



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI ---------- BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ ĐỀ TÀI:
BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2020 – 2022
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Lê Thị Kim Nhung Lớp học phần : 241_EFIN2811_09 Nhóm thực hiện : Nhóm 03
Hà Nội, 11/ 2024 MỤC LỤC
MỤC LỤC..................................................................................................................... i
DANH MỤC BẢNG....................................................................................................ii
DANH MỤC HÌNH.....................................................................................................ii
LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................................iii
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM.....................................................1
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM...................................................1
1.1.1. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm trong nền kinh tế..............................1
1.1.2. Các hình thức bảo hiểm................................................................................2
1.1.3. Đặc điểm của bảo hiểm................................................................................4
1.1.4. Vai trò của bảo hiểm trong nền kinh tế.........................................................5
1.2. BẢO HIỂM XÃ HỘI........................................................................................6
1.2.1. Khái niệm và nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã hội.............................6
1.2.2. Nội dung hoạt động của Bảo hiểm xã hội.....................................................7
1.2.3. Hoạt động của Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam................................................1
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 2020 – 2022..................................................................................5
2.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BHXH VIỆT NAM5
2.2. THỰC TRẠNG BHXH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.......................................9
2.2.1. Khái quát chung thực trạng tham gia BHXH ở Việt Nam giai đoạn 2020 –
2022........................................................................................................................ 9
2.2.2. Đối tượng tham gia BHXH ở Việt Nam giai đoạn 2020 – 2022.................10
2.2.3. Hoạt động thu BHXH ở Việt Nam.............................................................11
2.2.4. Tình hình nợ đóng BHXH giai đoạn 2020 – 2022......................................19
2.2.5. Hoạt động chi trả BHXH theo Luật BHXH ở Việt Nam............................22
2.2.6. Tình hình thực hiện chính sách hưởng BHXH một lần...............................27
CHƯƠNG 3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO BHXH........................................32
3.1. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CỦA BHXH.....................................................32
3.2. GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ, THIẾU SÓT..................33
KẾT LUẬN................................................................................................................35
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................36
BIÊN BẢN HỌP NHÓM THẢO LUẬN..................................................................41
PHIẾU ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN.........................................................................43 i DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Số liệu về lượng người tham gia bảo hiểm xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2020
– 2022............................................................................................................................ 9
Bảng 2.2. Tổng số người tham gia BHXH giai đoạn 2020-2022.................................10
Bảng 2.3. Tổng thu BHXH ở Việt Nam giai đoạn 2020-2022......................................12
Bảng 2.4. Tình hình thu bảo hiểm xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2020 - 2022..............14
Bảng 2.5. Mức lương cơ sở giai đoạn 2020-2022.......................................................16
Bảng 2.6. Mức lương tối thiểu vùng giai đoạn 2020-2022..........................................17
Bảng 2.7. Tỷ lệ đóng BHXH giai đoạn 2020-2022......................................................18
Bảng 2.8. Tình hình chi BHXH tại Việt Nam giai đoạn 2020-2022.............................22
Bảng 2.9. Số lượng người hưởng BHXH một lần trong giai đoạn 2020 - 2022...........28 DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1.Giao diện của hệ thống đăng ký chi trả lương hưu, bảo trợ xã hội và người c
ó công tại nhà.............................................................................................................. 24 ii LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường bảo hiểm không chỉ là một phần quan trọng của nền kinh tế mà còn
đóng vai trò quyết định trong việc bảo vệ và phục hồi tài chính cho cá nhân, doanh
nghiệp và cả xã hội. Với sự đa dạng của các sản phẩm và dịch vụ bảo hiểm, nó cung
cấp một mạng lưới bảo vệ toàn diện, giúp người dân và doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro
và đối phó với những thách thức không mong muốn trong cuộc sống và kinh doanh
hàng ngày. Trong xã hội ngày nay, mọi người phải đối mặt với nhiều loại rủi ro không
mong muốn như tai nạn giao thông, thảm họa tự nhiên, bệnh tật và thất nghiệp. Việc
có một chính sách bảo hiểm vững chắc giúp giảm bớt gánh nặng tài chính đối với cá
nhân và gia đình khi xảy ra những sự kiện bất ngờ, đồng thời cũng giúp duy trì sự ổn
định trong cuộc sống hàng ngày. Bên cạnh đó, thị trường bảo hiểm còn đóng vai trò
quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động kinh tế. Các chương trình bảo hiểm giúp
giảm bớt rủi ro cho doanh nghiệp, từ việc bảo vệ tài sản và nhân viên đến việc đảm
bảo sự liên tục của hoạt động kinh doanh. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các
doanh nghiệp mở rộng quy mô hoạt động, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, và tạo
ra cơ hội việc làm cho người lao động. Như vậy, thị trường bảo hiểm không chỉ đóng
vai trò trong việc bảo vệ tài sản mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Trong bối cảnh Việt Nam đang trên đà phát triển nhanh chóng, vấn đề bảo hiểm
xã hội ngày càng trở nên cấp thiết. Sự già hóa dân số, dịch bệnh và những biến động
kinh tế - xã hội đã đặt ra những thách thức lớn cho hệ thống bảo hiểm hiện hành. Theo
Báo Nhân dân, đến ngày 1/4/2021, dân số Việt Nam đạt 98,2 triệu người, trong đó có
12,5 triệu người từ 60 tuổi trở lên (12,8%); 8,1 triệu người từ 65 tuổi trở lên (8,3%);
gần 2 triệu người từ 80 tuổi trở lên (2%). Hơn nữa, trong giai đoạn 2020-2023, trên
toàn thế giới cũng như ở Việt Nam phải gánh chịu hậu quả nặng nề từ Covid-19. Theo
Bộ Y tế, kể từ đầu dịch đến ngày 30/05/2024, Việt Nam có 11.611.376 ca nhiễm,
đứng thứ 13/231 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong khi với tỷ lệ số ca nhiễm/1 triệu dân,
Việt Nam đứng thứ 120/231 quốc gia và vùng lãnh thổ (bình quân cứ 1 triệu người có
117.342 ca nhiễm). Có thể nói là đại dịch COVID-19 càng làm gia tăng nhu cầu về an
sinh xã hội, vì vậy nhu cầu về bảo hiểm xã hội ngày càng tăng cao. Nhưng độ bao phủ
bảo hiểm còn hạn chế, chất lượng dịch vụ chưa đồng đều, cùng với nguồn lực tài chính
eo hẹp là những vấn đề nan giải cần được giải quyết. Việc không có một hệ thống bảo
hiểm xã hội toàn diện và hiệu quả không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của người dân,
mà còn cản trở sự phát triển bền vững của đất nước. Trong bối cảnh này, việc nghiên
cứu và phân tích sâu hơn về thực trạng thị trường bảo hiểm tại Việt Nam là vô cùng
cần thiết và có ý nghĩa to lớn đối với cả các nhà quản lý, doanh nghiệp và cả người
tiêu dùng. Hãy cùng nhìn vào những yếu tố chính mà đang tác động đến thị trường bảo iii
hiểm Việt Nam hiện nay để có cái nhìn tổng quan và chi tiết hơn về tình hình này.
