



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING ----------
BÀI THẢO LUẬN
Học phần: Nhập môn tài chính tiền tệ
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra
Giáo viên hướng dẫn:
PGS, TS. Lê Thị Kim Nhung
Nhóm thực hiện: 08
Lớp học phần: 242_EFIN2811_01
HÀ NỘI – 2025
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ BẢO HIỂM VÀ BẢO HIỂM
XÃ HỘI . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1. Bảo hiểm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.1. Khái niệm và các hình thức bảo hiểm ở Việt Nam . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.2. Đặc điểm, vai trò của bảo hiểm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.2. Bảo hiểm xã hội . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
1.2.1. Khái niệm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
1.2.2. Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã hội. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
1.2.3. Đối tượng và các chế độ bảo hiểm xã hội . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
1.2.4. Nguồn hình thành và mục đích sử dụng của các quỹ BHXH bắt buộc và
BHXH tự nguyện . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA BHXH VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2021-2023 VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
2.1. Thực trạng hoạt động của BHXH Việt Năm giai đoạn 2021-2023 . . . . 15
2.1.1. Giới thiệu BHXH ở Việt Nam . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .15
2.1.2. Các quy định (đối tượng tham gia, mức đóng đối với tự nguyện và bắt
buộc, các chế độ). . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .17
2.1.3. Kết quả hoạt động của BHXH . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .22
2.1.4. Quản lý và tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội . . . . . . . . . . . . . . . . . . .25
2.1.5. Hoạt động chuyển đổi sổ của BHXH ở VN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .27
2.2. Một số vấn đề đặt ra đối với công tác bảo hiểm xã hội hiện nay . . . . . .31
2.2.1. Các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 31
2.2.2. Vấn đề chi trả lương hưu, chi trả BHYT, chi trả BHTN hiện nay . . . . 32
2.2.3. Nguy cơ thâm hụt của Quỹ BHXH VN đến năm 2040, đảm bảo an toàn
của Quỹ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .35
2.2.3.1 Nguy cơ thâm hụt của Quỹ BHXH Việt Nam đến năm 2040 . . . . . .35 2
2.2.3.2 Vấn đề bảo tồn và tăng trưởng Quỹ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .37
2.2.4. Hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH chưa theo kịp tình hình thực
tiễn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 38
2.3. Đề xuất giải pháp . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 40
KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .44
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 45 3 LỜI MỞ ĐẦU
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những chính sách quan trọng trong hệ
thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia, đặc biệt là ở Việt Nam, nơi mà quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra mạnh mẽ. BHXH không chỉ góp phần
bảo vệ quyền lợi của người lao động mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc ổn
định xã hội và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh thực tế hiện nay, hệ
thống bảo hiểm xã hội ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, từ
vấn đề thiếu hụt nguồn tài chính, sự chênh lệch về quyền lợi giữa các nhóm đối
tượng, đến tình trạng tham gia BHXH tự nguyện còn thấp. Chính vì vậy, việc đánh
giá đúng thực trạng và các vấn đề đặt ra trong chính sách bảo hiểm xã hội là rất cần
thiết để cải cách và nâng cao hiệu quả của hệ thống này, nhằm phục vụ tốt hơn nhu
cầu của người dân và đảm bảo tính bền vững lâu dài của hệ thống an sinh xã hội.
Bài tiểu luận này sẽ phân tích các vấn đề nổi bật liên quan đến bảo hiểm xã hội ở
Việt Nam và đưa ra những gợi ý cải tiến cho tương lai. 4
CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ BẢO HIỂM VÀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1. Bảo hiểm
1.1.1. Khái niệm và các hình thức bảo hiểm ở Việt Nam
Khái niệm
Bảo hiểm là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh trong
quá trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm nhằm đảm bảo cho quá
trình tái sản xuất và đời sống của con người trong xã hội được ổn định và phát triển
bình thường trong điều kiện có những biến cố bất lợi xảy ra.
Các hình thức bảo hiểm ở Việt Nam
- Căn cứ vào phương thức xử lý rủi ro:
Tự bảo hiểm: Là hình thức bảo hiểm mà các tổ chức, cá nhân thành lập các
quỹ riêng để bù đắp các tổn thất có thể xảy ra đối với quá trình sản xuất và đời sống của mình.
