đã phải trải qua đau thương, nhưng không thể
nảo phủ nhận kiến trúc này thật đẹp.Hình ảnh tiếp theo e thấy là những cổ pháo, xe
ngày xưa thật đẹp và cổ,cùng với những trải nghiệm tham quan trong bảo tàng những thước phim 11
lịch sử được trải nghiệm ngay trước mắt từ lịch sử Sài Gòn – Gia Định xa xưa cho
đến thời kỳ Nam bộ kháng chiến, từ địa chất sông ngòi cho đến kinh tế, văn hoá
qua các thời kỳ. Có nhiều hiện vật tái hiện lại đời sống xã hội vùng đất Sài Gòn –
Gia Định và Nam bộ nhiều thế kỷ trước cho đến ngày nay.Thật biết ơn những văn
hóa,lịch sử được để lại như những tinh túy lớp trẻ chúng e cần tiếp thu và biết về
nép đẹp ấy.Cảm ơn cô đã cho em một trải nghiệm về lịch sử.Với vai trò là người
công dân,sinh viên,một người yêu nước em hiểu được tinh thần yêu nước của cha
ông,sự hi sinh vĩ đại ấy,nó là động lực cho lớp trẻ tụi em phải phấn đấu để gìn giữ
lấy văn hóa,lịch sử,trở thành một người có ích cho đất nước,cuối cùng là vì lý
tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại,sẵn sàng để cống hiến cho mảnh đât tươi đẹp này. ●
Nguyễn Phương Quỳnh Uyên: Có thể nói, chuyến đi bảo tàng Hồ Chí
Minh hôm ấy đã đem lại cho tôi một trải nghiệm vô giá. Những chuyến đi tìm về
lịch sử như vậy thật sư khiến người ta phải trầm ngâm về hiện tại. Được nhìn
những hình ảnh của Bác, thấu hiểu được nỗi lòng của Bác, mình thật sự phải tự
nhủ là phải biết sống nhân ái hơn, bao dung và đùm bọc với cộng đồng hơn, để
không phải cảm thấy hổ thẹn với sự hy sinh to lớn của Bác. Những cái vọng ước
của mình trong hiện tại có thể đối với bản thân là rất lớn, nhưng đó chỉ là vọng ước
của cá nhân tầm thường, dẫu có thất bại cũng có thể vượt qua, có thể làm lại, có
thể trăn trở một thời gian ngắn để giải quyết, nó không là gì đối với tấm lòng của
Bác, sẵn sàng quên mình để lo cho mong ước chung của nước của dân. Là con
cháu của dân tộc ấy, ngày nay phải tự nhủ mình sống sao cho xứng đáng với sự hy
sinh của cha ông ngày xưa, sống sao cho xứng đáng với tấm lòng của Bác, một con
người vô cùng vĩ đại, mà lại vô cùng bình dị, đơn sơ. Tôi ước ao sao một ngày nào
đó được đặt chân lên đất bắc, được đến thăm nơi yên nghỉ của Người để được tận
mắt trông thấy dáng hình của Hồ Chủ Tịch, được cảm nhận tiếng yêu thương vang
dội nơi trái tim Người. 12 ●
Trần Ngọc Bảo Châu: Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh hẳn là một
minh chứng cho sự phát triển cũng như là nơi ghi lại từng cột mốc tại nơi Sài Gòn
phồn hoa này. Mọi thông tin bên trong bảo tàng đáng giá từng giai đoạn lịch sử mà
thành phố đã trải qua, cùng với con người sinh sống trên mảnh đất Sài Thành. Có
thể tôi không phải là người thích nghe “lý thuyết” lịch sử nhưng
tôi thích cách mà bảo tàng trưng bày, giữ lại bảo quản các đồ vật để các thế hệ sau
đến xem và biết thành phố này đã trải qua những gì.
Các nguồn tham khảo ●
https://www.gso.gov.vn/su-kien/2020/09/23410/ ●
https://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/khang-dinh-vi-tri-vai-tro-
cua- kinh-te-tu-nhan-trong-nen-kinh-te-viet-nam-127594.html ●
https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_bao_c%E1%BA%A5p ●
https://tuyengiao.vn/dua-nghi-quyet-cua-dang-vao-cuoc-song/kinh-te-tu-
nhan-dong-luc-quan-trong-cua-nen-kinh-te-133367 ●
https://tapchitaichinh.vn/co-che-chinh-sach/thuc-trang-va-giai-phap-
phat- trien-thanh-phan-kinh-te-tu-nhan-347427.html ●
https://doanhnhansaigon.vn/di-nghi-viet/vai-tro-kinh-te-tu-nhan-tp-hcm-
voi- mo-hinh-phat-trien-ben-vung-1091761.html ●
https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-o-thanh- pho-
ho-chi-minh-theo-tinh-than-nghi-quyet-hoi-nghi-trung-uong-5--khoa-xii- 52072.htm 13 ●
https://dantri.com.vn/kinh-doanh/kinh-te-tphcm-tu-thanh-tri-den-thanh- thi- 1430954379.htm 4