Nhận thức về tầm quan trọng của thị trường bảo hiểm trong việc bảo vệ tài sản và đảm
bảo an sinh xã hội cho người dân, nhóm chúng tôi đã quyết định tiến hành nghiên cứu
đề tài "Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra". iv
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM
1.1.1. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm trong nền kinh tế
Trong đời sống xã hội, các chủ thể thường xuyên có mối quan hệ tác động qua l
ại với tự nhiên và xã hội để tạo ra những sản phẩm, những giá trị cần thiết cho sự tồn t
ại và phát triển của mình. Trong quá trình đó, những biến cố bất lợi xảy ra gây tổn thất,
thiệt hại cho quá trình sản xuất kinh doanh và đời sống con người được gọi là những rủ i ro.
Các rủi ro có thể xảy ra đối với các chủ thể trong nền kinh tế bao gồm:
Đối với đời sống dân cư: Trong cuộc sống, con người vẫn phải phụ thuộc vào t
hiên nhiên. Sự biến đổi của tự nhiên thường làm cho con người gặp phải những rủi ro
khó lường trước như bão lụt, hạn hán, động đất, hỏa hoạn, sóng thần... Mặc dù họ đã th
ực hiện các biện pháp phòng chống, bảo vệ bằng cách đắp đê chống lụt, xây dựng hệ t
hống thủy nông, dự báo thời tiết,.. nhưng các biến cố bất lợi đó vẫn có thể xảy ra và gâ
y tổn thất thiệt hại. Khi xảy ra các thiệt hại, họ phải tìm cách khắc phục thiệt hại, ổn đị
nh đời sống bằng các biện pháp khác nhau như đi vay, xin cứu trợ,... nhưng các biện p
háp này có nhiều hạn chế và mang tính tạm thời. Vì vậy, song song với các biện pháp
phòng tránh rủi ro, một biện pháp hữu hiệu là con người dành một phần thu nhập từ la
o động của mình tích lũy, đóng góp hình thành quỹ tiền tệ đủ lớn để có thể bù đắp kịp t
hời những thiệt hại khi rủi ro xảy ra nhằm ổn định cuộc sống.Ngoài ra, trong quá trình
lao động sản xuất, con người có thể gặp phải những rủi ro khách quan mang tính chất
xã hội như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp... làm cho họ mất khả
năng lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn, làm giảm hoặc mất đi thu nhập của họ. Khi đó,
họ cần có nguồn tài chính để bù đắp phần thu nhập bị giảm và trang trải các chi phí ph
át sinh nhằm ổn định cuộc sống bản thân, gia đình người lao động. Nhận thức được vấ
n đề này, từng cá nhân đã dành một phần thu nhập của mình để lập nền quỹ dự trữ bảo hiểm.
Đối với các đơn vị sản xuất, kinh doanh: Các hoạt động kinh doanh của các chủ
thể kinh doanh trong nền kinh tế cũng luôn tiềm ẩn các rủi ro khó lường. Sự biến đổi b
ất lợi của tự nhiên như bão lụt, động đất, sóng thần... có thể làm cho sản xuất ngưng trệ,
gây tổn thất thiệt hại đến tài sản của các chủ thể kinh doanh. Mặt khác, các hoạt động
sản xuất kinh doanh của các chủ thể còn chịu tác động của các rủi ro khác như mất trộ
m, mất cắp, tai nạn lao động, tai nạn giao thông.... khi đó, cũng đòi hỏi phải có biện ph
áp tài chính để phòng ngừa và bù đắp những tổn thất thiệt hại để ổn định sản xuất kinh
doanh.Ngoài các rủi ro mang tính chất tự nhiên và xã hội, các chủ thể kinh doanh còn
chịu tác động bởi các quy luật kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường như: Qu
y luật giá cả, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Các quy luật này có thể mang đến 1
những cơ hội kinh doanh nhưng cũng có thể tiềm ẩn các rủi ro. Do đó cần thiết phải th
ực hiện các biện pháp phòng ngừa tài chính dưới các hình thức lập quỹ dự phòng, tha
m gia các hình thức bảo hiểm.
Đối với Nhà nước: Để thực hiện chức năng của Nhà nước là phát triển kinh tế v
à ổn định xã hội thì nhà nước phải có quỹ dự trữ để đảm bảo vai trò điều tiết vĩ mô nền
kinh tế. Nhà nước sẽ dùng quỹ này để can thiệp vào nền kinh tế mỗi khi có sự biến độn
g bất lợi cho nền kinh tế vĩ mô. Như vậy, sự tồn tại của bảo hiểm là một tất yếu khách
quan đối với vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước. Như vậy, việc tạo lập và sử dụng quỹ
dự trữ bảo hiểm là một nhu cầu tất yếu, nhằm phòng ngừa tạo nguồn bù đắp tổn thất và
đảm bảo cho nền kinh tế - xã hội phát triển bình thường trong điều kiện có những biến
cố bất lợi xảy ra. Người ta thường ví cuộc sống không có bảo hiểm giống như "cầu tha
ng không có tay vịn". Bảo hiểm đã thực sự đi vào từng lĩnh vực của đời sống kinh tế -
xã hội với các sản phẩm hết sức phong phú, đa dạng. Ban đầu, các hoạt động bảo hiểm
ra đời chủ yếu là do nhu cầu ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống con người, với c
hức năng chủ yếu là phòng ngừa, tạo nguồn tài chính để khắc phục những rủi ro hoặc t
ai nạn bất ngờ. Ngày nay, các tổ chức bảo hiểm còn hoạt động với vai trò như một tổ c
hức tài chính trung gian, thực hiện chức năng thu hút các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã
hội, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Bảo hiểm được hiểu theo nhiều cách khác nhau:
Bảo hiểm là phương thức xử lý rủi ro thông qua việc dự trữ đề phòng rủi ro, chu
yển giao, phân tán rủi ro nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất và đời sống của con
người trong xã hội được diễn ra bình thường.