Bảo hiểm thông qua các tổ chức bảo hiểm: Là hình thức bảo hiểm mà người
tham gia bảo hiểm sẽ chuyển giao, phân tán rủi ro cho các tổ chức bảo hiểm mà
bản thân họ không muốn hoặc không đủ khả năng để gánh chịu rủi ro đó thông qua
việc trích nộp một phần thu nhập của mình cho các tổ chức bảo hiểm dưới dạng phí bảo hiểm.
- Căn cứ vào mục đích hoạt động:
Bảo hiểm có mục đích kinh doanh: Là hình thức bảo hiểm do các chủ thể tiến
hành nhằm mục tiêu lợi nhuận. Chính vì mục đích hoạt động của loại hình bảo
hiểm này mà nó có các tên gọi khác nhau như: bảo hiểm kinh doanh, bảo
hiểm thương mại hay bảo hiểm rủi ro.
Bảo hiểm không vì mục đích kinh doanh: Là hình thức bảo hiểm do các chủ
thể tiến hành không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Mục đích chủ yếu của loại hình bảo 5
hiểm này là nhằm tương hỗ giữa các thành viên tham gia. Với tư cách là tổ chức
quản lý quỹ xã hội, quỹ tài chính tập trung, bảo hiểm xã hội hoạt động không vì
mục tiêu lợi nhuận, mà phục vụ cho chính sách xã hội, vì mục đích và quyền lợi
của người lao động có tham gia bảo hiểm xã hội.
1.1.2. Đặc điểm, vai trò của bảo hiểm Đặc điểm
- Bảo hiểm là một hình thức dự trữ tài chính nhằm bù đắp và khắc phục những
tổn thất thiệt hại đối với sản xuất kinh doanh và đời sống con người khi những biến cố bất lợi xảy ra.
Quỹ bảo hiểm được tạo lập thông qua quá trình phân phối của cải xã hội dưới
hình thái giá trị, việc tạo lập quỹ có thể dưới nhiều hình thức khác nhau như bắt
buộc hay tự nguyện, tự bảo hiểm hay bảo hiểm thông qua một tổ chức bảo hiểm. .
nhưng tất cả đều xuất phát từ nhu cầu cần được đảm bảo an toàn trong quá trình
sản xuất kinh doanh và đời sống của con người trước những tác động của rủi ro.
Việc phân phối sử dụng quỹ bảo hiểm phải đảm bảo chi trả, bồi thường tổn thất
thiệt hại khi có những biến cố bất lợi xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, bảo hiểm đã trở thành một loại
hình dịch vụ tài chính đặc biệt. Sản phẩm bảo hiểm là sự đảm bảo về mặt tài chính
trước rủi ro cho người được bảo hiểm. Để bảo vệ mình, người tham gia bảo hiểm
nộp phí cho người bảo hiểm để đổi lấy lời hứa hay cam kết của người bảo hiểm là
sẽ trả tiền bảo hiểm khi rủi ro xảy ra. Trong hoạt động bảo hiểm, các tổ chức bảo
hiểm nhận phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm đóng góp và sau đó mới
thực hiện nghĩa vụ với bên được bảo hiểm khi sự cố bảo hiểm xảy ra. Như vậy, với
dịch vụ này sản phẩm được bán ra trước, sau đó mới phát sinh chi phí bồi thường chi trả bảo hiểm.
- Bảo hiểm vừa mang tính chất bồi hoàn vừa mang tính chất không bồi hoàn. 6
Trong thời gian được bảo hiểm, nếu rủi ro không xảy ra hoặc có xảy ra nhưng
không gây thiệt hại ảnh hưởng đến đối tượng bảo hiểm thì người bảo hiểm không
phải bồi thường hay trả tiền cho bên mua bảo hiểm và ngược lại. Như vậy, quan hệ
giữa tổ chức bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm trên thị trường vừa mang tính
chất bồi hoàn, vừa mang tính chất không bồi hoàn.
Đặc điểm này đã tạo ra tính nhàn rỗi của quỹ bảo hiểm, nguồn tài chính này
thường được các công ty bảo hiểm sử dụng để đầu tư nhằm bảo toàn và phát triển quỹ bảo hiểm.