Bảo hiểm là một phạm trù tài chính gắn liền với các quan hệ kinh tế phát sinh tr
ong quá trình hình thành phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm. Các quan hệ phân phối n
ày dựa trên cơ sở ngang bằng giữa trách nhiệm và quyền lợi, nhân đạo, vì lợi ích cuộc
sống và hoạt động kinh tế - xã hội của con người, góp phần ổn định sản xuất kinh doan h và đời sống xã hội.
Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn với quá trình hình thành, phân phối và s
ử dụng quỹ bảo hiểm nhằm xử lý các rủi ro, các biến cố bảo hiểm, bảo đảm cho quá trì
nh tái sản xuất và đời sống của xã hội diễn ra bình thường.
Như vậy, Bảo hiểm là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phá
t sinh trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm nhằm đảm b
ảo cho quá trình tái sản xuất và đời sống của con người trong xã hội được ổn định
và phát triển bình thường trong điều kiện có những biển cổ bất lợi xảy ra. 2
1.1.2. Các hình thức bảo hiểm
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động bảo hiểm ngày càng đa dạng,
phong phú. Dựa trên các tiêu thức phân loại khác nhau, có nhiều hình thức bảo hiểm k hác nhau:
a. Căn cứ vào phương thức xử lý rủi ro
Theo tiêu thức này, hoạt động bảo hiểm được chia thành các hoạt động tự bảo h
iểm và bảo hiểm thông qua các tổ chức bảo hiểm.
Tự bảo hiểm: Là hình thức bảo hiểm mà các tổ chức, cá nhân thành lập các quỹ
riêng để bù đắp các tổn thất có thể xảy ra đối với quá trình sản xuất và đời sống của mì
nh. Việc tự bảo hiểm cho mình thường được thực hiện khi họ có đủ khả năng tài chính.
Trong thực tế, hình thức tự bảo hiểm được biểu hiện thông qua việc tạo lập và sử dụng
quỹ dự trữ tập trung của nhà nước, quỹ dự phòng của các doanh nghiệp, quỹ dự trữ của các hộ gia đình…
Bảo hiểm thông qua các tổ chức bảo hiểm: Là hình thức bảo hiểm mà người tha
m gia bảo hiểm sẽ chuyển giao, phân tán rủi ro cho các tổ chức bảo hiểm mà bản thân
họ không muốn hoặc không đủ khả năng để gánh chịu rủi ro đó thông qua việc trích nộ
p một phần thu nhập của mình cho các tổ chức bảo hiểm dưới dạng phí bảo hiểm. Các
tổ chức bảo hiểm hoạt động chuyên nghiệp trong phân tích rủi ro, ước lượng mức độ r
ủi ro và phân tán rủi ro, đồng thời họ còn có trách nhiệm trong việc bảo toàn và tăng tr
ưởng quỹ để sử dụng chúng cho các mục tiêu dự phòng tài chính và khắc phục hậu quả
của rủi ro, cho nên hình thức bảo hiểm này được xem là hình thức bảo hiểm hoạt động
có hiệu quả trên mọi phương diện của nền kinh tế.
Trong thực tế, hình thức bảo hiểm này được biểu hiện thông qua các tổ chức bả
o hiểm chuyên nghiệp như các công ty bảo hiểm, tập đoàn bảo hiểm và tổ chức bảo hiể m xã hội.
b. Căn cứ vào mục đích hoạt động
Theo tiêu thức này, hoạt động bảo hiểm được chia thành bảo hiểm có mục đích
kinh doanh và bảo hiểm không có mục đích kinh doanh.
Bảo hiểm có mục đích kinh doanh: Là hình thức bảo hiểm do các chủ thể tiến h
ành nhằm mục tiêu lợi nhuận. Chính vì mục đích hoạt động của loại hình bảo hiểm này
mà nó có các tên gọi khác nhau như: bảo hiểm kinh doanh, bảo hiểm thương mại hay b
ảo hiểm rủi ro. Người bảo hiểm tìm kiếm lợi ích kinh tế trên cơ sở thu phí bảo hiểm và
cam kết thực hiện bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi xảy
ra sự kiện bảo hiểm thông qua một hợp đồng bảo hiểm. Các tổ chức thực hiện hoạt độn
g bảo hiểm với mục đích kinh doanh thường là các công ty bảo hiểm cung ứng các sản
phẩm dịch vụ bảo hiểm trên thị trường để tìm kiếm lợi như vận và phát triển. Hoạt độn
g của các tổ chức này bị chi phối bởi quy luật cạnh tranh của thị trường, vì vậy họ khô 3
ng những phải chú ý đến chất lượng dịch vụ, thị hiếu, nhu cầu của khách hàng mà còn
phải chú ý tới giá cả của sản phẩm dịch vụ cung cấp.
Bảo hiểm không vì mục đích kinh doanh là hình thức bảo hiểm do các chủ thể ti
ến hành không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Mục đích chủ yếu của loại hình bảo hiểm này
là nhằm tương hỗ giữa các thành viên tham gia. Với tư cách là tổ chức quản lý quỹ xã
hội, quỹ tài chính tập trung, bảo hiểm xã hội hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, m
à phục vụ cho chính sách xã hội, vì mục đích và quyền lợi của người lao động có tham
gia bảo hiểm xã hội. Cũng dựa trên nguyên tắc đó, việc hình thành và sử dụng quỹ dự t
rữ tập trung của Nhà nước, các quỹ tương hỗ, quỹ dự trữ trong các doanh nghiệp, các g
ia đình phục vụ cho mục tiêu an toàn, ổn định sự phát triển của nền kinh tế, của từng d
oanh nghiệp, từng hộ gia đình hay cá nhân cũng là những hình thức bảo hiểm không vì mục đích kinh doanh.
1.1.3. Đặc điểm của bảo hiểm
- Bảo hiểm là một hình thức dự trữ tài chính nhằm bù đắp và khắc phục những tổn thấ
t thiệt hại đối với sản xuất kinh doanh và đời sống con người khi những biến cố bất lợi xảy ra.
Cũng như các quỹ tiền tệ khác, quỹ bảo hiểm được tạo lập thông qua quá trình p
hân phối của cải xã hội dưới hình thái giá trị, việc tạo lập quỹ có thể dưới nhiều hình th
ức khác nhau như bắt buộc hay tự nguyện, tự bảo hiểm hay bảo hiểm thông qua một tổ
chức bảo hiểm,... nhưng tất cả đều xuất phát từ nhu cầu cần được đảm bảo an toàn tron
g quá trình sản xuất kinh doanh và đời sống của con người trước những tác động của r
ủi ro. Chính vì vậy, để thỏa mãn nhu cầu của người tham gia bảo hiểm, việc phân phối
sử dụng quỹ bảo hiểm phải đảm bảo chi trả, bồi thường tổn thất thiệt hại khi có những
biến cố bất lợi xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, bảo hiểm đã trở thành một loại
hình dịch vụ tài chính đặc biệt. Sản phẩm bảo hiểm là sự đảm bảo về mặt tài chính trư
ớc rủi ro cho người được bảo hiểm. Đề bảo vệ mình, người tham gia bảo hiểm nộp phí
cho người bảo hiểm để đổi lấy lời hứa hay cam kết của người bảo hiểm là sẽ trả tiền bả
o hiểm khi rủi ro xảy ra. Trong hoạt động bảo hiểm, các tổ chức bảo hiểm nhận phí bả
o hiểm của người tham gia bảo hiểm đóng góp và sau đó mới thực hiện nghĩa vụ với b
ên được bảo hiểm khi sự cố bảo hiểm xảy ra. Như vậy, với dịch vụ này sản phẩm được
bán ra trước, sau đó mới phát sinh chi phí bồi thường, chi trả bảo hiểm.
- Bảo hiểm vừa mang tính chất bồi hoàn vừa mang tính chất không bồi hoàn
Trong thời gian được bảo hiểm, nếu rủi ro không xảy ra hoặc có xảy ra nhưng k
hông gây thiệt hại ảnh hưởng đến đối tượng bảo hiểm thì người bảo hiểm không phải b
ồi thường hay trả tiền cho bên mua bảo hiểm. Ngược lại, nếu xảy ra sự cố, đối tượng b
ảo hiểm bị thiệt hại hoặc bị ảnh hưởng thì bên mua bảo hiểm sẽ được chi trả, bồi thườn 4
g. Như vậy, quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm trên thị trường
vừa mang tính chất bồi hoàn, vừa mang tính chất không bồi hoàn. Đặc điểm này đã tạo
ra tỉnh nhàn rỗi của quỹ bảo hiểm, nguồn tài chính này thường được các công ty bảo hi
ểm sử dụng để đầu tư nhằm bảo toàn và phát triển quỹ bảo hiểm.
Tỉnh bồi hoàn của bảo hiểm có tính chất bất ngờ cả về không gian, thời gian và
quy mô. Chính vì vậy, trong quá trình hoạt động, các tổ chức bảo hiểm phải xây dựng
các quỹ dự phòng để đảm bảo trong mọi tình huống đều có thể thực hiện được các cam
kết của mình trước những người tham gia bảo hiểm khi các sự cố bảo hiểm xảy ra.
Việc nghiên cứu đặc điểm của bảo hiểm có ý nghĩa thiết thực trong việc quản lý,
tổ chức triển khai các nghiệp vụ bảo hiểm. Bên cạnh đó, điều này còn có ý nghĩa quan
trọng trong việc chọn lựa và kiểm soát phương thức tạo lập và phân phối sử dụng quỹ bảo hiểm.
1.1.4. Vai trò của bảo hiểm trong nền kinh tế
- Bảo hiểm góp phần ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống con người
Trong bảo hiểm kinh doanh, khi các tổ chức bảo hiểm gặp phải những rủi ro, trá
ch nhiệm chi trả, bồi thường cho người được bảo hiểm là yêu cầu bắt buộc đối với ngư
ời bảo hiểm. Nhờ vào những khoản chi trả, bồi thường này mà các cơ sở sản xuất kinh
doanh có thể xây dựng lại cơ sở vật chất, mua lại các máy móc thiết bị đã bị hư hỏng,
mất mát,... để có thể tiếp tục hoạt động. Trong bảo hiểm xã hội, nhờ vào các khoản trợ
cấp, bồi thường trong trường hợp ốm đau, tai nạn, không còn khả năng lao động hay m
ất việc làm... mà người lao động có thể khắc phục khó khăn, ổn định đời sống, đồng th
ời góp phần giảm bớt gánh nặng về mặt tài chính cho tổ chức sử dụng lao động. Trong
trường hợp người lao động bị chết, thân nhân của họ sẽ nhận được một khoản tiền hỗ t
rợ từ tổ chức bảo hiểm xã hội. Khi về hưu tổ chức bảo hiểm xã hội sẽ chi trả lương hư
u và hỗ trợ các chi phí y tế, chăm sóc sức khỏe,... Trong mọi hoạt động bảo hiểm ngườ
i tham gia bảo hiểm có thể khắc phục kịp thời những tổn thất vật chất do rủi ro tai nạn
gây ra một các nhanh chóng nhất, sớm hồi phục sức khỏe, ổn định đời sống để tiếp tục
quá trình học tập, lao động, sinh hoạt bình thường. Như vậy, thông qua việc sử dụng q
uỹ bảo hiểm đã được tạo lập để bồi thường, chi trả kịp thời, chính xác những tổn thất v
ật chất cho người tham gia bảo hiểm. Do vậy, bảo hiểm đã góp phần ổn định sản xuất
kinh doanh và ổn định đời sống của người tham gia bảo hiểm.