Tính bồi hoàn của bảo hiểm có tính chất bất ngờ cả về không gian, thời gian
và quy mô. Chính vì vậy, trong quá trình hoạt động, các tổ chức bảo hiểm phải xây
dựng các quỹ dự phòng để đảm bảo trong mọi tình huống đều có thể thực hiện
được các cam kết của mình trước những người tham gia bảo hiểm khi các sự cố bảo hiểm xảy ra. Vai trò
- Bảo hiểm góp phần ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống con người
Bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tài chính khi xảy ra rủi ro.
Trong bảo hiểm kinh doanh, các tổ chức bảo hiểm chi trả bồi thường giúp doanh
nghiệp khôi phục cơ sở vật chất, mua lại máy móc thiết bị để tiếp tục hoạt động.
Trong bảo hiểm xã hội, các khoản trợ cấp giúp người lao động vượt qua khó khăn
khi ốm đau, tai nạn, mất việc làm, đồng thời giảm bớt gánh nặng tài chính cho
doanh nghiệp. Nếu người lao động qua đời, thân nhân sẽ nhận được hỗ trợ. Khi
nghỉ hưu, họ được chi trả lương hưu và hỗ trợ y tế. Nhờ quỹ bảo hiểm, người tham
gia có thể nhanh chóng khắc phục tổn thất, ổn định đời sống và tiếp tục học tập, lao
động. Như vậy, bảo hiểm góp phần ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội.
- Bảo hiểm góp phần phòng tránh, hạn chế rủi ro tổn thất 7
Tổ chức bảo hiểm áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro nhằm giảm chi
phí bồi thường và đảm bảo an toàn kinh tế - xã hội. Họ theo dõi, thống kê tai nạn,
xác định nguyên nhân và phối hợp với các cơ quan liên quan để đề xuất, hỗ trợ tài
chính cho các biện pháp phòng tránh hiệu quả. Người tham gia bảo hiểm không chỉ
đóng phí mà còn phải thực hiện trách nhiệm hạn chế tổn thất, thông báo kịp thời
rủi ro, nếu không có thể bị giảm hoặc từ chối bồi thường. Trong bảo hiểm xã hội
và y tế, các tổ chức quản lý thường xuyên kiểm tra an toàn lao động, áp dụng chế
tài với vi phạm và hỗ trợ cải thiện điều kiện làm việc. Về phía Nhà nước, bảo hiểm
giúp ổn định kinh tế, đời sống nhân dân, giảm gánh nặng tài chính và tạo điều kiện
đầu tư vào các mục tiêu khác.
- Bảo hiểm góp phần cung ứng vốn cho phát triển kinh tế -xã hội
Trong nền kinh tế thị trường, bảo hiểm không chỉ là tấm lá chắn kinh tế cho
quá trình sản xuất kinh doanh và đời sống của con người trước những rủi ro, mà nó
còn hoạt động với tư cách là các tổ chức tài chính trung gian để đầu tư phát triển
kinh tế - xã hội. Các tổ chức bảo hiểm thường sử dụng các nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi hình thành từ thu phí bảo hiểm của mình để đầu tư, chính vì vậy mà các tổ
chức bảo hiểm được coi là một định chế tài chính trung gian, bên cạnh các ngân
hàng thương mại, các công ty tài chính,. .
Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế cũng góp phần tạo ra một nguồn vốn quan
trọng thông qua việc thu phí bảo hiểm từ người lao động và người sử dụng lao
động. Khi chưa sử dụng đến, phần quỹ này sẽ được đầu tư trên thị trường tài chính,
nhằm bảo toàn và phát triển quỹ. Quỹ bảo hiểm xã hội còn là một nguồn tiết kiệm
quan trọng, tiết kiệm từ bảo hiểm xã hội là chênh lệch giữa thu và chi bảo hiểm xã
hội, góp phần quan trọng vào tiết kiệm của mỗi quốc gia 8
1.2. Bảo hiểm xã hội
1.2.1. Khái niệm
Bảo hiểm xã hội là hình thức bảo hiểm do tổ chức bảo hiểm xã hội tiến hành
dựa trên cơ sở huy động sự đóng góp của các chủ thể liên quan để tạo lập quỹ
BHXH, phân phối và sử dụng chúng để bù đắp một phần thu nhập cho người lao
động và gia đình họ khi gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động.