- Bảo hiểm góp phần phòng tránh, hạn chế rủi ro tổn thất
Đứng trên giác độ lợi ích của các tổ chức bảo hiểm, việc tổ chức tốt các biện ph
áp đề phòng, hạn chế tổn thất có hiệu quả sẽ giảm được khoản chi phí bồi thường, trả ti
ền bảo hiểm, đảm bảo an toàn cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để tổ chức t
ốt các biện pháp đề phòng, hạn chế rủi ro tổn thất, các tổ chức bảo hiểm đã theo dõi, th
ống kê tình hình tai nạn, tổn thất, xác định những nguyên nhân chủ yếu gây ra tai nạn. 5
Trên cơ sở đó, tổ chức bảo hiểm phối hợp với các cơ quan hữu quan đề đề xuất, hỗ trợ
về tài chính và tổ chức thực hiện các biện pháp đề phòng có hiệu quả nhất, nhằm giảm
thấp nhất mức tổn thất có thể xảy ra. Đứng trên giác độ người tham gia bảo hiểm, ngoà
i trách nhiệm phải đóng góp đầy đủ phí bảo hiểm, họ còn phải thực hiện tốt trách nhiệ
m đề phòng hạn chế tổn thất, thông báo tình hình và diễn biến tai nạn, tổn thất để có bi
ện pháp ngăn chặn kịp thời. Nếu không, để xảy ra tổn thất trầm trọng thì có thể bị giảm
mức bồi thường hoặc thậm chí tổ chức bảo hiểm có quyền từ chối nghĩa vụ bồi thường
nếu rủi ro xảy ra không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
Đối với bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, các tổ chức quản lý phải thường xuyê
n kiểm tra an toàn trong các doanh nghiệp nhằm phòng tránh tai nạn xảy ra. Trong trườ
ng hợp các đơn vị này thực hiện không tốt các biện pháp đảm bảo an toàn lao động, vệ
sinh dịch tễ thì có thể áp dụng các biện pháp xử phạt và truy tố trước pháp luật. Tổ chứ
c bảo hiểm xã hội còn hỗ trợ các đơn vị sử dụng lao động thực hiện các biện pháp an t
oàn lao động, vệ sinh công nghiệp, xây dựng các trại điều dưỡng nghỉ ngơi để cải thiện,
nâng cao sức khỏe cho người lao động.
Về phía Nhà nước, đảm bảo ổn định phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống
nhân dân là nhiệm vụ của bất cứ Nhà nước nào, vì vậy, việc hình thành và phát triển cá
c hình thức bảo hiểm là những giải pháp tích cực giúp cho Nhà nước giảm được nguồn
kinh phí dành để đầu tư cho các mục tiêu khác, đồng thời vẫn đảm bảo được mục tiêu
về phát triển kinh tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân.
- Bảo hiểm góp phần cung ứng vốn cho phát triển kinh tế - xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường, bảo hiểm không chỉ là tấm lá chắn kinh tế cho quá
trình sản xuất kinh doanh và đời sống của con người trước những rủi ro, mà nó còn ho
ạt động với tư cách là các tổ chức tài chính trung gian để đầu tư phát triển kinh tế - xã
hội. Các tổ chức bảo hiểm thường sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi hình thành
từ thu phí bảo hiểm của mình để đầu tư, chính vì vậy mà các tổ chức bảo hiểm được co
i là một định chế tài chính trung gian, bên cạnh các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, ...
Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế cũng góp phần tạo ra một nguồn vốn quan trọ
ng thông qua việc thu phí bảo hiểm từ người lao động và người sử dụng lao động. Khi
chưa sử dụng đến, phần quỹ này sẽ được đầu tư trên thị trường tài chính, nhằm bảo toà
n và phát triển quỹ. Quỹ bảo hiểm xã hội còn là một nguồn tiết kiệm quan trọng, tiết ki
ệm từ bảo hiểm xã hội là chênh lệch giữa thu và chỉ bảo hiểm xã hội, góp phần quan tr
ọng vào tiết kiệm của mỗi quốc gia.
1.2. BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.2.1. Khái niệm và nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã hội a. Khái niệm 6
Bảo hiểm xã hội là hình thức bảo hiểm do tổ chức bảo hiểm xã hội tiến hành dự
a trên cơ sở huy động sự đóng góp của các chủ thể liên quan để tạo lập quỹ bảo hiểm x
ã hội, phân phối và sử dụng chúng để bù đắp một phần thu nhập cho người lao động và
gia đình họ khi gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động.
b. Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã hội
Hoạt động của bảo hiểm xã hội không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì quyền lợi, lợ
i ích của người lao động và sự an toàn chung của cả cộng đồng. Để đảm bảo mục tiêu
này và có sự công bằng trong xã hội, hoạt động của BHXH được thực hiện theo nguyê
n tắc vì quyền lợi của người lao động và của cả cộng đồng và Quỹ bảo hiểm xã hội phả
i là một quỹ tiền tệ độc lập, trong quá trình hoạt động tổ chức bảo hiểm xã hội phải có
trách nhiệm bảo đảm sự cân đối thu chi, bảo toàn và phát triển quỹ.
Việc hình thành và sử dụng quỹ phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm
xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.
- Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của ng
ười lao động. mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập
do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối th iểu chung.
- Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đón
g bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ chí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời g
ian đã đóng bảo hiểm xã hội
1.2.2. Nội dung hoạt động của Bảo hiểm xã hội
a. Đối tượng và các chế độ bảo hiểm xã hội
* Đối tượng BHXH
Là thu nhập của những người làm công ăn lương trong toàn xã hội. Tuy nhiên,
phạm vi đối tượng bảo hiểm xã hội tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế- xã của mỗi quố
c gia. Giới hạn mức lương được bảo hiểm tối thiểu là mức lương tối thiểu ở quốc gia, c
òn mức lương tối đa là mức lương trung bình của quốc gia đó.
* Các chế độ bảo hiểm xã hội
Theo công ước số 102 của tổ chức lao động thế giới, có 9 chế độ bảo hiểm xã h ội bao gồm: 1. Chăm sóc y tế 2. Phụ cấp ốm đau 3. Trợ cấp thất nghiệp 4. Trợ cấp tuổi già
5. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp 6. Trợ cấp gia đình 7 7. Trợ cấp sinh đẻ 8. Trợ cấp khi tàn phế
9. Trợ cấp mất người nuôi dưỡng
b. Cơ chế hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội
* Nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ sự đóng góp của các bên: người sử dụ
ng lao động, người lao động và các nguồn tài trợ khác (ngân sách nhà nước hỗ trợ, các
tổ chức, cá nhân ủng hộ…), trong đó, chủ yếu từ người sử dụng lao động và người lao động.
Người sử dụng lao động: có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội cho người lao đ
ộng theo quy định của pháp luật. Việc này giúp họ tránh thiệt hại kinh tế lớn khi người
lao động gặp rủi ro như ốm đau hoặc nghỉ hưu, vì BHXH sẽ chi trả trợ cấp thay thế.
Người lao động: đóng góp một phần thu nhập của mình để đối phó với những k
hó khăn về kinh tế do những rủi ro trong cuộc sống gây nên.
Ngoài nguồn thu cơ bản nêu trên, quỹ bảo hiểm xã hội còn có các nguồn thu kh
ác: Ngân sách Nhà nước hỗ trợ, tiền sinh lời từ các phương án bảo toàn và phát triển Q
uỹ bảo hiểm xã hội, tiền phạt do đóng BHXH chậm.
* Sử dụng quỹ BHXH
Quỹ bảo hiểm xã hội thực hiện chi trả các khoản trợ cấp và chi phí cho người th
am gia bảo hiểm xã hội trong những trường hợp sau:
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội gặp phải các biến cố đã quy định trong chế
độ bảo hiểm xã hội. Đối với các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệ
nh nghề nghiệp: quỹ bảo hiểm xã hội hoạt động theo nguyên tắc tương trợ cộng đồng c
ác thành viên tham gia bảo hiểm xã hội. Đối với chế độ hưu trí: nguyên tắc hoạt động c
ủa Bảo hiểm xã hội là hưởng theo mức đóng góp, đóng góp càng nhiều với thời gian c
àng dài thì mức hưởng trợ cấp càng cao. Trợ cấp hưu trí thực chất được coi như một k
hoản hoàn trả thu nhập mà người tham gia bảo hiểm đã đóng góp.
Ngoài ra quỹ bảo hiểm xã hội còn được sử dụng để chi khác như: chi quản lý ho
ạt động, nộp bảo hiểm y tế theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội, chi hoa hồng đại lý
trả lệ phí thu, chi Bảo hiểm xã hội, chi thực hiện các phương án bảo toàn và phát triển
quỹ bảo hiểm xã hội và các khoản chi khác.
1.2.3. Hoạt động của Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
a. Đối tượng tham gia của BHXH
- Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, gồm:
+ Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên
và hợp đồng lao động không xác định thời hạn; 8
+ Cán bộ công chức, viên chức theo pháp lệnh công chức viên chức
+ Công nhân quốc phòng, công nhân công An;
+ Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp Quân đội nhân dân; sĩ quan, Hạ sĩ quan nghiệp
vụ, Sĩ quan, Hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ
yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, Công an nhân dân;
+ Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phụ c vụ có thời hạn;
+ Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH bắt buộc.
- Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao đ
ộng, không thuộc Đối tượng tham gia bảo hiểm bắt buộc: những người làm nghề tự do
( người buôn bán nhỏ, Nông dân…), những công việc theo mùa vụ hoặc công việc có
tính chất tạm thời khác.
- Người tham gia bảo hiểm thất nghiệp: công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng l
ao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ 1
2- 36 tháng với người sử dụng lao động
b. Các chế độ bảo hiểm xã hội
- Bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm các chế độ: ốm đau; thai sản; tai nạn lao động; bệ
nh nghề nghiệp; hưu trí; tử tuất.
- Bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm các chế độ sau: hưu trí, tử tuất.
- Bảo hiểm thất nghiệp bao gồm các chế độ sau: trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ học nghề; h ỗ trợ tìm việc làm.
c. Quản lý Quỹ bảo hiểm xã hội
* Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc
- Nguồn hình thành quỹ:
1. Từ người lao động: hàng tháng, người lao động đóng 5% mức tiền lương, tiề
n công vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ 2 năm một lần đóng th
êm một phần trăm cho đến khi đạt mức 8%.
2. Từ người sử dụng lao động: hàng tháng, người sử dụng lao động đóng trên q
uỹ tiền lương, tiền công:
3% vào quỹ ốm đau và thai sản
1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
11% vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ 2 năm một lần đóng
thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14% 3.Các nguồn thu khác:
Ngân sách nhà nước hỗ trợ đảm bảo thực hiện các chế độ đối với người lao động. 9
Tiền lãi thu được từ việc thực hiện các phương án bảo toàn và phát triển Quỹ bảo hiểm xã hội
Thu từ các nguồn tài trợ, viện trợ của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước…
- Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc được sử dụng cho các mục đích sau:
1. Trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định.
2. Đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng lương hưu hoặc nghỉ việc hưởng t
rợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng. 3. Chi phí quản lý.
4. Chỉ khen thưởng theo quy định
5. Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định
* Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện
- Nguồn hình thành quỹ:
1. Người lao động đóng, mức đóng hằng tháng bằng 16% mức thu nhập người l
ao động lựa chọn đóng bảo hiểm xã hội; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần
đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22% Người lao động có thể lựa chọ
n đóng bảo hiểm xã hội theo tháng, theo quý hoặc theo sáu tháng.
2. Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.
3. Hỗ trợ của Nhà nước.
4. Các nguồn thu hợp pháp khác.
- Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện cho các mục đích sau:
1. Trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định.
2. Đóng bảo hiểm y tế cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đang hưở ng lương hưu. 3. Chi phí quản lý.
4. Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định.
* Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
- Nguồn hình thành quỹ
1. Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thấ t nghiệp.
2. Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng
bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
3. Hằng tháng, nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công
tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm t
hất nghiệp và mỗi năm chuyển một lần.
4. Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.
5. Các nguồn thu hợp pháp khác. 10
- Sử dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp cho các mục đích sau:
1. Trả trợ cấp thất nghiệp. 2. Hỗ trợ học nghề.
3. Hỗ trợ tìm việc làm.
4. Đóng bảo hiểm y tế cho người hưởng trợ cấp thất nghiệp. 5. Chi phí quản lý.
6. Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định.
* Hoạt động đầu tư của Bảo hiểm xã hội
- Nguyên tắc đầu tư: Phải đảm bảo an toàn, hiệu quả và thu hồi được khi cần thiết.
- Các hình thức đầu tư:
1. Mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của nhà nước, của ngân hàng thương mại của Nhà nước
2. Cho ngân hàng thương mại của Nhà nước vay
3. Đầu tư vào các công trình kinh tế trọng điểm quốc gia.
4. Các hình thức đầu tư khác do Chính phủ quy định. 11
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 2020 – 2022
2.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BHXH VIỆT NAM
Bảo hiểm xã hội (BHXH) ở Việt Nam là một hệ thống chính sách an sinh xã h
ội quan trọng, đảm bảo quyền lợi cho người lao động và gia đình khi gặp các rủi ro nh
ư ốm đau, tai nạn lao động, thất nghiệp, hưu trí, và tử tuất. Quá trình hình thành và phá
t triển của BHXH ở Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn, gắn liền với sự phát triển kinh t
ế - xã hội và chính trị của đất nước.