1.2.2. Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã hội
Để đảm bảo mục tiêu đó và có sự công bằng trong xã hội, hoạt động của
BHXH được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
- Hoạt động của BHXH trước hết phải vì quyền lợi của người lao động và của
cả cộng đồng. Do đó, việc thực hiện các nội dung bảo hiểm xã hội phải đơn
giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người
tham gia bảo hiểm xã hội.
- Quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ độc lập, trong quá trình hoạt động tổ chức
BHXH phải có trách nhiệm đảm bảo sự cân đối thu chi, bảo toàn và phát triển
quỹ. Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh
bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ
thành phần của bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.
Việc hình thành và sử dụng quỹ phải đáp ứng các yêu cầu dưới đây:
- Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng
bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.
- Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công
của người lao động. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ
sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không
thấp hơn mức lương tối thiểu chung. 9
- Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời
gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử
tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.
1.2.3. Đối tượng và các chế độ bảo hiểm xã hội
Đối tượng BHXH là thu nhập của những người làm công ăn lương trong toàn
xã hội. Điều kiện để hưởng BHXH là phải tham gia đóng góp vào quỹ BHXH. Tùy
theo từng quốc gia mà quy định về mức đóng và các chế độ trợ cấp của bảo hiểm
xã hội của mỗi quốc gia sẽ có sự khác nhau.
Theo công ước số 102 của tổ chức lao động thế giới, BHXH bao gồm nhiều
chế độ, căn cứ vào chức năng của BHXH và chỉ quy định những điều kiện tối thiểu
để cho mọi nước có thể áp dụng vào thời điểm thích hợp. Có 9 chế độ hưởng bảo hiểm xã hội bao gồm: 1. Chăm sóc y tế 2. Phụ cấp ốm đau
3. Trợ cấp thất nghiệp 4. Trợ cấp tuổi già
5. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp 6. Trợ cấp gia đình 7. Trợ cấp sinh đẻ 8. Trợ cấp khi tàn phế
9. Trợ cấp mất người nuôi dưỡng
1.2.4. Nguồn hình thành và mục đích sử dụng của các quỹ BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện
Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của các bên: người sử dụng lao
động, người lao động và các nguồn tài trợ khác (ngân sách Nhà nước hỗ trợ, các tổ 10
chức và cá nhân ủng hộ...), trong đó, chủ yếu từ người sử dụng lao động và người lao động.
Người sử dụng lao động đóng góp: Khi sử dụng lao động cho hoạt động của
mình các tổ chức sử dụng lao động phải có trách nhiệm đóng BHXH cho người lao
động theo quy định của pháp luật. Khi người lao động ốm đau hay hết tuổi lao
động được BHXH trợ cấp, chi trả do đó người sử dụng lao động không phải trả
tiền lương. Như vậy người sử dụng lao động đóng góp một phần để bảo hiểm xã
hội cho người lao động sẽ tránh được thiệt hại kinh tế lớn hơn do phải chi một
khoản tiền lớn một lúc khi rủi ro xảy ra đối với người lao động mà mình sử dụng.
Người lao động đóng góp: Người lao động phải có trách nhiệm đóng góp một
phần thu nhập của mình để đối phó với những khó khăn về kinh tế do những rủi ro
trong cuộc sống gây nên.
Ngân sách Nhà nước hỗ trợ: Quỹ BHXH được hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước
là trách nhiệm của Nhà nước vì những lý do sau đây:
Thứ nhất, BHXH là công cụ quan trọng trong tay Nhà nước nhằm thực hiện
chính sách phân phối lại thu nhập trong xã hội, góp phần ổn định xã hội, đảm bảo an toàn xã hội.
Thứ hai, các luật lệ về BHXH của Nhà nước sẽ là những chuẩn mực về pháp
lý mà cả giới chủ và giới thợ phải tuân theo, những tranh chấp chủ thợ trong lĩnh
vực BHXH có cơ sở vững chắc để giải quyết.
Ngoài nguồn thu cơ bản nêu trên, quỹ bảo hiểm xã hội còn có các nguồn thu khác:
- Tiền sinh lời từ các phương án bảo toàn và phát triển quỹ BHXH
- Tiền phạt do đóng BHXH chậm
- Thu từ ủng hộ của các tổ chức và cá nhân. . 11
Mục đích sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội
Chỉ thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội cho những người tham gia bảo hiểm
xã hội theo các chế độ đã quy định trong luật bảo hiểm là nội dung chi chủ yếu của
bảo hiểm xã hội. Quỹ BHXH thực hiện chi trả các khoản trợ cấp và chi phí cho
người tham gia BHXH trong những trường hợp sau:
Đối tượng tham gia BHXH gặp phải các biến cố đã quy định trong chế độ BHXH.
- Đối tượng hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp:
Người lao động tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được
hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:
Bị bệnh nghề nghiệp thuộc Danh mục bệnh nghề nghiệp do Bộ trưởng Bộ
Y tế ban hành theo quy định.
Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị bệnh.
Người lao động khi đã nghỉ hưu hoặc không còn làm việc trong các nghề,
công việc có nguy cơ bị bệnh nghề nghiệp thuộc Danh mục bệnh nghề nghiệp do
Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành theo quy định mà phát hiện bị bệnh nghề nghiệp trong
thời gian quy định thì được giám định để xem xét, giải quyết chế độ theo quy định của Chính phủ.
- Điều kiện hưởng trợ cấp cho những đối tượng này như sau:
Đối với trợ cấp 1 lần:
Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì được
hưởng trợ cấp một lần.
Mức trợ cấp một lần được quy định như sau: Suy giảm 5% khả năng lao động
thì được hưởng năm lần mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được
hưởng thêm 0,5 lần mức lương cơ sở; 12
Ngoài mức trợ cấp này, còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm
đã đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, từ một năm trở
xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng vào quỹ được
tính thêm 0,3 tháng tiền lương đóng vào quỹ của tháng liền kề trước tháng bị tai
nạn lao động hoặc được xác định mắc bệnh nghề nghiệp; trường hợp bị tai nạn lao
động ngay trong tháng đầu tham gia đóng vào quỹ hoặc có thời gian tham gia gián
đoạn sau đó trở lại làm việc thì tiền lương làm căn cứ tính khoản trợ cấp này là tiền
lương của chính tháng đó.
Đối với trợ cấp hằng tháng:
Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hằng tháng.
Mức trợ cấp hằng tháng được quy định như sau: Suy giảm 31% khả năng lao
động thì được hưởng bằng 30% mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì
được hưởng thêm 2% mức lương cơ sở.
Ngoài mức trợ cấp quy định trên này, hằng tháng còn được hưởng thêm một
khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp, từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm
đóng vào quỹ được tính thêm 0,3% mức tiền lương đóng vào quỹ của tháng liền kề
trước tháng bị tai nạn lao động hoặc được xác định mắc bệnh nghề nghiệp; trường
hợp bị tai nạn lao động ngay trong tháng đầu tham gia đóng vào quỹ hoặc có thời
gian tham gia gián đoạn sau đó trở lại làm việc thì tiền lương làm căn cứ tính
khoản trợ cấp này là tiền lương của chính tháng đó.
Đối tượng tham gia BHXH phải đóng BHXH liên tục trong thời gian làm việc.
Tổ chức chi trả các chế độ BHXH trong quá trình làm việc của người lao
động phải thực hiện quản lý chặt chẽ điều kiện hưởng các chế độ BHXH, quản lý
thời gian làm việc và đóng bảo hiểm. 13
Đối với các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp: quỹ BHXH hoạt động theo nguyên tắc tương trợ cộng đồng các thành viên tham gia BHXH.
Ví dụ: Lao động nam và nữ đóng BHXH với tỷ lệ như nhau nhưng chỉ có nữ
khi sinh con mới được hưởng chế độ nghỉ đẻ có hưởng BHXH; hoặc ai cũng đóng
BHXH với tỷ lệ như nhau nhưng chỉ có những người gặp rủi ro như ốm đau, tai
nạn,. . thì mới được hưởng chế độ BHXH.