1. Giai đoạn trước năm 1945:
- Trước năm 1945 ở Việt Nam chưa có pháp luật bảo hiểm xã hội. Bởi vì đất nước bị t
hực dân Pháp đô hộ. Đời sống của nhân dân vô cùng cực khổ, nghèo đói.
- Tuy nhiên nhân dân Việt Nam có truyền thống cưu mang, giúp đỡ lẫn nhau những kh
i gặp rủi ro hoạn nạn. Đặc biệt là sự che chở của họ hàng làng xã thân tộc. Cũng có mộ
t số nhà thờ tổ chức nuôi trẻ mồ côi, thực hiện tế bần (BHXH sơ khai).
2. Giai đoạn từ năm 1945 đến 1954:
- Tháng 8 năm 1945 Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Tháng 12 năm 1946
Quốc hội đã thông qua Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước dân chủ nhân dân. Trong Hiế
n pháp có xác định quyền được trợ cấp của người tàn tật và người già.
- Ngày 12 tháng 3 năm 1947 Chủ tịch nước Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 29/SL quy đị
nh chế độ trợ cấp cho công nhân.
- Ngày 20 tháng 5 năm 1950 Hồ Chủ Tịch ký 2 sắc lệnh là 76, 77 quy định thực hiện c
ác chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí cho cán bộ, công nhân viên chức.
Đặc điểm của chính sách pháp luật bảo hiểm xã hội ở thời kỳ này là do trong ho
àn cảnh kháng chiến gian khổ nên việc thực hiện bảo hiểm xã hội rất hạn chế. Tuy nhiê
n, đây là thời kỳ đánh dấu sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước về chính sách bả
o hiểm xã hội. Đồng thời những quy định về bảo hiểm xã hội của Nhà nước ở thời kỳ n
ày là cơ sở cho sự phát triển bảo hiểm xã hội sau này.
3. Giai đoạn từ năm 1954 đến 1975:
Miền Bắc được giải phóng, xây dựng chủ nghĩa xã hội nên pháp luật về BHXH
được phát triển mở rộng nhanh. Điều lệ BHXH ban hành ngày 27/12/1961 có thể coi l
à văn bản gốc về BHXH quy định đối tượng là CNVC Nhà nước, hệ thống 6 chế độ B
HXH, quỹ BHXH nằm trong ngân sách nhà nước do các cơ quan đơn vị đóng góp. Nă
m 1964, Điều lệ đãi ngộ quân nhân. Riêng miền Nam, BHXH cũng thực hiện đối với c
ông chức, quân đội làm việc cho chính thể Ngụy.
4. Giai đoạn từ năm 1975 đến 1995:
BHXH được thực hiện thống nhất trong cả nước. Có nhiều lần được sửa đổi, bổ
sung cho phù hợp với nền kinh tế xã hội. Tuy nhiên sau khi Nhà nước chuyển đổi nền 12
kinh tế từ tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XH
CN thì chính sách BHXH bộc lộ những nội dung cần sửa đổi bổ sung. Bộ máy tổ chức BHXH:
Việc tổ chức thực hiện BHXH cho cán bộ, công nhân, viên chức, lực lượng vũ t
rang vẫn thực hiện phân tán. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm thu BHXH của CBCC và l
ực lượng vũ trang; cơ quan Thuế tổ chức thu BHXH của người lao động trong các cơ s
ở kinh tế quốc doanh; Bộ LĐ-TB&XH quản lý 2 chế độ hưu trí và tử tuất; Tổng Liên đ
oàn Lao động Việt Nam quản lý các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động-bệnh ng
hề nghiệp… Tiếp đó, tại 5 địa phương thực hiện thí điểm BHXH ngoài quốc doanh, cá
c Công ty BHXH được thành lập.
5. Sự hình thành và phát triển tổ chức bộ máy ngành BHXH từ năm 1995 đế n nay
* Giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2002
Về bộ máy tổ chức BHXH:
Sau 50 năm tổ chức thực hiện chính sách BHXH theo mô hình phân tán, ngày 1
6/2/1995, Chính phủ ban hành Nghị định 19-CP về việc thành lập BHXH Việt Nam trê
n cơ sở hợp nhất các tổ chức thực hiện BHXH ở Trung ương và địa phương thuộc hệ t
hống LĐ-TB&XH và Tổng LĐLĐ Việt Nam để giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo cô
ng tác quản lý Quỹ BHXH và thực hiện các chế độ, chính sách BHXH theo pháp luật c
ủa Nhà nước. Nghị định này cũng quy định việc thành lập Hội đồng quản lý BHXH Vi
ệt Nam gồm: đại diện có thẩm quyền của Bộ LĐ-TB&XH, Bộ Tài chính, Tổng LĐLĐ
Việt Nam và Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam.
Ngày 26/9/1995, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 606/TTg ban hành qu
y chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam. Theo Quyết định này, Hội đồng quả
n lý BHXH Việt Nam là cơ quan quản lý cao nhất của BHXH Việt Nam; BHXH Việt
Nam được tổ chức thành hệ thống 3 cấp: Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện. Tại cơ qu
an BHXH Việt Nam có 8 tổ chức giúp việc Tổng Giám đốc, gồm: Ban Quản lý chế độ
chính sách BHXH; Ban Quản lý thu BHXH; Ban Quản lý chi BHXH; Ban Kiểm tra- P
háp chế; Ban Kế hoạch- Tài chính; Ban Tổ chức- Cán bộ; Văn phòng và Trung tâm Th ông tin- Khoa học.
* Giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2006
Thực hiện tiến trình cải cách bộ máy của Chính phủ trong tình hình mới, ngày 2
4/1/2002, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg chuyển BHYT
Việt Nam sang BHXH Việt Nam. Từ năm 2003, ngoài việc đảm bảo các chế độ BHX
H cho người lao động, BHXH Việt Nam đã tiếp nhận thêm tổ chức, nhiệm vụ thực hiệ
n chế độ BHYT cho các đối tượng tham gia BHYT; quản lý thu- chi Quỹ BHYT. 13
* Giai đoạn từ năm 2007 đến nay
Thực hiện Luật BHXH năm 2006, ngày 22/8/2008, Chính phủ ban hành Nghị đị
nh số 94/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
BHXH Việt Nam. Theo quy định tại Nghị định này, “BHXH Việt Nam là cơ quan thu
ộc Chính phủ, có chức năng tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm bắt buộc, B
HXH tự nguyện, BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện; tổ chức thu, chi chế độ BH thất n
ghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ: BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, BH thất nghiệ
p, BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện theo quy định của pháp luật”.