Đối với chế độ hưu trí: Nguyên tắc hoạt động của BHXH là hưởng theo mức
đóng góp. Đóng góp càng nhiều với thời gian càng dài thì mức hưởng trợ cấp càng
cao. Trợ cấp hưu trí thực chất được coi như một khoản hoàn trả thu nhập mà người
tham gia bảo hiểm đã đóng góp. Điều kiện để một người được nhận trợ cấp hưu trí
là người đó phải có thời gian tham gia BHXH tối thiểu. Tuy nhiên, BHXH các
nước đều quy định mức chi trả đối với người muốn hưởng tiền hưu trí trước tuổi
quy định khi họ giảm hoặc mất khả năng lao động.
Ngoài các khoản chi trợ cấp, chi trả các chế độ BHXH theo quy định, quỹ
BHXH còn được sử dụng để chi khác như: chi quản lý hoạt động, nộp bảo hiểm y
tế theo quy định tại luật BHXH, chi hoa hồng đại lý, trả lệ phí thu, chi BHXH, chi
thực hiện các phương án bảo toàn và phát triển quỹ BHXH và các khoản chi khác. 14
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA BHXH VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2021-2023 VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1. Thực trạng hoạt động của BHXH Việt Năm giai đoạn 2021-2023
2.1.1. Giới thiệu BHXH ở Việt Nam
Khái niệm
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội năm 2024 (Luật số
41/2024/QH15) giải thích mới nhất và cụ thể về khái niệm bảo hiểm xã hội (BHXH):
- Nguyên tắc hoạt động của BHXH là vì quyền lợi của người lao động và cả cộng đồng.
- Thông qua việc đóng góp một phần tiền lương hàng tháng, người tham gia
BHXH cùng đóng góp vào quỹ BHXH.
- Quỹ này được quản lý trên nguyên tắc tập trung, thống nhất, công khai, minh
bạch và được sử dụng cho mục đích chi trả các quyền lợi BHXH cho những
người tham gia khi cần thiết, đảm bảo đúng đối tượng và được hạch toán độc
lập theo quy định tại khoản 4 Điều 5 Luật BHXH 2024.
- Bên cạnh đó, việc thực hiện BHXH theo nguyên tắc đơn giản, dễ dàng, thuận
tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ các quyền lợi của người tham gia, người thụ hưởng chế độ BHXH.
- Cơ quan Bảo hiểm xã hội có chức năng thực hiện chế độ, chính sách BHXH;
quản lý và sử dụng các quỹ BHXH; thanh tra chuyên ngành theo quy định tại
Khoản 1 Điều 16 Luật BHXH 2024.
Các loại hình bảo hiểm xã hội tại Việt Nam
Căn cứ theo quy định tại Điều 4 Luật BHXH 2024, bảo hiểm xã hội có 05 loại hình: 15
- Trợ cấp hưu trí xã hội.
- Bảo hiểm xã hội bắt buộc.
- Bảo hiểm xã hội tự nguyện.
- Bảo hiểm thất nghiệp.
- Bảo hiểm hưu trí bổ sung.
Các loại hình BHXH nhằm đảm bảo quyền lợi, hỗ trợ tài chính và bảo vệ
người tham gia BHXH trong các tình huống khó khăn và rủi ro trong cuộc sống
như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, hoặc tử vong.
Hệ thống tổ chức của bảo hiểm xã hội Việt Nam
Bảo hiểm xã hội Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập
trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương, gồm có:
- Ở Trung ương là Bảo hiểm xã hội Việt Nam. 16
- Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Bảo hiểm xã hội tỉnh) trực thuộc
Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
- Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
là Bảo hiểm xã hội huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Bảo hiểm xã hội huyện) trực thuộc
Bảo hiểm xã hội tỉnh.
Vị trí, chức năng của bảo hiểm xã hội Việt Nam
Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan nhà nước thuộc Chính phủ, có chức
năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tổ
chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ: Bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; thanh tra chuyên ngành việc đóng bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; của Bộ Y tế về
bảo hiểm y tế; của Bộ Tài chính về chế độ tài chính đối với các quỹ bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.
2.1.2. Các quy định (đối tượng tham gia, mức đóng đối với tự nguyện và bắt
buộc, các chế độ)
Đối tượng tham gia
Không phải mọi công dân đều có thể tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) mà
người tham gia phải thuộc nhóm đối tượng tham gia BHXH (bắt buộc và tự
nguyện) theo quy định tại Điều 2 Luật BHXH năm 2024 gồm có 04 nhóm đối tượng chính sau:
Nhóm 1: Người lao động là công dân Việt Nam gồm: 17
(1) Người làm việc theo hợp đồng lao động (HĐLĐ) không xác định thời hạn,
HĐLĐ xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên.
(2) Cán bộ, công chức, viên chức.
(3) Công nhân, viên chức quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác
khác trong tổ chức cơ yếu.
(4) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân (QĐND); sĩ quan,
hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật Công an nhân dân
(CAND); người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân.
(5) Hạ sĩ quan, binh sĩ QĐND; hạ sĩ quan, chiến sĩ CAND phục vụ có thời
hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí.
(6) Dân quân thường trực.
(7) Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
(8) Vợ hoặc chồng không hưởng lương từ ngân sách nhà nước được cử đi
công tác nhiệm kỳ cùng thành viên cơ quan đại diện nhà nước Việt Nam ở nước
ngoài được hưởng chế độ sinh hoạt phí.
(9) Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã (HTX), liên hiệp HTX.
(10) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, ở thôn, tổ dân phố.
(11) Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh.
Nhóm 2: Người lao động (NLĐ) là người nước ngoài làm việc với người sử
dụng lao động tại Việt Nam theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên, trừ
trường hợp NLĐ di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp hoặc đã đủ tuổi nghỉ hưu.
Nhóm 3: Người sử dụng lao động (NSDLĐ) gồm:
(1) Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập.
(2) Cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thuộc QĐND, CAND và tổ chức cơ yếu.
(3) Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác. 18
(4) Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam;
(5) Doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp HTX, hộ kinh doanh, tổ
chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo HĐLĐ.
Nhóm 4: Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện gồm:
(1) Công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc đối tượng tham gia
BHXH bắt buộc và không phải người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hằng tháng.
(2) Người lao động, cán bộ, công chức viên chức đang tạm hoãn thực hiện
HĐLĐ và không tham gia BHXH trong thời gian tạm hoãn.
Hình thức tham gia bảo hiểm xã hội : Hiện nay, người lao động và người sử
dụng lao động có thể tham gia Bảo hiểm xã hội (BHXH) theo 02 hình thức.
Bảo hiểm xã hội bắt buộc
Căn cứ theo Khoản 3 Điều 3 Luật BHXH 2024 quy định:
- Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội (BHXH) do Nhà nước
tổ chức mà người lao động, người sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia
BHXH bắt buộc phải tham gia.
- BHXH bắt buộc được áp dụng cho những đối tượng tham gia lao động thuộc
các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội và các
đơn vị khác. Các đối tượng này bao gồm cả người lao động và người sử dụng
lao động, phải đóng BHXH theo quy định.
- Mức đóng BHXH bắt buộc: được tính trên cơ sở tiền lương làm căn cứ đóng
BHXH bắt buộc và mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng và thời
gian đóng BHXH của người tham gia.
Căn cứ Điều 32 Luật bảo hiểm xã hội 2024 quy định tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm: 19
- 3% tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ ốm đau và thai sản.
- 22% tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ hưu trí và tử tuất.
Tỷ lệ đóng BHXH bắt buộc từ 01/7/2025 là 32%. Trong đó:
- Doanh nghiệp đóng 21,5% bao gồm: 14% cho chế độ hưu trí
3% cho chế độ ốm đau - thai sản
0,5% chế độ tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp
1% bảo hiểm thất nghiệp 3% BHYT
- Người lao động đóng 10,5% bao gồm: 8% vào quỹ hưu trí
1% bảo hiểm thất nghiệp 1,5% BHYT
Bảo hiểm xã hội tự nguyện
Căn cứ theo Khoản 4 Điều 3 Luật BHXH 2024 quy định:
- Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức
mà công dân Việt Nam tự nguyện tham gia và được lựa chọn mức đóng,
phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình.
- BHXH tự nguyện là một hình thức tham gia BHXH dành cho những người
lao động tự do, kinh doanh cá nhân, nông dân hoặc những người không thuộc
diện bắt buộc tham gia BHXH bắt buộc.
Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện:
- Điều 87 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 và khoản 1 Điều 10 Nghị định
134/2015/NĐ-CP, mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện hàng tháng được xác
định dựa trên 22% mức thu nhập tháng do người tham gia lựa chọn 20