Để giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo và giám sát việc thực hiện ch
ế độ, chính sách và thu, chi, quản lý, sử dụng các quỹ BHXH, BHYT, Chính phủ thành
lập Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam gồm đại diện lãnh đạo Bộ LĐ-TB&XH, Bộ Y t
ế, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Tổng LĐLĐ Việt Nam, Phòng TM&CN Việt Nam, Liên
minh HTX Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Tổng Giám đốc Bảo hiểm Xã hội Việt
Nam và thành viên khác do Chính phủ quy định tùy vào từng thời điểm. Hội đồng quả
n lý có Chủ tịch, Phó Chủ tịch thường trực và các thành viên do Thủ tướng Chính phủ
bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ; nhiệm kỳ 5 n ăm.
Cũng theo Nghị định số 94/2008/NĐ-CP, cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam
ở Trung ương gồm có 18 đơn vị trực thuộc, gồm: Ban Thực hiện chính sách BHXH;
Ban Thực hiện chính sách BHYT; Ban Thu; Ban Chi; Ban Cấp sổ, thẻ; Ban Tuyên tru
yền; Ban Hợp tác quốc tế; Ban Kiểm tra; Ban Thi đua- Khen thưởng; Ban Kế hoạch-
Tài chính; Ban Tổ chức cán bộ; Văn phòng; Viện Khoa học BHXH; Trung tâm Thông
tin; Trung tâm Lưu trữ; Trường Đào tạo nghiệp vụ BHXH; Báo BHXH và Tạp chí BH XH.
Thực hiện Nghị định số 116/2011/NĐ-CP ngày 14/12/2011 của Chính phủ về vi
ệc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 94/2008, từ ngày 5/2/2012, cơ cấu tổ ch
ức của BHXH Việt Nam ở Trung ương bao gồm 22 tổ chức thay vì 18 tổ chức như trư
ớc đó, trong đó có 4 tổ chức được thành lập mới là: Ban Pháp chế, Ban Đầu tư quỹ, Ba
n Dược và Vật tư y tế và Trung tâm Giám định BHYT và Thanh toán đa tuyến.
Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ của BHXH Việt Nam, để tổ chức thực hiện tốt Lu
ật BHXH, Luật BHYT, ngày 17/1/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 05/2014/N
Đ-CP thay thế Nghị định 94/2008/NĐ-CP và Nghị định 116/2011/NĐ-CP. Theo đó, tổ
chức BHXH Việt Nam ở Trung ương tăng từ 22 lên 24 tổ chức giúp việc và đơn vị sự nghiệp.
Thực hiện Luật Việc làm ngày 16 tháng 11 năm 2013, Luật Bảo hiểm y tế ngày
14 tháng 11 năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế ng
ày 13 tháng 6 năm 2014, Luật Bảo hiểm xã hội ngày 20 tháng 11 năm 2014; Ngày 05/ 14
1/2016, Chính phủ ban hành Nghị định 01/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam.
Theo đó, BHXH Việt Nam có chức năng, nhiệm vụ:
- Tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT; tổ chức thu, chi chế độ BH
thất nghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ: BHXH, BHYT, BH thất nghiệp; thanh tra chu
yên ngành việc đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp theo quy định của pháp luật.
- BHXH Việt Nam chịu sự quản lý nhà nước của Bộ LĐTBXH về BHXH, BH thất ng
hiệp; của Bộ Y tế về BHYT; của Bộ Tài chính về chế độ tài chính đối với các quỹ BH XH, BHYT, BH thất nghiệp.
- BHXH Việt Nam có nhiệm vụ tổ chức thu các khoản đóng BHXH, BHYT của các cơ
quan, đơn vị, tổ chức, người SDLĐ và cá nhân theo quy định của pháp luật. Tiếp nhận
các khoản kinh phí từ ngân sách nhà nước chuyển sang để chi các chế độ BHXH, BHY
T theo quy định của pháp luật; tiếp nhận hồ sơ, giải quyết các chế độ ốm đau, thai sản;
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hưu trí; tử tuất; dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau
ốm đau, thai sản và sau khi điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; khám, chữa bệ
nh theo quy định của pháp luật.
- Bên cạnh đó, tổ chức chi trả lương hưu; trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; t
rợ cấp ốm đau; trợ cấp thai sản; trợ cấp mất sức lao động; trợ cấp dưỡng sức phục hồi s
ức khỏe sau ốm đau, thai sản và sau khi điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; tr
ợ cấp tử tuất; chi phí khám, chữa bệnh đầy đủ, thuận tiện, đúng thời hạn; tổ chức thu B
H thất nghiệp của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, người SDLĐ và NLĐ; tổ chức chi trợ c
ấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc làm, đóng BHYT cho người được hưở
ng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật.
- Đồng thời, quản lý và sử dụng các quỹ BHXH, BH thất nghiệp, BHYT bao gồm: Qu
ỹ hưu trí và tử tuất; quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; quỹ ốm đau và thai sản; q
uỹ BH thất nghiệp; quỹ BHYT theo nguyên tắc tập trung thống nhất, công khai, minh
bạch, đúng mục đích theo quy định của pháp luật; tổ chức hạch toán các quỹ BHXH, B
H thất nghiệp, BHYT theo quy định của pháp luật...
Cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam ở trung ương gồm 24 đơn vị: Vụ Tài chín
h- Kế toán, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Thanh tra- Kiểm tra, Vụ Thi đua- Khen thưởng, V
ụ Kế hoạch và Đầu tư, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Pháp chế, Vụ Quản lý đầu tư quỹ, Vụ
Kiểm toán nội bộ, Ban Thực hiện chính sách BHXH, Ban Thực hiện chính sách BHYT
Ban Thu, Ban Sổ- Thẻ, Ban Dược và Vật tư y tế, Văn phòng (có đại diện tại TP.Hồ C
hí Minh), Viện Khoa học BHXH, Trung tâm Truyền thông, Trung tâm Công nghệ thôn
g tin, Trung tâm Lưu trữ, Trung tâm Giám định BHYT và Thanh toán đa tuyến khu vự
c phía Bắc, Trung tâm Giám định BHYT và Thanh toán đa tuyến khu vực phía Nam, T
rường Đào tạo nghiệp vụ BHXH, Báo BHXH, Tạp chí BHXH. 15